Tam quốc diễn nghĩa - Chương 040
HỒI 40
Sái phu nhân bàn hiến Ký Châu;
Gia Cát Lượng hỏa thiêu Tân Dã.
Lại nói Huyền Đức hỏi Khổng Minh kế chống cự quân Tào, Khổng
Minh nói:
- Tân Dã là một huyện nhỏ, không ở lâu được. Mới đây, tôi
nghe Lưu Biểu bị bệnh nguy cấp lắm, chúa công phải nhân dịp này chiếm lấy Kinh
Châu làm căn cứ đã, rồi hãy chống cự Tào Tháo sau.
Huyền Đức nói:
- Kế của tiên sinh hay lắm nhưng tôi đã chịu ơn Cảnh Thăng, không
nỡ làm thế!
Khổng Minh nói:
- Nếu chúa công không lấy bây giờ, sau sẽ hối không kịp.
Huyền Đức nói:
- Thà rằng ta chết thì thôi, chớ không chịu làm điều phi
nghĩa.
Khổng Minh nói:
- Vậy để liệu kế khác.
Lại nói Hạ Hầu Đôn về Hứa Xương, tự trói mình lại, vào lạy Tào
Tháo, xin chịu tội. Tháo tha tội cho Đôn nói:
- Tôi gặp phải quỷ kế của Gia Cát Lượng, y dùng hỏa công, phá
vỡ cả quân mã của ta.
Tháo nói:
- Ngươi dùng binh từ thuở bé, há không biết rằng ở chốn hiểm
phải phòng hỏa công à?
Đôn nói:
- Lý Điển và Vu Cấm đã nhắc bảo, nhưng hối lại thì sự đã rồi.
Tháo lập tức thưởng cho Lý Điển và Vu Cấm.
Đôn nói:
- Lưu Bị hung hăng như thế, thật là cái họa lớn không thể
không trừ ngay đi.
Tháo nói:
- Ta cũng chỉ lo có Lưu Bị và Tôn Quyền mà thôi, còn những
bọn khác có ngại gì. Nay nên nhân dịp này bình định Giang Nam mới được.
Lập tức truyền lệnh huy động năm mươi vạn quân, sai Tào Nhân
và Tào Hồng làm đội thứ nhất; Trương Liêu và Trương Nhân làm đội thứ nhì; Hạ
Hầu Đôn và hạ Hầu Uyên làm đội thứ ba; Vu Cấm và Lý Điển làm đội thứ tư. Tháo
tự lĩnh các tướng làm đội thứ năm. Mỗi đội dẫn mười vạn quân, Hứa Chử làm Chiết
Xung tướng quân, dẫn ba nghìn quân đi tiên phong, lại chọn ngày Bính Ngọ, tháng
bảy, năm thứ 13 đời Kiến An (208) xuất phát.
Thái Trung đại phu là Khổng Dung can rằng:
- Lưu Bị, Lưu Biểu là tôn thân nhà Hán, không nên khinh
thường mà đánh. Tôn Quyền nắm giữ sáu quận, lại được sông Trường Giang hiểm trở,
cũng không dễ lấy được đâu. Nay thừa tướng huy động đạo quân vô đạo ấy, tôi e
trái với nguyện vọng của thiên hạ.
Tháo giận nói:
- Lưu Biểu, Lưu Bị, Tôn Quyền đều là bọn nghịch thần, sao
lại không đánh?
Liền mắng đuổi Khổng Dung ra và hạ lệnh “Ai can nữa thì chém”.
Khổng Dung ra khỏi phủ, ngẩng mặt lên trời than rằng:
- Người chi bất nhân đi đánh người chí nhân, chẳng thua sao
được!
Lúc ấy, người khách nhà quan ngự sử đại phu Khước Lự, nghe
thấy câu đó, liền báo với chủ. Khước Lự vốn đã nhiều lần bị Khổng Dung khinh
miệt, vẫn đương căm tức Dung, vội vàng đem chuyện ấy vào tâu với Tào Tháo, lại
nói thêm vào:
- Khổng Dung ngày thường vẫn khinh thừa tướng, lại chơi thân
với Nễ Hành, Nễ Hành tán dương Khổng Dung là “Trọng Mỗ không mất”; Khổng Dung
lại gọi Nễ Hành là “Nhan Hồi tái sinh”. Lần trước Nễ Hành nói xấu thừa tướng, cũng
là tự Khổng Dung xui đó.
Tào Tháo giận lắm, lập tức sai đình úy đi bắt Khổng Dung. Khổng
Dung có hai con, còn nhỏ tuổi, lúc ấy đương ngồi ở nhà đánh cờ, bỗng có người
nhà cấp báo rằng:
- Có đình uý đến bắt tôn quân sắp sửa đem chém sao hai công
tử không trốn tránh cho mau?
Hai công tử nói:
- Trong cái tổ vỡ, trứng đâu có lành được?
Nói chưa dút lời, đình úy đã đến bắt cả nhà Khổng Dung đem
chém, thây Khổng Dung thì đem bêu ở ngoài chợ.
Có một người ở Kinh Triệu, tên là Chi Tập, đến khóc lóc lăn
bên thây Khổng Dung, Tháo biết tin, giận lắm, muốn giết luôn, Tuân Úc can rằng:
- Tôi nghe Chi Tập thường can Khổng Dung: “Ông cương trực
quá, tất là rước vạ vào thân.” Nay Dung chết mà hắn khóc, tức là người có nghĩa,
xin thừa tướng đừng giết.
Tháo tha cho. Chi Tập thu thập thi thể cha con Khổng Dung
đem tống táng.
Người sau có thơ khen Khổng Dung rằng:
Khổng Dung ở Bắc hải,
Hào khí át cầu vồng
Trên ghế khách chật ních;
Trong cốc rược chẳng không
Văn chương lừng thiên hạ,
Cười nói khinh vương công
Sử sách khen trung trực
Quan danh ghi thái trung.
Tào Tháo giết Khổng Dung rồi, truyền lệnh quân mã năm đội
lần lượt kéo đi, chỉ để bọn Tuân Úc ở lại giữ Hứa Xương.
Lại nói ở Kinh Châu, Lưu Biểu bệnh nguy kịch lắm, bèn sai
người mời Huyền Đức đến dặn dò việc thừa tự, Huyền Đức dẫn Quan, Trương đến
Kinh Châu, Biểu nói:
- Bệnh ta đã đặt vào đến mạng mỡ, không biết sớm tối lúc nào,
muốn ủy thác đứa con côi cho hiền đệ. Nhưng con ta bất tài, sợ không nối được
nghiệp bố. Sau khi chết, xin hiền đệ tự lĩnh lấy Kinh Châu cho.
Huyền Đức khóc lạy nói rằng:
- Em xin hết sức giúp cháu nhỏ, đâu dám có ý gì khác.
Đang nói chuyện, có tin báo Tào Tháo tự thống lĩnh đại binh
đến đánh. Huyền Đức vội vàng từ biệt Lưu Biểu, về ngay Tân Dã.
Lưu Biểu đương ốm, nghe tin ấy, lo lắm, bàn bạc việc viết di
chúc, sai Huyền Đức giúp con trưởng là Lưu Kỳ làm chủ Kinh Châu.
Sái phu nhân thấy vậy, giận lắm, đóng ngay cửa trong lại, sai
Sái Mạo, Trương Doãn canh giữ cửa ngoài.
Bấy giờ, Lưu Kỳ ở Giang Hạ, nghe tin cha đau nặng, vội vàng
về Kinh Châu thăm cha. Vừa đến cửa ngoài, Sái Mạo lại nói rằng:
- Công tử phụng mệnh cha, coi giữ Giang Hạ, trách nhiệm rất
nặng, nay dám tự tiện bỏ về, nhỡ Đông Ngô kéo đến, thì làm thế nào? Nếu vào ra
mắt chúa công, chúa công nổi giận, bệnh lại tăng thêm, đó là bất hiếu. Công tử
nên cấp tốc về ngay đi!
Lưu Kỳ đứng ở ngoài cửa, khóc rống một hồi rồi đành phải lên
ngựa trở về Giang Hạ.
Lưu Biểu bệnh tình nguy cấp lắm, mong mãi không thấy con cả
về. Ngày Mậu Thân tháng tám, kêu to vài tiếng rồi chết.
Đời sau có thơ than rằng:
Trước nghe Viên Thiệu bên Hà Sóc,
Nay thấy Lưu Quân ở Hán Dương
Đều vì gà mái hư gia đạo,
Đến nỗi không lâu phải diệt vong!
Lưu Biểu chết rồi, Sái phu nhân cùng với Sái Mạo, Trương
Doãn bàn bạc, viết tờ di chúc giả cho con thứ là Lưu Tôn làm chủ Kinh Châu; xong
rồi mới cho báo tang.
Khi ấy, Lưu Tôn mới 14 tuổi, tư chất khá thông minh. Tôn họp
các quan lại bàn rằng:
- Cha ta chẳng may tạ thế, anh ta hiện ở Giang Hạ, lại có
chú ta là Lưu Huyền Đức ở Tân Dã. Các ngươi lập ta làm chủ, nếu chú ta và anh
ta đem quân về hỏi tội, thì ăn nói làm sao?
Mọi người còn chưa nghĩ ra sao thì Mạc quan là Lý Khuê thưa
rằng:
- Công tử nói rất phải. Nay nên đưa thư cáo tang đến Giang
Hạ, mời đại công tử về làm chủ Kinh Châu rồi cử Huyền Đức cùng coi việc lớn. Mặt
bắc địch được Tào Tháo, mặt nam chống được Tôn Quyền, đó là kế vẹn toàn.
Sái Mạo mắng rằng:
- Mày là thằng nào, dám mở mồm nói càn, trái lời di chúc của
chúa công!
Lý Khuê to tiếng mắng lại rằng:
- Mày cấu kết trong ngoài, mưu mô với nhau, giả mạo làm di
mệnh, bỏ con trưởng lập con thứ, chín quận Kinh Tương sẽ mất không ở trong tay
họ Sái. Chúa công có thiêng chắc giết mày đi!
Sái Mạo tức lắm, quát tả hữu lôi ra chém. Lý Khuê, đến lúc
chết, vẫn còn chửi mắng không dứt lời.
Rồi đó, Sái Mạo lập Lưu Tôn lên làm chủ, Tôn tộc họ Sái chia
nhau lĩnh luôn Kinh Châu; còn Sái phu nhân cùng Lưu Tôn đến ở Tương Dương để
phòng Lưu Kỳ, Lưu Bị; nhân thể đem linh cữu Lưu Biểu táng ở gò Hán Dương, phía
đông thành Tương Dương mà không báo tang cho Lưu Kỳ, Lưu Bị biết.
Lưu Tôn đến Tương Dương, vừa tháo yên ngựa xong, có người
báo Tào Tháo dẫn đại quân đi thẳng đến Tương Dương. Tôn thất kinh, bèn mời lũ
Khoái Việt, Sái Mạo đến bàn, đông tào diện là Phó Tôn nói:
- Không những phải lo Tào Tháo đem quân đến mà thôi, nay đại
công tử ở Giang hạ, Huyền Đức ở Tân Dã ta đều không cho đến báo tang; nếu họ
đem quân về hỏi tội, thì Kinh Tương nguy mất. Tôi có một kế làm cho dân Kinh
Tương vững như núi Thái Sơn, lại giữ toàn được danh tước cho chúa công.
Tôn hỏi:
- Kế gì?
Tôn nói:
- Chi bằng đem chín quận Kinh Tôn dâng Tào Tháo, Tháo chắc
trọng đãi chúa công.
Tôn mắng rằng:
- Ngươi chỉ nói càn. Ta mới nối cơ nghiệp của tiên quân, ngồi
chưa yên chỗ, có lẽ đâu đã bỏ cho người khác.
Khoái Việt nói:
- Phó Công Đễ nói phải lắm. Thuận hay nghịch đều phải theo
tình hình chung. Khỏe hay yếu, đều có thế hẳn hoi. Vả Tào Tháo đánh nam dẹp bắc
đều lấy danh nghĩa triều đình. Nếu chúa công chống lại thì vẫn mang tiếng phản
nghịch. Hơn nữa chúa công mới lên, việc lo bên ngoài chưa xong, việc lo bên
trong lại sắp đến. Dân Kinh Tương nghe quân Tào đến, chưa đánh đã mất vía rồi, thì
còn địch thế nào được?
Tôn nói:
- Lời các ông đều phải cả, không phải tôi không nghe theo; nhưng
cơ nghiệp của tiên quân để lại cho, phút chốc phải sang tay cho người khác, chỉ
e thiên hạ chê cười cho!
Tôn nói chưa dứt lời, có một người ngang nhiên nói:
- Phó Công Đễ, Khoái Di Dộ nói đúng lắm, sao chúa công không
nghe theo?
Các tướng nhìn xem ai, thì ra là Vương Sán, tự trọng Tuyên
người ở Cao Bình, quận Sơn Dương. Sán hình dáng gày gò, mình mẩy bé nhỏ, thuở
bé lại chơi nhà quan trung lang Sái Ung. Bữa ấy trong nhà Ung đang đông khách
quý ngồi chơi. Ung nghe thấy Sán đến chơi, lật đật đi trái cả giày ra đón; khách
khứa thấy vậy, ai cũng ngạc nhiên, hỏi rằng:
- Quan trung lang sao lại tôn kính riêng chú bé này như thế?
Ung nói:
- Chú bé có tài lạ, ta cũng không bằng.
Sán quả là người học rộng nhớ dai, không ai sánh kịp, thường
xem bài văn bia ở cạnh đường, chỉ đọc qua một lượt là thuộc lòng; xem người ta
đánh cờ, đương đánh mà xóa đi, Sán bày ngay lại được, không sai một quân. Tính
toán cung giỏi, văn chương nhất đời ấy. Khi 17 tuổi, Sán được cử làm hàn môn
thị lang nhưng không chịu ra. Sau vì chạy loạn đến Kinh Tương, Lưu Biểu đãi làm
thượng khách. Hôm đó, Sán hỏi Lưu Tôn:
- Tướng quân tự so mình có bằng Tào Công không?
Tôn đáp không bằng được.
Sán nói:
- Tào công binh cường tướng khỏe, nhiều trí lắm mưu; bắt
sống Lã Bố ở Hạ Phi; phá vỡ Quan Thiệu ở Quan Độ, đuổi Lưu Bị ở Lũng Hữu; trừ Ô
Hoàn ở Bạch Lang; đánh dẹp, bình định, không sao kể xiết. Nay lại kéo đại quân
xuống Nam Hạ, thế Kinh Tương thực khó lòng địch nổi. Kế của hai ông Phó, Khoái
rất hay. Tướng quân nên quyết ngay đi, kẻo về sau lại hối.
Tôn nói:
- Tiên sinh dạy phải lắm, nhưng tôi còn phải bẩm để mẫu thân
biết đã.
Nói chưa dứt lời, đã thầy Sái phu nhân ở sao bức bình phong
bước ra, bảo Tôn rằng:
- Ba ông đã đồng ý với nhau mà bảo thế, hà tất phải hỏi ta.
Lưu Tôn lúc này mới quyết định, lập tức viết thư hàng, sai
Tống Trưng bí mật mang đến bản doanh Tào Tháo. Trung vâng lệnh, đi thẳng tới
Uyển Thành, ra mắt Tào Tháo và dâng thư lên.
Tháo mừng lắm, trọng thưởng cho Tống Trung và sai về bảo Lưu
Tôn ra thành đón rước, rồi sẽ cho giữ Kinh Châu mãi.
Tống Trung lạy từ biệt Tào Tháo trở về Kinh Tương. Lúc sắp
qua sông, chợt gặp một toán quân mã kéo đến, trông ra thì là Quan Vân Trường, Tống
Trung chưa kịp tránh thì bị Vân Trường gọi lại, hỏi tỉ mỉ công việc Kinh Châu. Trung
trước còn giấu giếm, sau Vân Trường truy riết, phải nói thật cả.
Vân Trường thất kinh, bắt luôn Tống Trung đến Tân Dã ra mắt Huyền
Đức, kể lại tường tận việc đó.
Huyền Đức nghe xong, khóc ầm lên.
Trương Phi nói:
- Việc thế này, nên chém Tống Trung trước, rồi cất quân sang
sông chiếm lấy Tương Dương, giết Sái Thị và Lưu Tôn, rồi hãy đánh nhau với Tào
Tháo.
Huyền Đức nói:
- Chú hãy im đi, để cho ta liệu.
Rồi quát hỏi Tống Trung:
Mày thấy chúng nó mưu mô như thế nào, sao không báo cho ta
biết trước? Nay ta chém mày cũng vô ích, bước ngay đi!
Trung bái tạ, ôm đầu lủi thủi đi thẳng. Huyền Đức đang buồn
bực, chợt có tin công tử Lưu Kỳ sai Y Tịch đến, Huyền Đức vẫn còn nhớ ơn Y Tịch
cứu giúp khi trước, nên xuống thềm đón vào, rồi tạ ơn hai ba lượt.
Tịch nói:
- Đại công tử ở Giang Hạ nghe tin quận Kinh Châu đã mất, Sái
phu nhân cùng với lũ Lưu Tôn bàn nhau không báo tang, lập Lưu Tôn làm chủ. Công
tử sai người đến Kinh Dương dò xét, quả thật là thế, sợ sứ quân không biết nên
sai tôi đem tin buồn đến trình, và xin sứ quân khởi hết binh mã sang Tương
Dương hỏi tội.
Huyền Đức xem xong thư, bảo Y tịch rằng:
- Cơ Bá chỉ biết Lưu Tôn chiếm ngôi, chứ chưa biết Lưu Tôn đã
đem cả chín quận Kinh Tương dâng lên Tào Tháo rồi.
Tịch thất kinh, nói rằng:
- Sao sứ quân biết việc ấy?
Huyền Đức mới kể lại chuyện bắt được Tống Trung, Tịch nói:
- Nếu thế sứ quân nên mượn danh nghĩa viếng tang, đến Tương
Dương dụ Lưu Tôn ra đón, lập tức bắt lấy, giết sạch những bọn tòng đảng thì
kinh Tương nhất định về tay sứ quân.
Khổng Minh nói:
- Lời Cơ Bá chí phải, chúa công nên nghe theo.
Huyền Đức ứa nước mắt, nói rằng:
- Lúc anh ta sắp mất đã gửi con cho ta; nay nếu ta bắt lấy
con, cướp lấy đất, thì sau này xuống chín suối còn mặt mũi nào trông thấy anh
ta nữa!
Khổng Minh nói:
- Chúa công không theo kế ấy, nay quân Tào đã đến Uyển Thanh
rồi, thì lấy gì chống cự?
Huyền Đức nói:
- Chi bằng chạy ra Phàn Thành để tránh.
Đương bán định, có thám mã phi báo:
- Quân Tào đã đến Bác Vọng.
Huyền Đức vội vàng bảo Y Tịch về Giang Hạ sắp sẵn quân mã, còn
mình cùng Khổng Minh bàn kế đánh địch.
Khổng Minh nói:
- Xin chúa công cứ bình tĩnh. Lần trước chỉ có một bó lửa, đã
đốt hơn một nửa quân mã Hạ Hầu Đôn. Lần này, quân Tào lại đến, dù có làm cho nó
mắc phải kế trước, thì mình cũng không thể ở Tân Dã được nữa. Chi bằng ta đi
Phàn Thành cho sớm thì hơn.
Lập tức sai người treo bảng bốn cửa thành, thông báo nhân
dân rằng: Bất cứ ai, không nề già, trẻ, trai, gái, muốn theo thì hôm nay cùng
đi Phàn Thành để tạm lánh giặc, không nên chậm trễ. Lại sai Tôn Càn sang sông
sắp đặt thuyền đò để chở trăm họ; còn My Chúc, hộ tống gia quyến các quan đến
Phàn Thành; một mặt, họp các tướng lại để nghe lệnh.
Trước hết sai Quan Công đem một nghìn quân lên thượng lưu
sông Bạch Hà mai phục, mang theo nhiều bao tải đựng đầy đất cát để lấp khúc
sông, đợi đến cuối canh ba hôm sau, hễ nghe tiếng người ngựa rầm rộ ở hạ lưu
thì vớt những túi đất lên cho nước tràn xuống, rồi cứ thuận dòng sông kéo về
tiếp ứng.
Lại sai Trương Phi dẫn một nghìn quân mai phục ở bến đò Bác
Lăng. Khúc sông này nước chảy từ từ, quân Tào bị ngập tất trốn qua lối đó, bấy
giờ thừa thế đánh về để tiếp ứng.
Lại sai Triệu Vân dẫn ba nghìn quân, chia làm bốn đội; Vân
tự lĩnh một đội phục cửa đông; còn ba đội phục ba cửa tây, nam, bắc. Nhưng
trước hết phải gài những vật bắt lửa như lưu hoàng, diêm tiêu trong các mái nhà
trong thành. Quân Tào vào thành tất phải nghỉ ở nhà dân. Chiều tối hôm sau thế
nào cũng có gió lớn. Hễ nổi gió, thì sai quân phục ba cửa tây, nam, bắc bắn tên
lửa vào thành; lúc lửa bốc lên to, bên ngoài hò reo ầm lên để trợ oai. Các cửa
đều phải giữ cả, duy cửa đông bỏ ngỏ cho giặc chạy. Khi giặc chạy ra, thì thừa
thế đuổi đánh, đến sáng sẽ hội với hai tướng Quan, Trương, thu quân về Phàn
Thành.
Còn My Phương, Lưu Phong đem hai nghìn quân, một nửa cờ đỏ, một
nửa cờ xanh, đóng trước gò Thước Vĩ, cách Tân Dã ba mươi dặm; hễ thấy quân Tào
đến thì cho quân cờ đỏ chạy về tả, quân cờ xanh chạy về hữu. Quân địch nghi
hoặc tất không dám đuổi. Hai người lúc ấy chia nhau ra mai phục, đợi trong
thành nổi lửa, sẽ kéo ra đuổi đánh bại binh, rồi lên cả trên thượng lưu Bạch Hà
để tiếp ứng.
Khổng Minh cắt đặt xong xuôi, cùng với Huyền Đức lên chỗ cao
đứng quan sát, đợi tin thắng trận.
Lại nói Tào nhân, Tào Hồng đem mười vạn quân làm tiền đội. Đằng
trước, đã có Hứa Chử dẫn ba nghìn quân thiết giáp mở đường rầm rộ kéo đến tân
Dã. Trưa hôm ấy đi đến gò Thước Vĩ, trông thấy trước gò một toán quân mã cầm
toàn cờ hiệu xanh đỏ. Hứa Chử thúc quân tiến lên.
Lưu Phong, Lưu My chia làm bốn đội, cờ đỏ chạy về mé tả, cờ
xanh chạy về mé hữu.
Hứa Chử dừng ngựa ra lệnh:
- Hãy dừng lại, đây chắc có quân mai phục, quân ta đóng ở
đây thôi.
Nói rồi, một mình một ngựa báo với tiền đội tào Nhân.
Tào Nhân nói:
- Đó là nghi binh, không có mai phục, ngươi nên tiến quân
mau lên, ta sẽ thúc quân tiếp ứng đến.
Hứa Chử quay ngựa tới trước gò, hô quân đánh vào trong rừng,
đuổi tìm toán quân mã lúc nãy, thì chẳng thấy một người nào nữa. Lúc ấy mặt
trời đã lặn về tây. Hứa Chử vừa định tiến lên thì trên núi thổi còi, đánh trống
ầm ĩ, Chử vội ngẩng đầu lên, thấy trên đỉnh núi cắm một hàng cờ, trong đó có
đôi lọng, bên tả thì Huyền Đức, bên hữu thì Khổng Minh ngồi đối diện uống rượu.
Hứa Chử tức lắm, đem quân tìm đường lên núi, bị gỗ, đá ở
trên lăn xuống, không tài nào lên được; lại nghe mé sau núi có tiếng reo rầm
trời, định tìm lối đến đánh thì trời đã tối.
Tào Nhân kéo quân đến, ra lệnh hãy cướp thành thì bốn cửa mở
toang. Quân Tào xông vào không thấy ngăn trở; trong thành cũng không có một
bóng người nào cả. Tào Hồng nói:
- Lưu Bị gặp thế bí, nên đem cả trăm họ chạy trốn rồi, quân
ta hãy tạm nghỉ lại, sáng mai sẽ tiến.
Lúc này quân sĩ đều mệt và đói khát cả, liền tranh nhau thổi
cơm ăn. Tào Nhân, Tào Hồng vào nghỉ trong huyện.
Cuối canh một, gió to nổi lên. Lính gác chạy vào báo cháy. Tào
Nhân nói:
- Chắc quân sĩ thổi cơm, sơ ý để lửa cháy đấy thôi, không
được xôn xao.
Nói chưa dứt lời, Nhân lại liên tiếp nhận được tin ba cửa
tây, nam, bắc đều bốc cháy. Khi Tào Nhân ra lệnh tất cả các tướng phải lên ngựa
ngay, thì toàn huyện đã trở thành bể lửa bốc sáng rực trời. Lửa đêm hôm ấy lại
cháy dữ hơn lửa đồn Bác Vọng hôm trước.
Đời sau có thơ than rằng:
Gian hùng Tào Tháo giữ Trung Nguyên
Tháng chín sang năm đánh Hàn Xuyên
Phong Bá ra oai huyện Tân Dã
Chúc Dung bay xuống Diễm ma thiên.
Tào Nhân dẫn tướng tá xông pha khói lửa tìm đường chạy trốn.
Thấy cửa đông không có lửa, Nhân vội vàng chạy ra phía đó. Quân sĩ giày xéo lẫn
nhau, chết nhiều vô kể. Bọn Tào Nhân vừa thoát được nạn lửa thì đàng sau đã
thấy ngay Triệu Vân dẫn quân đuổi đến đánh giết. Quân Tào tranh nhau chạy trốn,
không ai dám ngoảnh cổ lại. Đang chạy, bị My Phương kéo quân ra bồi cho một
trận nữa. Tào Nhân thua to, cướp đường rút chạy. Lưu Phong lại dẫn quân ra chặn
đường, hai bên đánh nhau đến canh tư.
Bấy giờ, người ngựa đều mệt, quân Tào phần lớn bị bỏng, sém
trán, cháy đầu, chạy đến sông Bạch Hà, thấy nước sông không sâu, người ngựa hí
hửng lội xuống uống nước, người thì ồn ào, ngựa thì gầm hí.
Lại nói Vân Trường đã đem những túi sỏi lấp khúc sông trên
rồi, vừa sẩm tối thấy lửa cháy ở Tân Dã, đến canh tư lại nghe dưới hạ lưu có
tiếng người ngựa kêu, vội vàng hô quân sĩ rút túi sỏi đất lên, nước đổ xuống
như thác, rồi kéo quân theo xuống. Quân Tào lại chết đuối vô số.
Tào Nhân dẫn quân nhằm chỗ nước chảy nhẹ, cướp đường chạy. Đi
đến bến đò Bác Lăng, lại thấy tiếng reo ầm ĩ, một toán quân kéo đến chặn đường,
đại tướng đi đầu là trương Phi. Phi quát to:
- Giặc Tào lại chịu chết cho mau!
Quân Tào hết vía.
Thế là:
Trong thành vừa thấy ngọn lửa đỏ.
Bên sông lại gặp cơn gió đen.
Chưa biết tính mệnh quân Tào thế nào, xem hồi sau mới rõ.