Charlie Bone (Tập 6) - Chương 01 + 02 + 03
Những hậu duệ của Vua Đỏ
Tất cả những người được ban
phép thuật đều là hậu duệ của mười người con của Vua Đỏ - vị vua tài phép này
đã rời Châu Phi vào thế kỷ thứ 12 cùng với ba con báo.
Manfred Bloor: Con trai ông
hiệu trưởng Học Viện Bloor. Manfred là hậu duệ của Borlath, con trai cả của Vua
Đỏ. Borlath là một tên bạo chúa độc tài.
[Chúc bạn đọc sách vui vẻ tại www.gacsach.com - gác nhỏ cho người yêu sách.]
Naren Bloor: Con gái nuôi của
Bartholomew Bloor. Naren có thể phát đi những thông điệp từ khoảng cách xa. Cô
bé thuộc dòng dõi của một người cháu trai của Vua Đỏ bị bọn cướp biển bắt cóc
và mang tới Trung Hoa.
Asa Pike: Asa người thú là
chắt của một bộ lạc sống ở những khu rừng phía Bắc có truyền thống nuôi dưỡng
thú hoang dã kỳ dị. Asa có thể biến hình vào lúc trời tối.
Billy Raven: Billy có khả
năng trao đổi thông tin với thú vật. Một trong những tổ tiên của nó có tài nói
chuyện với lũ quạ hay đậu trên giá treo cổ, nơi treo thây tử tội. Vì tài này mà
ông bị đuổi khỏi làng của mình.
Lysander Sage: Chắt đích tôn
của một nhà thông thái người Phi Châu. Cậu có phép gọi hồn tổ tiên tâm linh của
mình.
Tancred Torsson: Người gọi
bão. Tổ tiên gốc Scandinavi của cậu là Thor, dựa theo tên của thần sấm. Tancred
biết tạo nên gió, mưa, sấm và chớp.
Gabriel Silk: Gabriel có thể
cảm nhận được ý nghĩ và cảm xúc của người khác qua áo quần của họ. Cậu xuất
thân từ một dòng họ những nhà tâm linh học.
Emma Tolly: Emma có thể bay.
Họ của cô có xuất xứ từ một hiệp sĩ người Tây Ban Nha. Vua Đỏ đã cưới con gái
ngài, vì vậy hiệp sĩ này cũng là tổ tiên của tất cả những người được ban phép
thuật.
Charlie Bone: Charlie có phép
đi vô hình chụp và hình vẽ. Từ dòng họ bên cha, cậu là hậu duệ của Vua Đỏ, còn
về bên dòng họ mẹ, cậu thuộc dòng dõi của Mathonwy, thầy pháp xứ Glan, bạn tâm
giao của Vua Đỏ.
Dorcas Loom: Dorcas có thể ếm
bùa vào quần áo. Bà tằng tổ của nó, Lola Defarge, chính là kẻ đã đan chiếc khăn
choàng teo rút trong khi thích thú chứng kiến cuộc hành hình Hoàng hậu nước
Pháp năm 1793.
Idith và Inez Branko: Hai chị
em sinh đôi siêu năng, có họ hàng xa với Zelda Dobinski (cô này đã rời học viện
Bloor).
Joshua Tilpin: Joshua có thể
phát ra từ tính. Tổ tiên của nó đến nay vẫn còn là một ẩn số. Thậm chí gia đình
Bloor cũng không biết chắc nó sống ở đâu. Nó vốn tự mình đến cửa học viện và tự
giới thiệu danh tánh. Học phí của nó được chi trả thông qua một ngân hàng tư.
Una Onimous: Cháu gái của ông
Onimous. Una mới 5 tuổi và tài phép của cô bé được giữ bí mật cho đến chừng nào
tự bừng phát.
Olivia Vertigo: Hậu duệ của
Guanhamara, một người con đã chạy trốn khỏi lâu đài của Vua đỏ, sau đó cưới
hoàng tử nước Ý. Olivia là người tạo ảo ảnh. Gia đình Bloor không biết về tài
phép của Olivia.
Dagbert Endless: Dagbert là
con trai của lãnh chúa Grimward, kẻ điều khiển đại dương. Mẹ nó lấy vàng từ
răng của những người chết đuối để luyện thành bùa bảo vệ con trai mình. Dagbert
là kẻ dìm người ta chết đuối.
Phần mở đầu
Charlie Bone sống trong một
thành phố ôm giữ vô vàn điều bí mật. Những bí mật ẩn giấu trong tường và chôn
vùi dưới đất hàng bao thế kỷ.
Thành phố đó ra đời cách đây
chín trăm năm, bắt đầu từ một lâu đài do tổ tiên của Charlie là Vua Đỏ xây dựng
nên. Tên của Vua Đỏ xuất phát từ tấm áo chùng đỏ rực và hình mặt trời chiếu
sáng khắc trên tấm khiên của ngài. Vua Đỏ là người Phi châu; ngài cũng là một
thầy pháp.
Khi hoàng hậu yêu quý của nhà
vua, hoàng hậu Berenice, qua đời, ngài đi vào rừng để than khóc. Ngài rất an
tâm khi mười người con của mình sẽ an toàn trong tay của những quan cận thần
uyên bác và những bà vú hiền lành. Vả lại, mỗi người con của ngài đều được ban
một tài phép thần kỳ.
Vào thời đó, vương quốc của
ngài là một nơi đầy bạo lực và không có luật pháp – nạn giết người cướp của
hoành hành. Trên đường về nhà, ngài nhận thấy cần phải đem tài phép vô song của
mình ra cứu giúp dân nghèo và những người bị áp bức. Lập tức, ngài mặc giáp
sắt, đội mũ sắt cắm chùm lông đỏ, sau đó hóa phép ra một thanh gươm bất khả
chiến bại và cưỡi ngựa xông pha đi bảo vệ những người khốn khổ và những kẻ thân
cô thế cô.
Vua Đỏ diệt trừ bọn bạo chúa,
quân sát nhân và lũ quý tộc kẻ cướp suốt 5 năm. Cuối cùng, khi ngài về đến lâu
đài, mới hay, năm người con của mình đã trốn chạy, còn năm kẻ ở lại thì dùng
tài phép của mình đi thôn tính những quốc gia láng giềng. Chính những những con
này và cháu chắt của họ đã bắt đầu lịch sử tang thương và đồi bại kinh hoàng
của thành phố. Không thể ra tay đánh đuổi chính các con mình, nhà vua tan nát
trái tim đành phải rời khỏi lâu đài của mình vĩnh viễn.
Bà nội Charlie cùng ba người
em gái của bà ta đứng về phe quỷ ác. Trong thời gian ba nó bị ếm bùa, họ tống
nó vào học viện Bloor, ngôi trường do một dòng họ có quá khứ cực kỳ bạo ngược
điều hành. Charlie luôn luôn phải e dè gia đình Bloor và đồng minh của họ,
nhưng, tính cho đến nay, nó đã đập tan mọi âm mưu đè bẹp nó của họ, bởi vì xung
quanh nó có nhiều bạn bè là hậu duệ của Vua Đỏ, luôn dùng tài phép phi thường
của mình để trợ giúp nó.
Riêng với tài đi vào quá khứ
của mình, Charlie đang dần khám phá những bí mật của thành phố. Đó là một hành
trình nguy hiểm, nhưng Charlie có bạn bè sát cánh bên mình và có niềm tin sắt
đá vào tài phép muôn đời của Vua Đỏ.
Không hẳn là người
Hẳn là bạn sẽ nghĩ Charlie
Bone ẩu thật khi để mất cha nó lần thứ hai, nhất là vào lúc nó chỉ vừa mới tìm
thấy cha. Họ đã cách mặt mười năm ròng – những năm bị ếm yêu thuật, chú Lyell
Bone chìm đắm trong sự quên lãng, không thể nhớ gì về quá khứ, thậm chí kể cả
tên của mình cũng quên
Lần này, chí ít Charlie cũng
biết cha mình đi đâu. Ba nó đang đưa mẹ nó đi hưởng tuần trăng mật lần thứ hai.
Còn gì sung sướng hơn lánh xa những ngày tháng Hai âm u, lạnh lẽo để đi xem cá
voi và cá heo nô giỡn ngoài biển rực nắng? Tất nhiên họ rủ Charlie đi cùng,
nhưng nó đã ý nhị từ chối. Cha mẹ nó cần được ở bên nhau, ngoài ra, ở nhà nó
còn mấy việc phải hoàn thành. Có vài điều bí ẩn cần làm sáng tỏ.
Lúc này đây Charlie đang ở
ngoài cổng ngôi nhà nơi nó chào đời. Đó là một tòa nhà gạch đỏ, mái lợp ngói
nghiêng dốc, có bốn bậc thang dẫn lên cánh cửa trước màu xanh da trời. Charlie
và mẹ đã rời ngôi nhà này khi nó 2 tuổi, thành ra nó chả nhớ chút gì về chốn
này. Ngay như cái tên nhà cũng lạ lẫm đối với nó: “Góc Kim Cương” – tọa lạc
trên góc phố Diamond và đại lộ Lyme.
Bây giờ Charlie đã 12 tuổi –
một thằng bé cao trung bình, tóc đen bù xù và mắt nâu màu quả óc chó. Một thằng
bé bình thường về mọi phương diện, ngoại trừ một điều: nó là
người-đi-vào-tranh, một tài phép nó thừa hưởng từ Vua Đỏ huyền thoại.
Đứng bên cạnh Charlie là một
người đàn ông cao lớn, nét mặt rắn rỏi, đẹp như tạc và mái tóc đen thẳng, dài
gần chấm vai. Ông mặc áo khoác đen, dài và trùm chiếc mũ đen rộng vành sụp hẳn
xuống, dường như để che kín mắt, mặc dù trong buổi chiều thứ Bảy u ám này không
có lấy một tia nắng mặt trời yếu ớt nhất.
“Phải sửa nhiều đây,” người
đàn ông nhận xét, nhìn những lỗ hổng đen ngòm trên mái nhà, nơi những miếng
ngói lợp bị tốc mất.
“Ước gì con có thể dọn vào
đấy ở ngay, Ông cậu Paton à,” Charlie nói.
“Con không phải đợi lâu nữa
đâu,” Ông cậu bảo nó. “Tuần tới là thợ xây, thợ sơn, thợ ống nước, và thợ lợp
mái sẽ bắt đầu tu sửa mà.”
“Chúng ta vào xem chút đi.”
Charlie mở cổng và bước trên lối đi hẹp cỏ mọc tràn lan. Ông cậu nó theo sau,
leng keng một chùm chìa khóa. Khi vào gần hơn, họ nhận thấy có ánh đèn ở một
trong những cửa sổ tầng dưới.
“Có người trong đó.” Charlie
chạy ào lên tới cửa. Ông cậu đang ở sau nó một bước liền phóng vèo qua các bậc
thang và tra một chiếc chìa khóa vào ổ. Cánh cửa xanh da trời mở tung và
Charlie bước vô trong.
Mùi cũ mốc nồng nặc trong
hành lang. Ván lót sàn ẩm, bám kịt bụi, những mảnh giấy dán tường bong tróc
dính lủng lẳng trên các bức tường nhem nhuốc, đen xì. Charlie cố nhón chân nhẹ
hết sức, nhưng những tấm ván trần trụi cứ rung lên kèn kẹt dưới từng bước đi
của nó. Nó vội vàng mở một cánh cửa bên trái và ngó vô căn phòng hồi nãy nó
thấy có ánh sáng. Trống huơ trống hoác. Ông cậu Paton hất đầu ra hiệu về phía
cánh cửa khép hờ ở phía kia căn phòng. “Nhà bếp đó,” ông thì thào.
Một tiếng chân được nghe
thấy. Khó mà biết nó từ đâu vọng tới. Charlie băng xoẹt qua căn phòng, những
bước chân nặng nề của ông cậu bám theo. Nhưng cả nhà bếp cũng trống trơ. Một
tiếng “rầm” đanh, gắt, làm Charlie lao bắn vèo qua nhà bếp, vô lối đi hẹp. Cánh
cửa sau mở toang, xô đánh ầm vào bức tường phía sau nó một tiếng rung chuyển
nữa. Một luồng khí lạnh ập vào mặt Charlie khi nó nheo mắt dòm ra ngoài trời.
Vừa vưa kịp lúc cho nó thấy hai bóng đen chui lẹ qua quãng hàng rào gãy ở cuối
vườn.
“Hê!” Charlie hét lớn, chạy
bươn qua thảm cỏ và những cây dại cao khô héo. Tới hàng rào, nó nhoài người ngó
ra ngõ hẹp tí rị. Nhưng kẻ đột nhập đã biến mất.
“Chắc là những kẻ lang
thang.” Ông cậu Paton đá vào một chồng báo cũ ở góc nhà. “Về thôi, Charlie.”
“Cho con lên lầu đi?” Charlie
năn nỉ. “Con muốn xem mình có nhớ căn phòng mình từng ngủ hay không.”
“Thì đi.” Ông cậu Paton theo
Charlie lên cầu thang. Khi ông lên tới nơi, Charlie đang đứng nhìn trân trối
vào hai cánh cửa trước mặt nó. Có thêm hai cánh cửa bắt đầu một hành lang ở bên
trái nó, rồi một cánh nữa ở bên phải. Nó chọn một cánh.
“Con nhớ giỏi quá, Charlie!”
“Con chỉ đoán thôi,” Charlie
nói. Nó đẩy mở cánh cửa đó ra. “ỐI!”
Không thể đi được bước nào vô
phòng. Tất cả ván lót sàn đã bị dỡ sạch. Tấm thì dựng đứng vào tường, những tấm
khác lại nằm vắt trên các thanh rầm hẹp đỡ sàn nhà.
“Quái lạ!” Ông cậu Paton ghé nhìn qua vai Charlie. “Ta không biết là thợ
xây đã bắt đầu rồi.”
Hai ông cháu nhìn vào những căn phòng khác. Phòng nào cũng trong tình trạng
tương tự: ván lót sàn bị giật tung rồi quăng bừa bãi vào góc nhà hoặc vắt vẻo
trên những thanh rầm mỏng.
“Trông như ai đó sục sạo tìm vật gì,” Charlie nhận xét.
“Một cuộc lùng kiếm tuyệt vọng,” ông cậu đồng ý. “Ta tưởng tượng họ cũng
bứt tung sàn nhà dưới lầu lên, nhưng sau đó đã gắn lại để đề phòng người ta
nhìn vô qua cửa sổ.”
“Con không thích nghĩ tới việc người lạ lẻn vô và đào bới nhà cũ của con,”
Charlie nói.
Khi đi xuống lầu, họ căng mắt tìm xem có dấu hiệu mặt bậc thang bị bứng đi
không. Lần này họ phát hiện mặt gỗ tưa xước, đinh bị nhổ lên và tay vịn xục
xịch.
“Thế này thì phải thay hết ổ khóa thôi,” Ông cậu Paton nói khi hai ông cháu
trở ra đứng ngoài đường. “Để ta nói chuyện với nhà thầu.”
Họ bắt đầu rảo bộ về ngôi nhà số 9, đường Filbert. Ông cậu Paton mải nghĩ
về bọn xâm phạm nên quên bẵng là đèn đường đang sáng. Trước khi Charlie kịp
cảnh báo, ông đã vô tình ngước lên và bóng đèn phía trên đầu ông kêu bụp một
phát, nổ tung.
Ông cậu Paton chúi người né trận mưa thủy tinh dội xuống đầu mình. “Chán
quá! Chán quá!” ông gầm to. “Ai cần làm kẻ tăng áp cơ chứ!”
Ông cậu Paton Yewbeam, một hậu duệ khác nữa của Vua Đỏ, thừa hưởng một tài
phép không may. Chỉ cần ông hơi liếc vào một bóng đèn đang cháy, dù nó ở trong
cửa sổ, trong nhà dân, trên đường phố, hay tại nhà mình, thì tất yếu nó vẫn cứ
tăng sức nóng lên đến độ nổ tan bóng đèn. Vì vậy nên Ông cậu Paton rất ít khi
ra khỏi nhà vào ban ngày. Đèn giao thông, đèn xi-nhan ô-tô và đèn cửa sổ bày
hàng luôn có nguy cơ hứng chịu tài phép khốn khổ này của ông. Ông thấy điều này
thật bất tiện cho mình.
Lần này tai nạn của Ông cậu Paton đã để lộ ra một sự việc. Trong chớp lóe
sáng vụt chiếu con đường, hai hình hài bị nhìn thấy đang lúp cúp bên một hàng
rào. Khoảnh khắc đó kéo dài không tới một giây nhưng gương mặt họ đã in đậm
trong tâm trí Charlie. Trông họ... không hẳn là người.
Charlie chớp mắt trước cơn mưa thủy tinh dội xuống đầu ông cậu. Khi nó mở
mắt ra thì hai hình hài đó đã biến mất.
“Mau lên, Charlie, chúng ta mau ra khỏi đây kẻo có người thấy chúng ta.”
Ông cậu Paton chộp cánh tay Charlie và lôi nó đi khỏi hiện trường.
“Có người đã nhìn thấy chúng ta rồi, Ông cậu Paton. Con nghĩ đó có thể là
bọn họ. Tức những kẻ đột nhập nhà con. Nhưng họ không hẳn là người. Nếu ông
hiểu ý con.”
“Ta không hiểu.” Ông cậu Paton túm chặt cánh tay Charlie hơn. “Nhanh lên!
Nhanh ra khỏi đây!”
Charlie thấy mình bị lôi xệch qua đường. Một chiếc xe lao tới bóp một tiếng
còi cảnh báo và Ông cậu Paton vội giật nó lên vỉa hè.
“Con bảo không-hẳn-là-người nghĩa là sao?” Ông cậu Paton kéo thụp vành nón
xuống. Bây giờ cả mũi của ông cũng bị che khuất.
“Họ quái đản lắm, Ông cậu Paton,” Charlie thở hồng hộc. “Con không thể giải
thích.”
“Cố lên,” ông cậu ra lệnh. “Ta muốn biết chúng ta đang đối phó với loại
sinh vật gì.”
Ông cậu Paton đi tiếp với tốc độ lướt gió thường lệ của mình. Charlie phải
cắm cổ chạy từng chặp cho kịp ông. “Chân ông dài gấp đôi chân con.”
“Ta muốn ngăn cách mình với đèn đường,” Ông cậu Paton gắt. Ông rẽ một góc
phố và chậm bước lại. “Nào, cố lần nữa coi. Cái gì khiến họ không phải là
người, Charlie?”
“Trước tiên là họ có lông. Rồi mắt họ... mắt họ, à, con nghĩ khác xa mắt
người. Chúng giống mắt chó... hoặc, hoặc...”
“Sói?” ông cậu gợi nhắc.
“Chắc vậy,” Charlie thận
trọng. “Nếu mắt sói màu vàng.”
“Hừm. Sao ta có linh cảm nhà
Bloor liên quan tới vụ này? Nói ta coi, ba của con có nhắc đến việc để lại vật
gì đó ở ngôi nhà cũ không?”
“Không ạ. Nhưng có rất nhiều
thứ ba con đã quên rồi.” Charlie mỉm cười một mình. Ba nó nhớ tên mẹ nó và tên
ba là đủ. “Tuy nhiên, trí nhớ của ba con đang dần trở lại. Mỗi ngày lại có một
điều mới bật khỏi đầu ba. Có lẽ khi đi nghỉ về, ba con sẽ phục hồi hoàn toàn.”
“Và đó là điều bọn chúng lo
sợ.” Ông cậu Paton dừng khựng lại.
“Ai ạ? Cái gì cơ?” Charlie
hỏi.
“Nghe này, Charlie. Ai nấy
tin rằng Manfred Bloor thôi miên ba của con là bởi vì chú ấy gây tai nạn cho lão
Ezekiel. Nhưng ta ngẫm thấy còn nhiều lý do hơn thế nữa. Ta tin là ba của con
đang giấu một vật mà gia đình Bloor muốn có. Rất có thể bọn chúng hy vọng là
dưới sức thôi miên, chú ấy sẽ tiết lộ nơi cất nó. Nhưng điều này không xảy ra.
Đến bây giờ họ lại sợ ba của con sẽ nhớ và tìm ra cái vật đó trước bọn họ.”
Charlie không thể hình dung
nổi điều gì khiến ông cậu đi đến kết luận như vậy. Nhưng đầu óc Ông cậu Paton
vốn hay lần tìm vấn đề. Ông đang viết lịch sử Vua Đỏ, và căn phòng riêng của
ông chật cứng những quyển sách khổng lồ về tất cả những đề tài Charlie từng
nghe nói tới, cũng như về biết bao điều nó chưa từng nghe bao giờ.
Đường Diamond nằm ở ngoại ô
thành phố, Charlie và ông cậu phải đi bộ gần một tiếng mới về tới nhà. Lúc đó
bóng chiều đã ập xuống và sương mù dày đặc đang bò qua các con phố. Thật lạ,
không khí thoảng mùi muối, mặc dù biển cách xa nơi này ít nhất là 30 dặm.
Bà ngoại của Charlie, ngoại
Maisie, đón họ tận cửa. Vẻ mặt bà như vừa bị choáng sốc ghê gớm. “Bà Bone về
rồi,” bà thì thầm, tắt đèn hành lang đi, ngăn ngừa Ông cậu Paton gây tai nạn.
“Về rồi?” Ông cậu Paton nói
to. “Cái quái quỷ...”
“Suỵt!” ngoại Maisie đưa một
ngón tay lên môi. “Vào nhà đã.”
Charlie và ông cậu theo ngoại
Maisie vào nhà bếp. Bàn ăn đã dọn sẵn và trong khi múc súp ra ba cái tô, ngoại
Maisie kể cho họ nghe về chuyến trở về đột ngột của nội Bone.
Nội Bone là chị gái của Ông cậu Paton. Hơn ông tới hai mươi tuổi và họ
chẳng bao giờ thuận hòa với nhau. Bà ta thậm chí còn không ưa người con trai
duy nhất của mình, tức là ba của Charlie. Ngay khi chú ấy trở về sau mười năm
bị cầm tù trong học viện Bloor, nội Bone liền khăn gói ra đi – đến sống với ba
cô em gái ở cuối một con hẻm tối tăm, bất ổn tên là Ngách Tối. Charlie đã hy
vọng sẽ không bao giờ phải nhìn thấy bà ta lần nữa chứ.
“Mụ ta vẫn còn giữ chìa khóa,” ngoại Maisie kể. “Mụ hùng hổ đi vào, thảy
phịch giỏ vô hành lang và hét ‘Ta về lại!’ ‘Sao vậy?’ ta hỏi. Hừ, thoáng nhìn
đã biết có điều không ổn rồi. ‘Ai cũng nghĩ chắc là bà tiếc lắm,’ mụ nói. ‘Đúng
thế. Tôi tưởng bà dọn đi hẳn chứ,’ ta liền đáp như vậy.”
Charlie bật cười khúc khích.
Ông cậu Paton hỏi, “Nhưng lý do của bà ta là gì, bà Maisie? Tại sao bà ta
trở về?”
“Vì đám cưới!” ngoại Maisie nói.
“Cưới ai?” Ông cậu Paton hỏi vội.
“Em út của mụ, Venetia. Tuần sau bà này sẽ cưới chồng.”
Charlie bị sặc súp. “Bà cô Venetia? Người quái quỷ nào trên đời lại muốn cưới bà ta
nhỉ?”
“Có đấy, Charlie cưng,” ngoại Maisie nói. “Nhưng chẳng mấy chốc gã đàn ông
tội nghiệp đó sẽ hối tiếc về ngày này cho mà xem.”
“Quái lạ,” Ông cậu Paton nhìn ngoại Maisie trân trân, không tin nổi.
“Nội Bone rất cáu tiết,” ngoại Maisie kể tiếp, “Nhưng hai bà em kia thì ủng
hộ hoàn toàn.”
“Phùù.” Ông cậu Paton thổi súp của mình, chắc hẳn nó đâu có nóng, bởi vì
ông đã nuốt chửng gần chục muỗng rồi mà đâu kêu ca gì. Ông đang cố không để lộ
ra, nhưng ai cũng có thể thấy ông đang cực kỳ hoang mang và bàng hoàng thật sự.
Bốn bà chị của Ông cậu Paton đều xấu xa như nhau. Họ căm thù ông em duy
nhất của họ; cả đời họ hành hạ ông chỉ vì ông bất đồng những quan điểm đạo đức
của họ và luôn bày tỏ dứt khoát cho họ biết điều đó. Cả bốn chị em nhà họ đều
đê tiện, hận thù, hống hách, lươn lẹo và tham lam. Quả tình, Charlie không sao
tìm đủ lời để diễn tả cho hết họ kinh khủng đến cỡ nào. Không ai trong bọn họ
từng bao giờ nói một lời tử tế với Charlie, chứ đừng nói là tặng quà sinh nhật
nó, đặc biệt là nội Bone.
Ngoại Maisie ém phần hấp dẫn nhất trong bản thông báo của mình đến phút
cuối mới bất ngờ tung ra. “Điều tệ nhất là gã đó đã có con rồi. Hai người nghĩ
gì về điều này?”
“Có con!” Charlie rùng mình. “Tội nghiệp bọn chúng. Hãy tưởng tượng bà cô
Venetia là mẹ mình!”
“Thật quá quắt.” Ông cậu Paton ngẩng phắt đầu lên.
Charlie quay lưng ra cửa nên không thấy nội Bone đang bước tới từ đằng sau
nó.
“Ta mừng rằng ta không phải là mẹ mày,” nội Bone hằn học. Mụ đùng đùng bước
tới tủ lạnh, mở ra. “Chẳng có gì trong đây,” mụ phàn nàn. “Chả có gì ngoài phó
mát và xương ôi. Không patê, không sốt mayonnaise và thậm chí không cả mùi cá
hồi.”
Ngoại Maisie thở dài đánh sượt. “Làm sao tôi biết bà xuống đây lùng sục,
với cái bụng cầu kỳ và cái mồm kén chọn của bà? Ngồi xuống đi, Grizelda, để tôi
múc cho bà một ít súp nấm.”
“Thôi, cám ơn.” Nội Bone thả người đánh rầm vào chiếc ghế bập bênh gần bếp
lò.
Ông cậu Paton nhăn mặt. Ông đã định vứt chiếc bập bênh đó đi rồi. Xưa nay
có ai dùng tới nó. Nó là sự nhắc nhở không ngừng về sự có mặt ảm đạm của nội
Bone. Phải chi ông nghĩ sớm và đã chặt nó ra làm củi từ hôm trước.
Cọt! Kẹt! Cọt! Kẹt! Cọt! Bà ta nằm đó, mắt nhắm lại, đầu rụt vào cằm. Cọt!
Kẹt! Cọt! Kẹt! Âm thanh dư sức làm vón cục món súp.
“Thì ra,” Ông cậu Paton mãi mới tìm được lời, “tôi nghe nói bà bất hòa với
các em, Grizelda.”
“Chúng cũng là chị của mày,” mụ độp lại. “Cưới chồng! Xời, ta chưa bao giờ
nghe chuyện lố bịch đến vậy. Venetia đã năm mươi hai tuổi rồi. Đáng ra nó phải
dẹp bỏ cái việc đại loại thế từ nhiều năm trước cơ.”
“Đại loại nào?” Charlie hỏi.
“Đừng xấc xược!” bà nội nó mắng.
Charlie ăn xong súp thì đứng lên. “Con cá là bà sẽ đi khi ba con trở về,”
nó nói.
“Hừ, bọn mày sẽ đến sống ở Góc Kim Cương ấm cúng kia mà.” Mụ thảy cho
Charlie ánh nhìn lạnh lẽo nhất của mụ. “Nhưng mà xem cá voi có thể rất nguy
hiểm. Không chừng hắn chả bao giờ...”
Charlie không chờ nghe bà nội nói nốt câu. “Con qua nhà Ben chơi đây,” nó
hét to, chạy ra hành lang và xộc áo khoác vào.
Ngoại Maisie gọi với theo, “Charlie, trời tối rồi cưng. Đừng để ý bà Bone.
Bà ấy nói vậy chứ chả có ý gì đâu.”
“Có đấy,” Charlie lầm bầm. Nó
rời nhà, chạy băng qua đường tới nhà số 12 và nhấn chuông. Đường Filbert luôn
im ắng vào giờ này Chủ Nhật. Chỉ có vài chiếc xe chạy ngang qua, còn vỉa hè
vắng teo. Nhưng Charlie cảm thấy nổi gai đằng sau gáy, mách bảo nó có ai đó
đang nhìn mình.
“Lẹ, lẹ lên.” Charlie nhấn
chuông lần thứ hai.
Benjamin Brown mở cửa. Nó nhỏ
hơn Charlie vài tháng tuổi và nhỏ con hơn nhiều. Mái tóc vàng hỗn độn của nó
trùng y với màu lông con chó đứng bên cạnh, vẫy đuôi rối rít.
“Mình vào được không?”
Charlie hỏi. “Nội Bone vừa trở về.”
Benjamin hiểu ngay tắp lự.
“Tai họa làm sao! Mình định đưa Hạt Đậu đi dạo đây. Đi không?”
Bất kể điều gì cũng tốt hơn
một buổi tối trong cùng nhà với nội Bone. Charlie liền nhịp bước bên cạnh
Benjamin khi thằng này hướng về phía công viên. Với những tiếng sủa hân hoan,
Hạt Đậu chạy vòng quanh hai thằng bé, sau đó phóng thục mạng trên con đường
tối. Benjamin không thích để vuột tầm mắt khỏi con chó. Dù biết thế là mình lo
lắng không cần thiết. Ba mẹ nó luôn dặn nó hãy tươi tỉnh lên, nhưng Benjamin
không thể nào khác đi bản tính của mình được. Ngoài ra, một màn sương mù đang
bò vào phố – một màn sương bất thường, thoảng mùi muối.
Charlie thõng vai xuống. Lại
nữa rồi. Vẫn cảm giác gai gai kỳ quặc bên dưới cổ áo. Nó dừng lại và ngoái nhìn
ra sau.
“Gì vậy, Charlie?” Benjamin
hỏi.
Charlie kể cho bạn nghe về
những người nhưng không-giống-người nó đã thấy gần Góc Kim Cương.
“Đêm nay không có gì bình
thường cả,” Benjamin run rẩy. “Chưa bao giờ mình nếm thấy mùi muối trong
sương.”
Và rồi chúng nghe thấy tiếng
tru – ở rất xa, nhưng đúng là một tiếng tru. Âm thanh đó nghe hơi giống tiếng
người, nhưng không phải tiếng người. Lần đầu tiên kể từ khi ba mẹ đi nghỉ,
Charlie ước gì họ đừng đi xem cá voi.
Hạt Đậu hộc tốc trở lại chỗ
hai thằng bé. Lông xù dựng lên như lông nhím.
“Vì tiếng tru đó đó,”
Benjamin bảo. “Mình đã nghe thấy một lần rồi. Nó khiến Hạt Đậu hoảng hốt, mặc
dù bình thường Hạt Đậu vốn không sợ cái gì cả.”
Không lâu sau, Charlie nhận
ra có mối liên quan giữa tiếng tru đằng xa và sinh vật không-hẳn-là-người hình
như đang đi theo nó.
Nhưng còn về màn sương có
muối lại là điều hoàn toàn khác

