Yêu nữ - Chương 77 - 78 - 79 - 80 (Hết)
CHƯƠNG BẢY MƯƠI BẢY
Areop Enap đã thức tỉnh.
Tám con mắt màu thâm tím nhìn vào Nhà Giả Kim, lần lượt mỗi
con nháy một cái. Mặc dầu Areop Enap có thân hình của một con nhện khổng lồ,
nhưng gắn vào giữa thân mình ấy là một cái đầu thật lớn, gần như là đầu người.
Cái đầu trơn láng và tròn vo, không tai, không mũi, chỉ có một đường rạch nằm
ngang chàng thay cho cái miệng. Như của loài tarantula, mấy con mắt nhỏ xíu của
bà nằm sát đỉnh đầu. Bên dưới lớp vỏ mỏng, cái miệng thật của Lão Nhện há ra và
hai cái răng nanh dài như ngọn giáo lòi ra. “Hầu như chắc chắn là bây giờ ông
nên đi đi thôi,” bà ta nói bằng một giọng ngọt ngào đáng ngạc nhiên.
Nicholas bò toài đi chỗ khác đúng ngay lúc Areop Enap nhô
thẳng lên.
Con Karkinos khổng lồ.
Còn Areop Enap chắc nặng.
Khi lần đầu tiên Perenelle chạm trán với sinh vật này, tuy
Lão Nhện to lớn, nhưng bà ta lớn lên trong một lớp vỏ bảo vệ. Bà ta duỗi thẳng
người, thân mình đồ sộ của bà ta bung ra khỏi lớp vỏ bằng bùn. Areop Enap dễ
dàng có kích thước lớn gấp hai lần con cua kia. Những sợi tóc tím ngắt to cỡ
ngón tay trên tấm lưng rộng của bà đong đưa qua lại.
“Tôi đang ngửi thấy mùi của Quetzalcoatl và mụ kì quái đầu
mèo trong sương mù.” Bà quay sang nhìn xuống Perenelle. “Quý bà, bà có thể vui
lòng giải thích chuyện gì đang diễn ra không?”
Nữ Phù Thủy chỉ tay. “Con cua kia đang cố ăn thịt bà đó. Nó
vừa ăn thịt Xolotl xong. Chúng tôi cần bà, Lão Nhện ạ.”
Sinh vật rùng mình. “Tôi đã chờ cả đời mới nghe được như
thế.”
Sau đó bà ta nhảy thẳng lên trên không và đáp xuống trên đầu
con Karkinos, dồn nó xuống đất. Con cua kêu ré lên, bật cái càng to tướng kêu
tanh tách, ngoạm một miếng nhà, phun vụn đá ra khắp nơi. Areop Enap phóng một
cái vòi nhọn sắc như dao cạo cắm vào lưng con cua, nó đông cứng, rồi bắt đầu co
giật dữ dội. Thình lình, những sợi chỉ màu trắng nở bung ra bao quanh hai cái
càng, niêm chúng ngậm lại, và mấy cái chân to lớn của Lão Nhện động đậy, nhấc
con cua lên khỏi đất, quay nó vòng vòng, nhanh đến hoa cả mắt, hoàn toàn quấn
nó trong những sợi xám mỏng như tơ mau chóng dày lên thành một cái túi trắng
phồng to. Toàn bộ quá trình ấy mất chưa đầy một phút.
“Tôi sẽ để dành món đó cho lần sau,” Areop Enap nói. “Tôi
khá đói rồi.”
Từ từ, gần như khéo léo, bà ta thu mình trước Perenelle, mọi
con mắt chăm chăm nhìn bà bình thản. “Tôi ngủ bao lâu rồi?”
“Vài ngày.”
“À. Nhưng khi tôi nhìn bà, tôi thấy bà đã già hơn hồi đó.”
“Thật là một tuần lễ bận rộn,” Perenelle lầm bầm. “Bà nhớ
Nicholas, chồng tôi chứ.”
“Tôi nhớ ông ta đã thả cả một ngọn núi trên người tôi.”
“Những người đi theo bà sắp sửa hiến tế vợ tôi cho một ngọn
núi lửa cơ mà,” Nicholas nói. “Mà đó chỉ là một ngọn núi nhỏ chứ mấy.”
“Đúng đấy.” Areop Enap đi quanh phòng, dừng lại một chút cúi
sát tới Machiavelli đang ôm đầu Billy the Kid vào lòng mình. Tay
người Ý bướng bỉnh nhìn trừng trừng vào con nhện to tướng.
Mũi Billy giật giật, rồi mắt răng rắc mở ra. Anh ta liếc lên
cái đầu gần như là của người nhưng lại có tám con mắt. “Tôi đoán đây không phải
là một cơn ác mộng chứ,” anh ta nói khò khè.
“Không phải đâu,” Machiavelli nói.
“Tôi e là như thế,” Billy nói, và nhắm mắt lại. Sau đó lại
mở bừng ra. “Thế có nghĩa là chúng ta đã thắng phải không?”
“Đã thắng,” Machiavelli nói khẽ. “Mặc dù quả thật là cái giá
quá đắt.”
Areop Enap lựa đường quay trở lại bên Nicholas và Perenelle.
“Vậy là tôi vẫn còn ở trên hòn đảo nơi mà Dee
nhốt giữ lũ quỷ sứ. Tôi có thể ngửi thấy mùi quái thú trong không khí bẩn thỉu
này.”
“Không còn nhiều như trước nữa,” Nicholas nói. “Bọn chúng đã
tàn sát lẫn nhau suốt đêm.”
“Vậy thì tôi phải đi dọn dẹp đây,” Areop Enap vừa nói, vừa
quay người hấp tấp đi ra ngoài tòa nhà. “Chúng ta không muốn bất kì con nào
trong số đó cố lội vào bờ.”
“Nói cho bà ấy về mấy con kì lân đi,” Billy lầm bầm.
Con nhện đông cứng người lại.
“Có lẽ còn mấy con kì lân monokerata chạy long nhong đấy,”
Machiavelli nói.
“Có sừng hay không?” Areop Enap hỏi.
“Có chứ.”
“Cứng và giòn nữa rồi. Món ưa thích của tôi.”
CHƯƠNG BẢY MƯƠI TÁM
Chiếc vimana chở nặng trĩu cất cánh khỏi đỉnh Kim tự tháp
Thái Dương bay vào bầu trời đêm, mang những người sống sót đến nơi an toàn.
Josh Newman đứng ngay nơi con tàu vừa đậu, giơ bàn tay phải
lên chào tạm biệt. Cậu chăm chú nhìn khi Sophie, với Scathach và Joan hai người
đỡ hai bên, đưa tay lên ấn mấy ngón tay vào mặt kính. Bây giờ cô bé đã nín
khóc, cô bé không còn nước mắt nữa.
Một giải cứu thế giới...
Josh ngồi xếp bằng ngay giữa kim tự tháp. Lần tay xuống dưới
bộ giáp, cậu rút ra cuốn Codex mà Tsagaglalal đã trao lúc nãy. Cậu lật qua lật
lại trong tay mình, cảm nhận lớp bìa kim loại bóng láng và mát lạnh chạm vào da
thịt. Phần cuối cuốn sách bật mở, bìa sách lởm chởm cho thấy những trang giấy
bị xé ra, chỗ cậu sẽ xé trong thời gian mười ngàn năm tới.
Cúi gằm đầu, Josh lấy ra mấy trang giấy bị xé lâu nay vẫn
đeo nơi cổ. Cậu đặt chúng lên cuốn sách, len trở vào đúng chỗ. Những trang giấy
cổ xưa chuyển đổi, những sợi mỏng như chỉ xuất hiện, đan dệt và quấn chúng vào
nhau như những con sâu, chữa cuốn Codex liền lại, nguyên vẹn như cũ.
Sau đó, mở cuốn sách ngẫu nhiên, Josh đặt ngón trỏ trên
trang giấy và quan sát từng từ trong các ngôn ngữ bất tận xoắn vặn dưới móng
tay mình. Và khi nó cuộn tròn trước mặt, cậu đọc được lịch sử thế giới sau biến
cố Nhận chìm.
Trong những ngày, những tuần sắp tới, Sophie và các người
khác sẽ tập hợp những người sống sót lại, dẫn dắt họ rời khỏi hòn đảo tách biệt
này, đưa họ đi vào thế giới.
Cư dân của Danu Talis, Elder và loài người, sẽ theo Aten và
Virginia Dare, một Elder và một con người, qua phía bên kia quả địa cầu. Trong
hết thảy vùng đất xung quanh, hai người sẽ gầy dựng nên các thuộc địa, lớn mạnh
thành những quốc gia hùng cường đến một ngày kia sẽ thống trị cả trái đất này.
Sophie và Virginia, cùng với Joan và Scathach sẽ được cho là
những tên tuổi được tôn sùng như những vị nữ thần, thầy dạy, và cứu tinh của
loài người.
Và trong thời đó, Sophie Newman, sau nhiều chuyến phiêu lưu,
sẽ tìm được cách hướng dẫn những người bất tử khác xuyên qua hàng loạt các cổng
tuyến nối tiếp trở về nhà vào thời của họ, đến được San Prancisco, nơi mọi sự
bắt đầu.
Josh gấp cuốn Codex lại, nhét xuống bên dưới bộ giáp. Cậu
không muốn đọc nữa. Chưa muốn. Cậu sẽ phải giữ cuốn sách này an toàn suốt chín
ngàn rưỡi năm, cho tới khi cậu bán nó cho một anh bán sách người Pháp nghèo
không một xu dính túi.
Một hủy diệt thế giới.
Danu Talis phải lụi tàn để thế giới hiện đại vươn lên.
Và Josh sẽ hủy diệt nó.
Bốn thanh kiếm cổ xưa nằm trên đất trước mặt cậu. Abraham đã
bảo cậu rằng đây là bốn thanh kiếm sẽ ban cho cậu sức mạnh, tất cả những gì cậu
phải làm là cầm chúng trong tay và tập trung năng lượng ngay lúc này đây đang
dồn lên kim tự tháp.
Cậu chỉ phải nhặt chúng lên.
Abraham nói cậu có quyền lựa chọn. Nhưng Josh biết cậu không
có lựa chọn nào hết, thật sự là không. Nếu cậu không làm việc này, chị gái cậu
cùng mọi người khác sẽ chết, và cậu không cho phép điều đó xảy ra đâu.
Cậu ngồi xuống, xếp bốn thanh kiếm trước mặt mình.
Nhưng cái nào, có theo trật tự không?
Bất chợt cậu nhớ lời Dee đã nói với mình. Cậu buột miệng
thốt ra những lời ấy. “Khi nào nghi ngờ, hãy cứ làm theo những gì trái tim mách
bảo. Lời nói có thể giả tạo, hình ảnh và âm thanh có thể bị xuyên tạc. Nhưng
cái này...” Cậu vỗ vỗ vào ngực, bên trên trái tim mình. “Cái này luôn luôn
đúng.”
Không chần chừ, bàn tay trái cậu ngay lập tức với lấy thanh
Clarent, Hỏa Kiếm. Cậu cảm thấy sức nóng rùng rùng của lưỡi kiếm cổ xưa khi nó
đằm xuống trong lòng bàn tay cậu, và thoáng thắc mắc về nguồn gốc của những
Thanh kiếm Quyền lực này. Không thành vấn đề, cậu nghĩ, trong tương lai mình
tha hồ có nhiều thời gian nghiên cứu tìm tòi.
Dùng bàn tay phải, cậu với lấy thanh Joyeuse, Địa Kiếm, đặt
vào bàn tay trái. Nó vừa tựa lên đầu thanh Clarent, tức thì vỡ ra thành đất khô
và bụi nhuyễn, kêu xì xì khi bị hút vào Hỏa Kiếm.
Thanh Clarent bắt đầu lóe rực ánh sáng nóng đỏ, Josh ngửi
thấy mùi thịt cháy. Da thịt của chính cậu.
Luồng điện cậu bắt đầu bốc ra khỏi người như làn hơi nước
nhuốm hương cam.
Nhanh tay cậu ấn Durendal lên đầu Clarent. Thanh Khí Kiếm
nhanh chóng tan thành làn sương trắng và bốc hơi trên lưỡi kiếm duy nhất.
Và cuối cùng là Excalibur, Băng Kiếm.
Josh nhấc nó lên bằng bàn tay phải, cầm một lát, biết rằng
ngay khi cậu ráp chúng vào với nhau, mọi thứ sẽ thay đổi, rồi cậu bật cười. Mọi
thứ đã thay đổi rồi còn gì. Đã thay đổi cách đây lâu lắm.
Josh đứng lên, thanh Clarent trong tay trái, Excalibur tay
phải. Cậu giữ cả hai thanh kiếm ở trên cao và toàn bộ khối kim tự tháp gào rống
lên như một con quái thú khổng lồ. Sau đó cậu cùng đưa hai bàn tay ra trước
mặt, ấn Băng Kiếm vào Clarent. Một tiếng nổ vang, hơi nước phủ lên bàn tay trái
cậu. Bốn Thanh kiếm Quyền lực - Hỏa, Địa, Khí và Băng kết hợp lại tạo thành sức
mạnh thứ năm: Aether, cháy xuyên qua người cậu, đổ đầy kiến thức vào cậu, và
cùng với kiến thức là sức mạnh bao la không thể tưởng, hàng trăm thiên niên kỉ
lịch sử và hiểu biết ngập tràn qua người cậu.
Cậu biết hết mọi thứ!
Luồng điện của cậu thật dữ dội, một ngọn giáo cứng kết bằng
ánh sáng màu da cam cháy sáng lóa vọt cao lên khắp tầng trời.
Josh nhìn bàn tay mình. Cả bốn thanh kiếm đá bây giờ không
còn nữa. Chúng đã bị nuốt lẫn vào nhau, trở nên một thanh kim loại duy nhất, từ
từ tan chảy thành da thịt cậu, tra khít vào, hóa ra một phần con người cậu, uốn
cong, xoắn bện, cuộn tròn thành một chiếc móc câu dẹp bằng kim loại.
Một cơn đau ập đến, cơn đau chưa từng nếm trải bao giờ. Cậu
thét một tiếng thật lớn, âm thanh bắt đầu là nỗi đau đớn nhưng kết thúc lại là
tiếng reo mừng chiến thắng, khi cậu giơ cao chiếc móc câu sáng bạc hướng lên
trời. Cậu có thể cảm nhận nguồn năng lượng không thể tin nổi đang tụ hội trong
khối kim tự tháp này, lắc nó rung dữ dội, như chực chờ được giải phóng. Cậu sẽ
xé hòn đảo này thành từng mảnh và sẽ phá hủy thế giới của các Elder, và chính
trong giây phút đó, mang sự sống cho thế giới con người.
“Tạm biệt, Sophie,” Josh Newman nói, sau đó Marethyu thọc
chiếc móc câu xuống kim tự tháp dưới chân mình. Và cậu lớn tiếng nói những lời
cuối cùng đọc được trong cuốn Codex.
“Hôm nay, tôi trở thành Thần Chết, kẻ hủy diệt các thế giới.”
CHƯƠNG BẢY MƯƠI CHÍN
Tay trong tay, Nicholas và Perenelle Flamel chầm chậm thả bộ
quanh hòn đảo. Họ đã già không thể tin nổi, dấu tích của mỗi một năm trong sáu
trăm năm cuộc đời khắc vào da thịt vào xương cốt họ.
Mặt trời đang mọc ở trời đông, một cơn gió lạnh giá thổi
quất ra Thái Bình Dương, quét bay hết mùi hôi hám cuối cùng của lớp sương mù,
mùi thịt khét, gỗ cháy, và đá tan chảy. Bầu không khí một lần nữa lại bắt đầu
ngửi thấy mùi muối tinh sạch.
Họ đi bộ ngang qua bến tàu, lần theo đường mòn Agave Trail
lượn quanh hòn đảo, gần như đến đúng điểm lúc nãy họ lên bờ cách đây chưa đầy
mười hai tiếng. Băng ghế dài ẩm ướt, Nicholas cúi xuống lấy ống tay áo lau sạch
rồi mới để Perenelle ngồi.
Nicholas ngồi cạnh Perenelle, bà tựa vào người ông. Ông vòng
tay ôm vợ, cảm nhận khung xương mảnh dẻ và thanh tú ấy dưới bàn tay mình. Ngay phía
trước họ, thành phố San Francisco hiện ra mờ mờ như bóng ma trên nền trời đầu
giờ bình minh.
“Chẳng có con nhân ngư nào ư?” Perenelle hỏi.
“Không có Nereus để giữ chúng ở đây, chúng có lí do gì mà ở
lại chứ.”
“Tốt, chí ít thì thành phố vẫn còn đứng vững,” Perenelle nói
bằng tiếng Pháp, giọng bà như sợi chỉ lưa thưa. “Tôi có thể thấy là không có
khói bay lên trời.”
Nicholas nhìn qua phải rồi qua trái. “Và cây cầu không bị hư
gãy. Thật là một dấu hiệu tốt.”
“Prometheus và Niten đã không khiến chúng ta thất vọng. Hẳn
họ còn sống sót,” bà nói. “Chắc chắn tôi hi vọng thế,” bà nói thêm rất chân
thành. “Đêm nay chúng ta mất mát quá nhiều người tốt rồi.”
“Họ đã dâng tặng cả mạng sống để làm điều họ tin là đúng,”
ông nhắc bà. “Họ đã dâng tặng mạng sống chính mình để nhiều người khác được
sống và thế giới còn tiếp diễn. Không có sự hi sinh nào lớn lao hơn. Và nếu
sáng hôm nay thành phố vẫn tồn tại, thì hóa ra họ đã chết không vô ích chút
nào.”
“Còn chúng ta thì sao, Nicholas? Chúng ta có luôn làm điều
đúng không?”
“Có lẽ không,” ông dịu dàng nói. “Nhưng chúng ta luôn làm
những gì mình tin là đúng. Thế có giống nhau không nhỉ?”
“Vừa mới nãy tôi đã tự hỏi không biết lâu nay chúng ta có
nên tìm kiếm cặp song sinh huyền thoại như thế không.”
“Mà nếu không tìm, thì chắc chúng ta sẽ chẳng bao giờ thấy
Sophie và Josh,” Nicholas nói một cách giản dị. “Từ giây phút tôi mua cuốn sách
của Abraham, đời của chúng ta đã trở nên một cuộc hành trình dẫn chúng ta đến
nơi này và lúc này. Đó là định mệnh của chúng ta, đâu ai trốn được định mệnh
của chính mình.”
“Tôi thắc mắc không biết cặp song sinh giờ đang ở đâu?” bà
thầm thì. “Tôi muốn biết... biết trước khi đến hồi kết. Tôi cần biết rằng hai
đứa vẫn sống sót.”
“Chúng sẽ an toàn mà,” ông nói đầy vẻ tự tin. “Tôi phải tin
điều đó bởi vì thế giới này vẫn tiếp diễn đấy thôi.”
Perenelle gật gù. “Chắc mình nói đúng.” Bà tựa cằm lên cánh
tay Nicholas. “Thật yên bình,” bà nói. “Trên đảo sáng nay yên tĩnh quá.”
“Không có con mòng biển nào. Bầy quỷ sứ kia hoặc đã ăn thịt
chúng hoặc đã làm chúng sợ mà đi mất rồi. Chúng sẽ quay lại thôi.”
Cỏ xạc xào trong cơn gió nhẹ, từng đợt sóng vỗ khẽ vào đá
theo nhịp điệu dịu dàng. Perenelle nhắm mắt. “Mặt trời thật ấm áp,” bà nói
thầm.
Nicholas áp một bên mặt lên đỉnh đầu bà. “Rất ấm áp. Sẽ là
một ngày rực rỡ đây.”
Khi họ ngồi đó, vầng mặt trời chầm chậm nhô lên chân trời,
chiếu ánh sáng màu vàng kim dọc theo cầu Vịnh, làm chiếc cầu sáng bừng. Thành
phố San Francisco dần tỉnh giấc, trong không khí nghe có tiếng xe cộ văng vẳng,
thật êm tai.
“Mình biết lúc nào tôi cũng yêu thương mình,” Nicholas nhẹ
nhàng nói.
Im lặng kéo dài, sau đó Perenelle đáp trong tiếng thì thào, “tôi
biết điều đó mà. Và mình có biết tôi yêu mình lắm không?”
Ông gật đầu. “Tôi chưa bao giờ nghi ngờ điều đó dù chỉ một
giây.”
“Tôi muốn được chôn cất ở Paris,” Perenelle chợt nói. “Trong
những ngôi mộ trống đó chúng ta đã chuẩn bị cho chính mình trọn ngần ấy năm rồi
còn gì.”
“Có quan trọng chúng ta nằm ở đâu không, miễn chúng ta ở
cùng nhau là được chứ nhỉ?” Nicholas vừa hỏi, vừa nhắm mắt.
“Tất nhiên là không quan trọng,” bà nói, và đôi mắt cũng
khép lại.
Một bóng người xuất hiện trước đôi vợ chồng.
Họ mở bừng mắt chợt thấy một người đàn ông trẻ tuổi cao ráo
có đôi mắt màu xanh lơ đứng bên trên họ. Ông ta quấn mình trong tấm áo choàng
da dài có mũ trùm. Mặt trời ở phía sau, ném gương mặt đang đội mũ trùm của ông
vào vùng tối. Nửa vòng kim loại chiếu sáng lung linh thế chỗ cho bàn tay trái.
“Tôi tự hỏi không biết ông có đến không,” Nicholas Flamel
nói khẽ.
“Từ những năm xa xưa tôi đã có mặt ở đó vào thời điểm khởi
đầu khi bán cho ông cuốn sách và khiến ông lên đường tham gia vào cuộc hành
trình vĩ đại này. Việc đó chỉ ăn khớp khi tôi trở lại vào thời điểm kết thúc
thôi.”
“Ông là ai?” Nhà Giả Kim hỏi.
Người đàn ông có bàn tay móc câu kéo chiếc mũ trùm xuống.
Ông ta cúi mình trước Nicholas và Perenelle, cầm hai tay họ trong tay mình và
nhìn sâu vào mặt họ. “Hai người biết tôi mà,” ông ta nói.
Nicholas dò xét gương mặt có những vết thẹo và đường nhăn
của người đàn ông trẻ tuổi, còn Perenelle với tới rà rà mấy ngón tay lên cằm,
lần theo độ phẳng của vầng trán và độ cong của xương gò má. “Josh, Josh Newman?”
“Hai người từng biết tôi với cái tên Josh Newman,” ông ta
nói rất đỗi dịu dàng. “Nhưng đó là trước khi xảy ra biến cố này,” ông ta giơ
chiếc móc câu lên, “một câu chuyện hết sức dài.”
“Còn Sophie thì sao?”
“Một đêm đi qua đời người, là gần bảy trăm năm trôi qua cuộc
đời cô ấy, nhưng cô ấy không hề già. Cô ấy có rất nhiều cuộc phiêu lưu qua bao
nhiêu năm tháng, nhưng sáng hôm nay đã trở lại với San Francisco an toàn và
mạnh khỏe bên dì Agnes.”
“Còn ông, Josh. Còn ông thì sao?”
“Josh không còn nữa. Bây giờ tôi là Marethyu. Tôi là Thần
Chết, và tôi có mặt ở đây để đưa hai người về quê nhà.” Chiếc móc câu của ông
động đậy và một đường vòng cung màu vàng kim hiện ra bên trên băng ghế. Không
khí chợt ngửi thấy mùi hương cam, ông ta nhoẻn cười. “Hai người vừa nhắc đến
Paris còn gì, phải không nào?”
Cổng tuyến mở ra, rồi nhấp nháy biến mất.
CHƯƠNG CUỐI
Chị yêu quý,
Em không thể hứa với chị là sẽ viết rất nhiều thư, chị thừa
biết khả năng viết lách của em tồi tệ đến thế nào, và thật sự nơi em ở cũng
chẳng có điện thoại.
Em muốn chị biết rằng em an toàn mạnh khỏe, và đã dần quen
với chiếc móc câu. Em đã cào trúng vào đầu mỉnh bằng chiếc móc câu ấy, nhưng
cái đó thuộc loại sai lầm chỉ được phạm một lần. Cũng có vài người đề nghị em
biến nó thành bàn tay bằng bạc đích thực hoặc chiếc găng tay bằng vàng, nhưng
thật tình mà nói, em đã bất đầu thấy thích thế này hơn. Và đương nhiên rồi, nó
đúng là có vài ưu điểm tuyệt vời. Em đã dùng nó để tạo ra Vương quốc Bóng Tối
đáng kinh ngạc nhất này chỉ vừa mới tháng trước. Em đã đặt vài con thú thời
tiền sử vào trong đó, rồi còn thêm hai mặt trăng nữa và tất nhiên, không hề có
rắn.
Em tin rằng chị đã đi nghỉ ở London với dì Agnes. Cho em gởi
lời thăm Gilgamesh nhé. Tốt nhất là đừng kể cho ông ấy biết em đã, đang, sẽ là
ai. Ông ấy xáo lộn lung tung thế đủ rồi.
Xin đừng lo lắng cho em.
Em biết nói thế này cũng như bảo chị đừng thở, nhưng thật sự
em cần chị biết rằng em đang rất ổn. Còn hơn cả ổn ấy chứ. Mỗi ngày em lại khám
phá ra nhiều sức mạnh trong mình hơn. Em bất tử và vĩnh viễn tồn tại, em không
tiếc nuối gì hết. Chúng ta đã làm điều đúng: một giải cứu thế giới, một hủy
diệt nó.
Chị biết rằng nếu bất cứ lúc nào cần đến em, tất cả những gì
chị phải làm là hãy nhìn vào gương và gọi tên em ba lần. (Dùng tên mới ấy nhé,
em không chắc chị gọi Josh sẽ có tác dụng gì đâu.)
Chị gọi lúc nào, em sẽ đến với chị ngay lúc ấy.
Nhưng mặc dù không gọi đi nữa. Sophie, hãy biết rằng em luôn
trông nom canh chừng chị mọi ngày trong đời chị đấy.
Đó là nhiệm vụ một đứa em trai phải làm mà, đúng không?
Marethyu,
Viết vào hôm nay, ngày 10 theo lịch Imlboc, tại Vương quốc
Bóng Tối,
Đảo Tir Nan Og.
Tái bút: Nhà Flamel gởi đến chị lòng yêu thương của họ.
Marethyu.
Tái tái bút: Tụi em đã đến dự đám cưới Aoife và Niten hồi
tuần trước. Scathach làm phù dâu. Mọi người hò reo vui vẻ lắm.
End.
Thực hiện bởi
nhóm Biên tập viên Gác Sách:
Mai – Fuju – thao1011
(Tìm - Chỉnh sửa - Đăng)

