Bão đồng - Chương 09 - Phần 1

- 9 -

Thuật vừa nhắc đến vụ gặt tranh điền, như nhắc đến một bóng
ma từ mấy năm nay vẫn ám ảnh ông chủ tịch xã.

Thực, bấy giờ Thuật chưa làm chủ tịch, mới chỉ làm phó chủ
tịch phụ trách công an, cái chân Đĩnh ngoài Phương Lưu đảm trách bây giờ. Còn
Lận bấy giờ làm phó chủ nhiệm hợp tác xã toàn xã. Vừa sáp nhập bốn hợp tác xã ở
bốn làng thành hợp tác xã toàn xã được vụ trước, vụ sau liền xẩy ra cuộc tranh
điền có một không hai trong lịch sử điền địa, không những của xã này, mà còn
của cả huyện này, tính đến ngày ấy.

Nguyên cánh đồng Mái xa xưa là ruộng của dân ngoài xóm trại,
thuộc loại mật điền, cấy năm hai vụ chiêm mùa ăn chắc. Khi sáp nhập bốn hợp tác
xã làng thành hợp tác xã có quy mô toàn xã, ruộng đất gần xa, tốt xấu được dồn
lại, rồi chia đều cho các đội sản xuất, cũng là bốn làng, bốn hợp tác xã trước
đây. Vậy là để cho công bằng, có gần có xa, có tốt có xấu, xã viên của đội này,
làng này có khi phải sang tận cánh đồng ở ngay sát làng kia, đội kia để nước
nôi, cày bừa, phân gio, cấy gặt. Còn ruộng kề làng mình có khi lại dân làng
khác kéo nhau sang cày bừa, nước nôi, phân gio, cấy gặt cũng là chuyện thường.
Kể cũng vui, người làng này với người làng kia nếu không có sự bình quân, công
bằng đất đai canh tác, có khi cả năm, cả đời cũng chẳng qua lại làng nhau làm
gì. Giờ bỗng dưng một năm tứ mùa không biết bao nhiêu lần đi lại, không chỉ đi
lại bằng đôi chân, còn dong cả trâu, kéo cả xe cải tiến, đánh cả xe bò chở phân
gio, lúa má lộc cộc, lốc cốc còn thiếu băm nát đường làng người ta ra nữa. Mà
đường làng thì có phải ở đâu cũng chỉ đắp đất, rải gạch xỉ lò, hoặc đập gạch vỡ
rải đều lên trên. Có con đường chạy vào làng như đường làng Phương Trì, Phương
Trà nát toàn bằng gạch đóng cheo của các cô gái làng lấy chồng, mỗi người nộp
đủ ba trăm viên gạch chỉ, già đến mức gõ coong coong như gõ vào tấm phiến đá,
cho làng nát đường. Thế mà bây giờ người từ làng khác quanh năm tứ mùa phân
gio, xe cộ đi như băm đường người ta ra thì ai mà chịu nổi. Thế là sinh chuyện.
Làng này bắt làng kia mỗi vụ phải nộp trả ngần này

gạch, ngần này tiền công sửa chữa lại đường, nát lại những
chỗ gạch bị vỡ. Ôi dào, chuyện nhỏ, mấy trăm viên gạch đáng gì, hợp tác xã có
những bốn khẩu lò, mỗi tháng ra lò hàng chục vạn viên gạch, chỉ cần cái phẩy
nhỏ trong số ấy các ông các bà cũng nát đường bại. Đúng là chuyện nhỏ, so với
một hợp tác xã có quy mô toàn xã, gồm gần năm trăm héc- ta đất canh tác, với số
dân hơn vạn người, nên cũng chẳng ai quan tâm, không ai đứng ra giải quyết.
Cộng với sự tiếc nuối cố hữu của người nông dân với mảnh ruộng, xứ đồng của
dòng tộc, làng xóm mình, bỗng bị người từ nơi khác đến chiếm hữu. Nên cái
chuyện tưởng như nhỏ nhặt, tiểu nông ấy đã không còn là nhỏ nữa. Sau thời gian
âm ỉ như hòn than hồng ủ dưới lớp tro, đến vụ gặt tháng mười năm ấy, bà con xã
viên đội Phương Trì, như lệ thường, kéo nhau ra cánh đồng Mái gặt lúa. Đồng Mái
nguyên là ruộng thuộc loại mật điền của làng Phương Lưu, nay điều chỉnh lại đất
canh tác giữa các làng cho công bằng, có tốt có xấu, hợp tác xã toàn xã mang
chia cánh đồng Mái ra làm hai: một nửa diện tích vẫn thuộc đội sản xuất Phương
Lưu, còn nửa kia là của đội Phương Trì.

Buổi sớm một ngày tháng mười trời dầy đặc sương mù. Màn
sương bồng bềnh như sợi tơ bông la đà trên mặt ruộng, vấn vương vào những bông
lúa uốn câu, làm cho màu vàng của thóc cũng nhạt nhoà sương khói. Mặt trời vừa
hé ra sau lùm tre, nhọc nhằn tãi ánh nắng vàng vọt lên cánh đồng còn đẫm hơi
sương. Trời khô hanh, da thịt căng ra, tưởng chỉ khẽ chạm vào vật gì săng sắc
một tý là có thể toé máu ra liền. Trong cái tiết tháng mười khô hanh rất ít
thấy năm ấy, những ông bà thợ gặt đội Phương Trì ra đến đồng Mái chưa vội xuống
ruộng ngay, còn túm năm tụm ba nơi đầu bờ hút thuốc lào, chia nhau miếng trầu
gói trong lá rau cải canh cho mềm cau, tươi trầu, có bà ăn trầu thuốc còn bỏ cả
nắm thuốc lào lẫn vào với trầu cau, gói kỹ lại trong cái lá rau cải táp đi như
luộc. Có bà vui tính còn không ai khảo cũng xưng, rằng buồn cười quá mấy người
ơi, hôm qua nhà Khuể nhà Khuê, không biết là may hay rủi, vợ vừa quẩy gánh thóc
về đến ngõ gặp ngay con rắn ráo to bằng cái đòn càn chúi vào đám rơm ve vẩy đuôi
ra. Con Khuê lúc đầu nhìn thế nào lại ra con chuột, định thò tay chộp lấy cái
đuôi quay cho chết đứ đừ ra mới cầm. Nhưng vừa đụng vào cái đuôi thì nhìn thấy
cái đầu nó chui ra khỏi đám rơm, rõ ràng là con rắn. Thế là tiện đòn gánh nó
phang cho một nhát trúng đầu. Mà rắn đã phang trúng đầu thì chỉ còn nước nằm
cuộn mình chờ chết, chứ còn luồn lủi đâu được nữa. Nhưng mà này, gặp rắn ngang
đường là may hay rủi, hả mấy người? Nhện sa, xà đón, gặp rắn ngang đường là may
rồi. Thế nhưng rồi sao, có làm thịt ăn hay lại vứt đi thì phí của. Kìa, ông
Vĩnh đang hỏi nhà Khuê vất con rắn ra đâu, bảo ông ấy đi nhặt. Gớm, cái nhà ấy
nó lại có vất đi nhiều. Chỉ có mỗi con rắn ráo mà các ông các bà có biết nhà nó
làm thế nào không? Da nó lột ra, rồi căng ra phơi, thấy bảo để khô bán cho các
ông phường kèn làm dây kéo nhị, chả biết có đúng, nhưng đúng là con rắn nhà nó
không vất đi đâu một tý gì. Thôi, đừng con cà con kê nữa, nói nhanh rồi đi làm,
mặt trời lên, sương tan rồi kia kìa, lột da xong làm sao. Lột da xong thì mổ ra
lấy mật ngâm rượu uống, gọi là cứ bổ thượng bổ hạ, bổ âm bổ dương…

Này thượng…! Này hạ này…!

Này âm…Này dương này…!

Từ trong ruộng lúa, ngay chỗ trước mặt đám thợ gặt làng
Phương Trì đang ngồi ăn trầu, hút thuốc, tào lao chuyện rắn rết, bỗng như từ
dưới âm ty vụt lên mấy chục người toàn đàn ông lực lưỡng tay dao, tay gậy đằng
đằng sát khí, lại có cả những người cầm súng trường, tiểu liên vừa dạt lúa chạy
đến chỗ đám thợ gặt Phương Trì, vừa vung dao, vung gậy thét toáng lên những câu
như thế. Đám thợ gặt làng Phương Trì bị bất ngờ vội xô gạt vào một chỗ, có
người còn chưa kịp đứng lên, cứ ngồi ngay cán tàn, mặt cắt không còn hạt máu.
Nhung khi nghe một người trong đám nam giới vừa từ ruộng lúa chui ra, nói như
quát:

- Ai cho các người sang gặt lúa đồng này? Đây là mộng đất
của ông bà tổ tiên chúng tao để lại. Không được bất cứ người nào xâm hại đến
đất đai Phương Lưu chúng tao. Các người dân Phương Trì thì về Phương Trì mà cấy
gặt. Về… về ngay…!

Tức thì, đám người từ dưới ruộng ào lên, huơ chân múa tay:

- Về… Cút…!

- Cút về ng… ay…!

- Về đồng Phương Trì các người mà gặt!

Một ông đã đứng tuổi trong đám thợ gặt Phương Trì, đang
hoảng hốt dạt vào một chỗ, liền bước ra:

- Tôi xin hỏi mấy chú, Phương Trì với Phương Lun có cùng hợp
tác xã không?

- Cùng mới không cũng chẳng làm gì. Chỉ rõ như ban ngày rằng
đây không phải ruộng của Phương Trì, thì các người hãy về đi!

Một người chạc tuổi trung niên trong tốp người Phương Lưu
vừa tiến lại phía đám thợ gặt Phương Trì nói xong câu đó, không biết có phải vì
cách nói của anh có phần mềm hơn mấy thanh niên hùng hổ quát lác “Cút về, cút
về ngay” kia không, mà lập tức đám người Phương Trì nhao nhao lên:

- Cùng một hợp tác thì ở đâu cũng là ruộng hợp tác. Các
người không có quyền giữ!

- Ruộng này hợp tác giao cho đội Phương Trì cày cấy, chúng
tôi nhất định phải gặt. Không người nào giữ được. Các ông, các bà đâu, cứ xuống
gặt đi!

- Cứ xuống gặt đi, đố chúng nó làm gì được chúng ta!

- Đoàng… Đoàng đoàng!

- Đoàng…!

- Ối giờ… ơ… i…!

Từ trong đám dân Phương Lưu, một tay thanh niên giơ khẩu
súng trường lên bắn liền mấy phát. Một tay đứng cạnh thấy thế cũng vội bóp cò.
Viên đạn đi không chủ đích, bay xuyên ống quần cái bà vừa thách: “Đố chúng nó
làm gì được chúng ta!”. Sau tiếng kêu của người bị nạn, tức thì cả hai bên như
đều cỡi trên lưng hổ, không bên nào chịu nhún nhường bên nào, cứ thế xông vào
ẩu đá, hò hét: “Nợ máu phải trả bằng máu!”. Thợ gặt làng Phương Trì tức giận
huơ liềm hái, đòn càn, đòn xóc. “Đánh bỏ mẹ dân Phương Trì sang làng ta gặt
cướp lúa, bà con ơi!”, đám đàn ông làng Phương Lưu vừa hét vang đồng, vừa cho người
chạy về làng kéo thêm người ra. Thấy thế, đám thợ gặt Phương Trì cũng cử người
về báo cho ban đội đưa dân quân, cờ đỏ dao gậy, súng ống kéo ra tiếp viện. Hai
bên dàn thế trận trên cánh đồng Mái, hay đúng hơn, chỉ trên một thửa ruộng mà
đám thợ gặt làng Phương Trì mới ban nãy còn ngồi lại đầu bờ ăn trầu, hút thuốc,
chuyện rắn rết, may rủi. Cứ bên này bước chân xuống ruộng cắt lúa, tức thì, bên
kia lại từ dưới ruộng vung dao gậy, dương súng ống đứng lên. Hai bên gằm ghè
nhau chẳng khác hai con trâu đực mộng nghênh sừng, trước khi xông vào trận
quyết đấu. Cuộc chiến mà hai bên đều là xã viên trong một hợp tác xã, nhưng bên
này nhiếc bên kia là: “Quân ăn cướp, không phải ruộng làng mình cũng kéo nhau
sang gặt”; còn bên kia lại nhiếc bên này: “Quân ăn cướp, không cày cấy mà dám
đòi gặt!”. Xen lẫn những lời nhiếc móc ấy là những câu hò hét: “Cứ xuống gặt
đi! Cờ đỏ cũng không sợ!”. Rồi những câu đe doạ tưởng như mỗi cây lúa đổi một
mạng người: “Đứa nào xuống gặt đập chết đi!”.

Cuộc chiến tưởng chừng không hồi kết.

Thì may sao…

***

Thuật họp trên huyện, giá như mọi khi ăn trưa xong thể nào
cũng vào chỗ em rể ngả lưng, đầu giờ chiều mới về. Nhưng hôm ấy thấy ruột gan
nóng như lửa đốt. Lại nghĩ bà cụ ở nhà làm sao, vì tối hôm trước tắm bị lạnh,
đêm cảm sốt tới ba chín, bốn mươi độ. Người già nóng lạnh thất thường cũng phức
tạp lắm. Trường định kéo vào chỗ Trường nghỉ trưa, Thuật đành nói thật với em
rể thế. Rồi cứ một mực đòi về. Thế là Trường bảo chờ em nói lái xe đưa anh em
mình về, nhân thể em xem bà thế nào, nếu nặng bệnh có khi đưa luôn bà lên bệnh
viện.

Xe ra đến cổng uỷ ban huyện thì dừng lại, chờ bảo vệ mở
cổng. Vừa lúc Hưởng ở nhà ăn tập thể về, nhìn chiếc ghế trước thấy Trường đang
ngồi, tay vẫn còn cầm chiếc tăm chọc chọc vào kẽ răng, đằng sau lại có Thuật đang
ngả người ra thành ghế dài. Hưởng bước vội đến, thò đầu vào chỗ cửa xe đang mở,
nhoài qua ghế lái xe, hỏi Trường: “Anh đi có việc gì mà vội thế? Không nghỉ
trưa đã”. Trường vẫn thọc tăm vào mồm, hơi quay người lại: “Bác Thuật vội về,
tiện xe, mình xuống thăm bà ngoại các cháu luôn thể. Nghe bác Thuật nói, hôm
qua chẳng biết cụ tắm tiếc thế nào, cảm sốt cao lắm”. Thế là Hưởng vội quay lại
phía sau, vừa mở cửa, vừa bảo: “Tiện có xe tôi cũng xuống thăm bà luôn thể”.
Trường quay người lại: “Thế thì lên đi. Bác Thuật ngồi lũi sang bên này, thế,
ghế ngồi bốn, giờ chỉ có hai ông, rộng chán”. Hưởng trèo lên ngồi cạnh Thuật.
Chưa yên vị thì chiếc xe u-oát đít tròn sơn màu xanh lam, gần như chỉ dành
riêng cho chủ tịch huyện, vội rồ ga, chồm lên, rồi lao vút ra cổng.

Xe vừa chạy khỏi làng Phương Trà, chợt nhìn thấy phía làng
Phương Trì, lối đi tắt cánh đồng sang Phương Lưu, người đi kẻ lại vẻ tất tả vội
vàng lắm. Linh tính như mách Thuật việc chẳng lành. Thuật vội nhoài người lên
ghế trên, bảo Trường: “Có khi chú với anh Hưởng xuống đi bộ về thăm bà trước,
tôi nhờ xe chạy thẳng ra ngoài kia, xem làm sao lại nhốn nháo thế vậy”. Trường
cũng nhìn về phía đầu xe, theo hướng Thuật chỉ, rồi bảo: “Thôi thế này, để anh
Hưởng đi cùng bác ra ngoài đó xem sao, hình như có chuyện gì ầm ộ thì phải”. Xe
dừng lại cho Trường xuống. Khi Trường còn chưa kịp rẽ vào lối xóm nhà Thuật, đã
nghe chát chúa bên tai mấy phát súng trường, tiếp sau là cả một băng tiểu liên
nổ giòn giã, đan xen những tiếng súng trường điểm xạ ba phát một. Trường bỗng
thấy hoảng hồn, bỏ mẹ, sao lại súng ống đì đòm thế nhỉ, nhưng liền hiểu ngay là
lại tranh giành lúa má rồi. Từ năm sáp nhập hợp tác xã thôn thành hợp tác xã
quy mô xã, điền thổ đảo lộn, để đội nào cũng có gần có xa, có tốt có xấu, thì
chẳng mấy vụ không xẩy ra tranh giành đất đai, lúa má, không vào vụ cấy thì vào
vụ gặt, không cãi lộn đánh chửi nhau thì đe doạ dùng dao, dùng súng giành lại
đất đai, không anh nào chịu anh nào. Trường vẫy vẫy tay làm hiệu cho xe chờ
mình cùng ra xem sao, nhưng khoảng cách giữa Trường và chiếc xe đã quá xa. Hình
như trên xe có ai đó thúc lái xe chạy nhanh thì phải, chứ không, đường xấu, sao
xe vẫn chạy nhanh thế. Trường chỉ còn biết đứng nhìn theo chiếc xe chạy băm băm
qua cánh đồng đang rực lên màu vàng lúa chín, mà lòng man mác một nỗi buồn.

Khi chiếc xe u-oát có Thuật và Hưởng đang ngồi, lao đi được
một đoạn thì bỗng nghe tiếng đạn nổ chí chát, chiu chiu trên đầu. Thuật hốt
hoảng giục lái xe chạy nhanh lên tý nữa, không hỏng ráo cả bây giờ. Chúng nó mà
bắn nhau có đứa làm sao thì mình cũng chết. Xe vừa tăng ga chạy được một đoạn,
bỗng thấy bờ lúa bên đường có năm bảy người đột ngột đứng lên, giơ tay ra hiệu
dùng xe. Thuật nhận ra người làng Phương Trì, vội hét lái xe dừng lại, dừng
lại. Xe chưa dừng hẳn Thuật đã bật cửa nhẩy xuống, tý dúi đầu vào ruộng lúa.
Cũng vừa lúc mấy người chạy ra quây chặt lấy Thuật, kẻ nói người khóc: “Bọn xóm
trại Phương Lưu bắn bị thương bác Lẫm gái rồi”. Thuật đi lại chỗ bờ ruộng có
người nằm mặt che nón, một bên chân băng ngang đùi bằng mảnh vải quần. Thuật
nhấc chiếc nón ra, cúi xuống hỏi: “Bác có đau lắm không?”. Người đàn bà chạc
năm mươi tuổi, đầu bịt khăn vuông đen, vội chống một tay xuống, định ngồi dậy.
Nhưng Thuật bảo: “Thôi, bác cứ nằm nghỉ”. Rồi quay ra hỏi mấy người đứng lố
nhố: “Sao không đưa bác ấy về trạm y tế, lại để nằm đây thế này? Mau về lấy
võng, khiêng bác ấy về trạm y tế ngay đi!”. Một ông chừng ngoài năm mươi, dè
dặt: “Dạ, thưa chủ tịch, ông Rục bảo cứ đê ngoài này, sau còn làm nhân chứng,
không bọn xóm trại nó lại cãi trắng đi thì sao”. Thuật bỗng thấy giận ông đội
phó Phương Trì nông nổi, cứ làm như đám trẻ trâu mạnh ai nấy cãi là được. Nhưng
đã nghe Hưởng bảo: “Các bác cứ khiêng bác ấy về trạm y tế, đã có tôi với bác
Thuật ra giải quyết đây rồi”. Hưởng vừa dứt lời đã thấy bà thợ gặt bị thương
lồm ngổm đứng dậy, nét mặt không có vẻ gì là đau đớn lắm. Bà ta nói chậm và rõ:
“Tôi còn đi được”. Rồi kẹp chiếc nón vào nách, đưa hai tay ra sau gáy quấn lại
mớ tóc đang xoã sau lưng, tập tững đi. Hưởng, rồi Thuật, vội quay sang hỏi mấy
người cũng đang vừa cười, vừa nói, đi cùng bà thợ gặt bị thương ra đường cái.

Thì ra, đúng là đám cờ đỏ Phương Lưu có bắn vào chân bà ấy
thật, nhưng chỉ thủng một đám chỗ ống quần, sượt một tý vào bắp đùi, chẩy một
ít máu, đắp mấy mồi thuốc lào vào, buộc cái lá rau cải gói trầu thuốc một tý là
cầm ngay. Thực tình, một ông liến thoắng nói, súng nghe bắn chí chát thế, nhưng
toàn bắn chỉ thiên doạ nhau thôi, chả biết sao lại có thằng mới tập bắn, nên
đạn mới đi ngang thế không biết. Nhưng đội phó Phương Trì cầm quân ra gặt ngoài
cánh đồng Mái lập tức có bé xoé ra to, cắt luôn một bên ống quần của bà ta buộc
ngang bắp chân làm băng, rồi cử mấy người thay nhau cõng bà thợ gặt bị thương
lui về tuyến sau, để chờ bên Phương Lưu chấp nhận điều kiện đã.

Chưa biết điều kiện bên Phương Trì đưa ra là gì, nhưng khi
xe đưa Thuật và Hưởng ra tới nơi, thì cuộc chiến tranh điền đã im tiếng súng,
hai bên chỉ còn đứng dàn thành hai hàng trên hai phía bờ ruộng. Gậy gộc, súng
ống, cả liềm hái của đám thợ gặt Phương Trì và đám cờ đỏ Phương Lưu đều đã bỏ
cả xuống, người để ngay dưới chân, người khoác qua vai, người khoành hai tay
giấu vật dụng ra sau lưng. Nếu không được nghe tiếng súng chí chát vừa nãy,
không ai có thể nghĩ những người kia vừa qua trận khẩu chiến, có cả sự hăm doạ
bằng hung khí, suýt có người thiệt mạng. Thấy Thuật đi với một người lạ bằng
chiếc xe ô tô ra, cả hai bên đều hiểu mình có khi đã đi quá đà, không ai bảo
ai, hai bên đều lặng lẽ nhìn về phía chiếc xe. Trong khi Thuật đi lại chỗ ông
Rục, đội phó đội Phương Trì, cầm quân ra gặt đồng Mái, thì Hưởng đi vào ruộng
lúa, giữa những người hai làng đang dàn hàng ngang, nói dõng dạc:

- Các bác có biết các bác dàn trận đấu khẩu với nhau, lại có
cả súng ống nữa thế này là sai không?

Bên Phương Trì chưa ai lên tiếng, nhưng bên Phương Lưu đã ào
lên:

- Không sai! Không sai! Chúng tôi chỉ đòi lại ruộng của cha
ông, chứ không động đến người nào.

- Không động đến người nào, sao lại bắn vào một bà bị thương
kia!

- Đấy là súng cướp cò, chứ chúng tôi không định bắn vào
người!

Thuật đi ra gần chỗ Hưởng:

- Tôi là phó chủ tịch uỷ ban xã, còn đây là đồng chí Hưởng,
phó chủ tịch uỷ ban huyện, xin thay mặt cho xã và huyện đề nghị bà con hai làng
Phương Trì và Phương Lưu bớt giận làm lành, giải tán ngay cho!

Một ông phía Phương Lưu bước lên mấy bước, gào thốc bộ:

- Ông phó chủ tịch xã muốn chúng tôi giải tán, thì phải
tuyên bố trả nửa cánh ruộng đồng Mái này cho Phương Lưu đã!

- Đúng đấy!

- Trả ruộng cho xóm trại chứng tôi ngay!

- Trả ruộng cho xóm trại…!

- Trả ruộng cho xóm trại…!

Hưởng nghe thấy rất rõ, từ trong đám người Phương Lưu đồng
thanh phụ hoạ lời của ông kia: “Trả ruộng cho xóm trại…Trả ruộng cho xóm
trại…!”. Bỗng nhiên, Hưởng thấy dựng hết tóc gáy. Dè chừng,”trai hàng trại, gái
hàng cơm”, không cẩn thận có khi vỡ mặt với cánh này. Hưởng bước lên mấy bước,
nói cứng:

- Tôi thay mặt uỷ ban huyện đổng ý chấp nhận yêu sách… à,
yêu cầu của bà con xóm… đội Phương Lưu. Nhưng đề nghị bà con giải tán, đâu về
đấy ngay cho!

Không chờ Hưởng nói câu sau, chỉ mới đến “chấp nhận yêu
cầu”, tức thì những người phía Phương Lưu đã huơ chân múa tay reo hò ầm ĩ.

Quả là Hưởng đã cứu cho Thuật bàn thua trông thấy. Thuật như
thầm cảm ơn Hưởng, nhưng lại quay lại giục ông Rục bảo bà con làng ta về đi,
mọi việc đâu sẽ vào đấy thôi mà.

***

Nhưng cái vụ tranh điền năm ấy còn ám ảnh Thuật, và cả Hưởng
nữa chứ, như một bóng ma, mỗi khi đội sản xuất Phương Lưu, hay làng Phương Lưu,
hay xóm trại lẻ ngày xưa thì cũng thế, xẩy ra chuyện này chuyện nọ đụng chạm
đến hàng xã, hàng huyện, là Thuật không thể không nhớ đến cuộc tranh điền giữa
vụ gặt tháng mười năm ấy. Và có lẽ bởi cái bóng ma kia ám ảnh, nên Thuật để
ngoài tai câu nói của Lận: “Nguyên nhân xẩy ra xô xát lại không phải là mấy con
lợn đâu, bác ạ!”, mà lẽ ra, với một người ở cương vị Thuật không thể bỏ qua.

Lận nghe ông anh nói với một vẻ bực dọc và sẵng: “Không vì
mấy con lợn còn vì cái đéo gì “, cũng không dám ho he hóc hách gì nữa, vội cầm
ấm chè rót lượt ra hai chiếc chén, rồi hai tay trịnh trọng bê một chén lên đặt
trước mặt Thuật:

- Em mời bác uống chén nữa. Chè ngọn nước gốc, giờ mới ngon.

Thuật bưng chén nước lên để gần miệng hà hít hơi chè, giây
lâu mới nghiêng chiếc chén cho nước trà chẩy chẩm chậm vào cổ. Đoạn, đặt chiếc
chén xuống khay, mồm hơi chúm chím, xục xục hai hàm răng phát ra tiếng kêu chép
chép, chép chép nghe giòn và êm. Lận nhìn ông anh chép chép thưởng thức vị trà
với nét mặt tươi tỉnh, bỗng thấy những ngần ngại từ nãy đến giờ, trước sự đột
ngột rồng đến nhà tôm, cũng tự nhiên tiêu tan. Lận nhìn ông anh, xét nét hỏi:

- Giờ thư thả, bác nói em nghe xem ngoài cái việc họ là dân
hàng trại, kể cũng đáng gườm thật, thì còn có gì hệ trọng nữa mà bác bắt em thả
họ ra vội thế?

Ông anh như đi guốc trong bụng chú em đầu củ chuối, cười,
bảo:

- Tôi biết chú vẫn chưa thông với tôi về việc ấy, nên cơm
xong phải sang ngay, kẻo anh em hiểu lầm nhau không hay. Nhưng trước khi nói,
tôi muốn hỏi chú câu này đã: Theo chú, xã nên cử ai làm trưởng đoàn đi miền
ngược mua sắn về cho dân chống đói?

Lận ngớ ra, phần vì câu hỏi đột ngột, ngoài sức nghĩ của
mình, phần vì Lận cũng tưởng hôm họp đảng uỷ bàn giải pháp chống đói giáp hạt
cho dân, đã thống nhất giao việc này cho phó bí thư đảng uỷ kiêm chủ tịch uỷ
ban đứng ra lo. Vậy sao giờ Thuật lại hỏi Lận như thế. Ông em đầu củ chuối hơi
bị bất ngờ, chỉ ậm ừ:

- Cái đó, em nghĩ bác…

- Bác đứng ra lo như đảng uỷ phân công chứ gì. - Thuật đốp
luôn, làm Lận có phần lúng túng. Chờ cho chú em bớt căng thẳng, Thuật lại tiếp.
- Nhưng người mà tôi nhắm làm trưởng đoàn đi miền ngược mua sắn, thì chú lại
bắt giam…

Lận sửng sốt, cắt ngang lời ông anh:

- Điền! Bác định cử tay Điền đi mua sắn ư?

- Đúng thế. Ngoài tay Điền không còn ai hơn. Anh đã điểm mặt
hết lượt cán bộ xã. Hai ông phó chủ nhiệm của chú cả đời chưa bước chân ra khỏi
đầu làng. Cậu Đĩnh, phó chủ tịch, thì dạ dầy kinh niên, giờ khoẻ, tý đau, chỉ
còn nước ngồi ôm mặt nhăn như bị. Còn bà Cửa, thư ký uỷ ban và mấy ông trưởng
phó ban ngành thì khôn nhà dại chợ, biết đường sá đâu mà đi với đúng. Cuối
cùng, chỉ còn mỗi tay Điền, tuy hiện nay không còn là cán bộ nữa, nhưng cũng
từng là thường vụ đảng uỷ, chủ nhiệm hợp tác xã vào loại sắc sảo. Chẳng qua chỉ
vì muốn chơi trội, làm cái việc không đâu dám làm, là ra hẳn một nghị quyết
giao khoán ruộng cho hộ, nên mới bị ông Giá, bí thư huyện uỷ cũ, đánh cho một
vố tý chết. Chứ không, có chú với anh, anh nói thật, kể cả chú, hay cậu Đĩnh,
cũng không ai bằng tay Điền. Nhưng anh chọn tay Điền làm trưởng đoàn đi mua sắn
cũng còn…

- Nhưng bác ơi, em nghe đâu trong Phương Trà ít nhà đăng ký
mua sắn lắm.Vì già nửa làng hiện vẫn còn thóc ăn, nhà nhiều giúp nhà ít, nên số
hộ thực sự hết ăn chỉ có mươi nhà. Mà cháy nhà mới ra mặt chuột bác nhá, từ hôm
gió lốc nhìn màu lúa thất bát đến nay, người ta đang rộ lên lời thì thầm rằng,
không hiểu sao cũng ruộng đồng này, giống má, phân gio, cày cấy, nước nôi ấy,
mà bên Phương Trà thóc lúa nhà nào cũng còn, chứ không chịu cảnh đi dọc làng
chẳng mấy nhà không bữa cháo bữa cơm như bên Phương La, và cả Phương Trì ta
nữa, thì em cũng lấy làm lạ lắm, bác ạ!

- Dễ chú nghi bên ấy lại giao ruộng khoán cho hộ như năm nọ
hay sao. Bị một vố tay Điền là đủ như gà phải cáo rồi, đâu còn dám ho he hóc
hách nữa!

- Em chưa dám nghĩ thế, mà em chỉ nghĩ là bên ấy ít người
mua sắn, nhà tay Điền cũng không thấy có trong danh sách đăng ký mua, chưa chắc
hắn ta đã nhận lời đi cho.

- Ối giời, chú khỏi lo bò trắng răng. Anh chọn hắn ta đi mua
sắn cũng còn một ý nữa, nói, chú phải giữ mồm giữ miệng đấy, chuyến đi này là
một thử thách với hắn. Nếu trót lọt, sắn được chở về xã chia cho dân với giá
như giá các xã mua về, hoặc cao thấp tý đỉnh không đáng kể, là một thắng lợi
đáng để thường vụ đề nghị huyện uỷ xét xoá án kỷ luật đảng cho hắn ta đúng thời
hạn. Còn nếu không mua được sắn, hoặc mua được nhưng lại đội giá lên quá cao so
với các nơi, thì thời hạn xoá án kỷ luật có khi lại chưa được xét.

Lận nghe thấy rối rắm quá, nhưng vẫn lọc ra được một ý ngờ
ngợ, vội xen vào hỏi:

- Nhưng sao hôm lâu bác lên huyện về bảo, bác Trường nhắc
thường vụ đảng uỷ xem thời hạn kỷ luật của đồng chí Điền, để báo cáo lên huyện
uỷ xét công nhận hết thời hạn lưu đảng cho đúng thời gian.

- Đấy là chú ấy nói khi chưa xẩy ra vụ xô xát ở Phương Lưu.
Nhưng tình hình bây giờ đã thay đổi, thì đây ià cơ hội để hắn ta chuộc lại lỗi
lầm. Còn cái việc ngoài

Phương Lưu, tôi nói với chú là nói với góc độ mình là người
lãnh đạo xã, đừng làm cái gì già léo đứt dây để dân họ thù oán. Chứ làm sao tổ
cờ đỏ lại có quyền chặn xe không cho vào làng, đập vỡ cả cửa kính xe của uỷ ban
huyện mà lại bảo không có lỗi gì. Thế chẳng hoá sống ngoài pháp luật à. Nhưng
việc ở mức độ nào thì nên giải quyết ở mức độ đó, đừng có bé xoé ra to, bắt
người thì dễ, thả người thì khó. May là cánh bảo vệ chỉ để mấy người ngồi trong
nhà hội trường uỷ ban rồi khoá chặt lại, chứ nếu đúng như lời đồn là nhốt vào
nhà kho phân đạm, thì có một chủ tịch, chứ mười chủ tịch xã ra xin lỗi cũng còn
lâu họ mới về cho chú. Thế là phúc bảy đời rồi, em ạ. Anh có linh tính như trời
đang phù anh em mình. Thật đấy. Vậy nhân vận may đang đến, ngày một ngày hai
anh em mình khởi công xây dựng “khu văn hoá sinh phần”. Chú thấy thế nào? Chắc
là cũng đồng ý với anh chứ gì.

Nói thế chẳng bằng không nói. Hỏi thế chẳng bằng không hỏi.
Lận cứ ngồi ngay đơ ra nhìn ông anh đầy quyền uy cả về chính trị, kinh tế và
tình cảm nội tộc. Chứ còn biết nói gì, khi mọi việc đã được Bồ Tát sắp đặt
trước. Kể cả sinh mạng và chức tước của Lận cũng được Quan Thế Âm nhỏ từng giọt
trong cái nậm thần kỳ nơi tay Ngài xuống khi nào mát mặt khi ấy, còn không,
cũng không thể nói trước điều gì. Huống hồ cái câu hỏi mà Lận không có lấy một
phần mười giây lựa chọn cách trả lời kia.

- 15-

Không vào ngày nghỉ, nhưng Cải cũng dành một ngày xuống chơi
ông Mải.

Dắt chiếc xe đạp qua cổng. Rồi vào sân. Đến cửa. vẫn thấy
nhà yên ắng, lành lạnh thế nào. Chẳng lẽ ông cụ ốm? Hay có ai làm sao đi bệnh
viện? Không có lẽ! Mấy hôm nọ còn bảo vì chuyện Điền bị bắt giam ngoài xã, nên
ông lão buồn bực đóng cửa nằm trong nhà. Chứ hôm nay, Cải biết Điền không nhũng
được thả, mà đích thân anh em Thuật còn mời cả Điền và ông Tinh vào phòng Lận
uống nước, xin lỗi hai người. Vì mới chỉ nghe một tai mấy ông ngồi trên xe
huyện, chứ chưa kịp hỏi dân làng xem sự thể thế nào, đã vội bắt người giải về
giam trên trụ sở xã là chưa đúng (chưa đúng, chứ cũng không nói là sai). Nhưng
sao nhà lại yên ắng thế nhỉ. Tịnh không một tiếng động. Trâu thì nhốt chung
ngoài chuồng tập thể, một dẫy dài đến chục sân ở phía ngoài rìa làng. Còn lợn
gà có chuồng quây kín một góc vồng, khuất ra đầu hồi nhà, người mới vào không
để ý cũng không thấy. Chó má không có. Giá có con chó trong nhà cũng có tiếng sủa,
nhiều khi lại còn thấy ấm cúng xóm làng. Đằng này tuyệt nhiên không. Đã có lệnh
cấm nuôi chó. Cả làng, cả xã không nhà nào còn nuôi chó nữa. Kẻ trộm lại mừng.
Không cứ đêm, cả ban ngày, hễ tăm tia nhà nào có cái gì có thể khua khoắng được
là lừa lúc đi vắng, nghiễm nhiên vào tận nhà lấy đi, có giời biết. Thế mà nhà
đi đâu cổng rả lại không đóng. Cửa cũng chỉ khép hờ. Bà với cô Viên chắc là ra
đồng. Nhưng còn ông cụ chỉ ở nhà đan lát, có đồng áng gì đâu mà cũng không thấy
có nhà thế này. Hay ông cụ yếu người nằm trong nhà. Có khi thế. Cải dựng xe đạp
cạnh bể nước, gần lối vào bếp. Rồi quay lên nhà trên. Vừa đi vừa hỏi: “Ông hôm
nay yếu người à?”. Một lát mới thấy tiếng ông Mải từ phía sau nhà:

- Đang giở tay buộc lại cho con gà mái cái ổ ngoài chuồng
lợn. Anh ở huyện xuống, hay về làm việc với xã, vào chơi.

Cải vừa bước chân lên hiên nhà, quay lại nhìn ông Mải đang
vào sân, bảo:

- Lâu không xuống, hôm nay rỗi, con xuống thăm ông bà và các
em thôi.

Ông Mải nửa tin nửa ngờ, hỏi:

- Sao tôi nghe mấy anh ở huyện xuống họp ngoài xã nói, bí
thư mới làm việc không có ngày nghi, mà hôm nay anh lại có ngày rỗi cơ à.

Báo cáo nội dung xấu