Thủy Hử - Chương 11
Hồi 11
Múa đao thần, Lâm Xung gặp người ngang sức;
Bán gươm báo, Dương Chí giết cọp không lông.
Lâm
Xung thấy người kia múa đao đến đánh thì hai mắt trợn tròn xoe, hàng râu hùm dựng
ngược, rồi cũng giơ giao ra cự lại, hai bên kẻ đánh người đỡ, chống nhau ước chừng
hơn ba mươi hiệp, mà chưa rõ được thua.
Khi
đánh được độ hai mươi hiệp nữa, sắp quyết được thua, thì chợt thấy tiếng trên đỉnh
núi gọi to lên rằng:
- Hai
vị hảo hán hãy khoan tay, đừng đánh nhau nữa.
Lâm
Xung nghe vậy, nhảy tót ra ngoài vòng, rồi hai bên cùng đứng dừng đao lại.
Bấy giờ
Vương Luân, Đỗ Thiên, Tống Vạn cùng mấy đứa tiểu lâu la xuống núi chở thuyền
ra, rồi đi đến chỗ hai người mà nói rằng:
- Hai
thanh đao của hai vị hảo hán thực là thần xuất quỷ một không ai theo kịp, ông
này là Báo Tử Đầu Lâm Xung, là anh em chúng tôi, còn ông mặt xanh kia là ai,
xin cho chúng tôi biết tên họ?
Người
kia nói:
- Ta
là Dương Chí, cháu Ngũ Hầu Dương Lệnh Công, là dòng dõi ba đời cửa tướng, lưu lạc
ở Quan Tây. Khi còn ít tuổi có thi võ cử, rồi làm đến chức Điện Tư Chế Sứ Quân,
sau đức Đạo Quân xây lăng vạn tuế, sai mười người Chế Sứ ra Thái Hồ, tải đá hoa
về nộp kinh sư. Chẳng may đi đến giữa sông Hoàng Hà, bị cơn phong ba đánh đắm
thuyền, mất cả đá hoa cho nên phải trốn đi nơi khác, mà không dám về kinh nữa.
Nay nhân nghe tin triều đình xá tội, ta định thu nhặt ít tiền để về kinh sư lo
liệu ở Cơ Mật Viện mà kiếm kế an thân, dè đâu đi qua đây lại bị các ngươi đánh
tên gánh thuê mà cướp mất, vậy các ngươi nên đem trả lại cho ta lập tức.
Lâm
Xung nói:
- Nếu
vậy ngài là Thanh Diện Thú Dương Chí đó chăng?
-
Chính phải.
- Thế
thì may lắm, xin mời Chế Sứ hãy vào chơi qua trong trại, xơi chén rượu suông
đã, rồi chúng tôi xin nộp lại gánh hành lí.
- Hảo
hán đã nhận biết tôi, thì xin trả lại gánh hành lí, còn hơn là cho tôi uống rượu.
- Mấy
năm trước tôi vào thi ở Đông Kinh, cũng có được nghe tiếng Chế Sứ, thế mà ngày
nay lại được gặp ở đây, thực là may quá, thế nào cũng xin đón Chế Sứ vào chơi
qua loa chứ không có ý gì khác cả.
Dương
Chí từ chối không được, đành phải theo lũ Vương Luân xuống thuyền mà đi vào sơn
trại, Vương Luân cho tìm cả Chu Quý lên Tụ Nghĩa Sảnh, sai bắc bốn cái ghế
chéo, để Vương Luân, Đỗ Thiên, Tống Vạn, Chu Quý ngồi về bên tả, còn một bên hữu,
thì bắc hai cái ghế chéo, để mời Dương Chí, Lâm Xung ngồi. Đoạn rồi sai mổ trâu
làm tiệc khoản đãi Dương Chí. Đương khi uống rượu, Vương Luân nghĩ thầm trong bụng:
"Nếu ta lưu một Lâm Xung ở, thì tất nhiên có điều không ổn cho ta, vậy bất
nhược tiện đây giữ cả Dương Chí ở lại, để có tay địch thủ với Lâm Xung, thì mới
được."
Cho
hay:
Mấy
quân bé mệt ở đời.
Chưa
đi đã sợ chưa ngồi đã kinh!
Những
là lúng túng nghĩ quanh,
Chẳng
qua thêm để vận mình mà chi?
Bấy giờ
Vương Luân nghĩ vậy, liền đem chuyện Lâm Xung từ đầu đến cuối, thuật lại cho
Dương Chí nghe, đoạn rồi bảo Dương Chí rằng:
- Cái
này không phải là Vương Luân tôi muốn cử hợp Chế Sứ ở đây đâu. Nhưng tôi thiết
nghĩ: Tôi đây đã bỏ văn theo võ, đến lạc thảo đất này, mà Chế Sứ là người có tội,
dẫu nay được tha rồi, nhưng cũng khó lòng được phục nguyên chức tước. Vả chăng
hiện nay Cao Thái Úy lại coi giữ binh quyền, thì tất nhiên hắn không dùng ngài
được, vậy bất nhược ngài tạm dừng ngựa ở đây, để cùng nhau hưởng cái phú quý,
kim ngân tửu nhục, mà làm tay hảo hán có lẽ lại hơn, không biết ý ngài nghĩ
sao?
- Các
ngài có lòng như thế tôi lấy làm cảm ơn lắm, song tôi còn có một người bà con
thân ở kinh sư, khi tôi làm việc quan có phiền lụy người ta nhiều lắm, mà chưa
sao tạ ơn lại được. Vậy nay tôi muốn trở về qua đấy một phen, xin các ngài trả
lại hành lí cho tôi, bằng không thì Dương Chí tôi đành bỏ đấy, mà đi tay không
vậy.
Vương
Luân cười rằng:
- Vậy
thôi, Chế Sứ đã không ở, thì chúng tôi cũng cưỡng bách làm chi. Nhưng xin ngài
hãy khoan tâm ngồi đây một tối, rồi sáng mai đi sớm.
Dương
Chí cả mừng lưu lại ở đấy một tối. Sáng hôm sau Vương Luân lại làm rượu tiễn
Dương Chí, đoạn rồi sai tiểu lâu la quảy hành lí đưa xuống dưới núi mà bái biệt,
rồi trở về lưu giữ Lâm Xung ở lại.
Bấy giờ
Dương Chí đi ra đến đường cái, tìm một người nhà quê thuê quảy gánh hành lí, mà
cho tên lâu la trở về sơn trại, rồi thẳng đường trông nẻo Đông Kinh.
Khi tới
Đông Kinh, Dương Chí tìm vào một tửu điếm để trọ, rồi trả tiền cho đứa gánh
thuê trở về. Cách vài hôm sau Dương Chí nhờ người đến đút lót ở Khu Mật Viện, để
lo bổ Chế Sứ Điện Tư Phủ như cũ. Lúc ấy phải đem các thứ kim ngân tài vật để
đưa chỗ nọ, tặng chỗ kia, đến khi hết sạch cả tư trang hành lí, mới xin được giấy
khai phục trong Khu Mật Viện, nhưng còn phải đến trình Cao Thái Úy mới xong.
Tới khi
đến trình Cao Thái Úy, Thái Úy đem các lý lịch và giấy má ra xem một lượt, rồi
cả giận mà rằng:
-
Ngươi cùng đi vận tải với chín tên Chế Sứ, thì chín tên kia đã đem về giao nộp
từ bao giờ rồi, duy còn có ngươi là đánh mất đá hoa, mà thiện tiện trốn đi đâu
mất, quan quân truy nã không ra, thế mà nay lại muốn phục chức hay sao? Tuy rằng
ngươi đã có giấy tha, nhưng cũng không khi nào rửa hết tội danh, mà phục chức
được.
Nói
xong đem các giấy má phê bỏ tất cả, rồi đuổi Dương Chí ra ngoài Soái Phủ.
Cây
con đâu có cái tổ chim Hồng!
Quân
hèn đâu có cái lượng bao dung nổi người?
Dương
Chí trở về nhà trọ, trong bụng lấy làm uất ức mà tự nghĩ một mình rằng:
- Lời
nói của Vương Luân khuyên ta thế mà có lý. Nhưng hiềm vì nhà ta, vốn là tiếng
tăm trong sạch xưa nay, lẽ nào ta lại đem cái đi thể của tổ tiên mà làm nhơ bẩn
cho đành? Bởi vậy ta cũng muốn trở về đây để đem cái tài võ nghệ, cây cao ngọn
giáo ra chốn biên đình, hoặc may lập được chút công danh để báo đền quan phụ,
thì cũng hả trong lòng một chút. Ai ngờ bị lão Cao Cầu nó cay nghiệt tàn nhẫn,
làm cho ta không còn kế chi mà xuất được nữa, chán chưa!
Chàng
nghĩ vậy, trong lòng lại phân vân khó chịu, đường xa tiền hết, đất khách quê
người, không biết làm sao cho ổn được!
Nhân
nhớ đến ông cha ngày trước, còn để lại thanh bảo đao, xưa nay vẫn đeo luôn ở
bên mình, liền nghĩ kế đem ra phố bán, để lấy ít tiền mà đi nơi khác lập thân,
Khi đem ra bán, đứng ở phố Quần Ngựa, có tới mấy giờ đồng hồ, cũng không thấy
ai đến hỏi mua cả, chàng lấy làm nóng ruột, lại vác ra một chỗ náo nhiệt ở trên
cầu Thiên Hán để bán.
Dương
Chí đứng một lúc thấy người ở hai bên phố đều la nhao nhao bảo nhau rằng:
- Cọp
đã đến ta trốn đi.
Đoạn rồi
người nào người ấy đổ xô nhau mà trốn vào trong ngõ. Dương Chí thấy vậy, nói lẩm
bẩm một mình rằng:
- Họ
nói quái lạ! Ở chỗ cấm thành này, còn làm gì có cọp đến đây được?
Nói đoạn
xa trông thấy một anh đại hán, người đen chùi chũi, say rượu bứ bự đương chân
nam đá chân chiêu đi đến.
Nguyên
đó là một thằng vô lại, có tiếng ở kinh sư, vẫn thường gọi là Một Mao Đại Trùng
Ngưu Nhị, xưa nay chỉ chuyên nghề rắc rối ở đầu đường cuối phố, gặp ai là cũng
dây vào, làm cho lôi thôi khó chịu, mà quan tư ở Phủ Khai Phong không sao trị nỗi.
Bởi vậy mà ai trông thấy cũng tránh mặt cho xa, không còn dám đi gần đến.
Bấy giờ
tên Ngưu Nhị đi đến trước mặt Dương Chí, dằng tay cầm lấy thanh đao xuống để
xem rồi hỏi rằng:
- Anh,
của này định bán thanh đao bao nhiêu tiền?
Dương
Chí đáp:
-
Thanh bảo đao này của tổ phụ tôi để lại, tôi định bán lấy ba ngàn quan tiền.
Ngưu
Nhị quát lên rằng:
- Đao
ăn mày này lại bán đến ngần ấy tiền? Ta cứ mua ba mươi kẽm một con dao, cũng
thái được thịt, cắt được đậu rồi. Con dao khốn nạn này có cái gì tốt mà gọi là
bảo đao?
-
Thanh đao của tôi có phải như của đám hàng chợ đâu. Nó là bảo đao kia mà...
- Thế
nào gọi là bảo đao?
Dương
Chí nói:
- Một
là có thể chặt đồng chặt sắt mà lưỡi không quằn, hai là thổi lông đi qua được,
ba là chém người mà đao không có máu, thế cho nên gọi là bảo đao.
- Anh
có dám cắt đồng bây giờ không?
- Anh
cứ đem đến đây, tôi cắt cho mà xem.
Ngưu
Nhị thấy nói, bèn chạy đến một cái hàng ở cầu, tảo lấy một món tiền đồng, để
thành một chồng ở bên cầu, rồi gọi Dương Chí rằng:
- Anh
kia, nếu anh chặt đứt được, thì ta trả cho ba ngàn quan.
Bấy giờ
các người đứng xem, dẫu không anh nào dám đứng gần, song cũng đứng túm ở đằng
xa mà nom lại. Dương Chí vén tay áo cầm đao, nhắm cho trúng rồi chém một nhát,
cọc tiền đứt hẳn làm đôi. Những người đứng xem thấy vậy, ai cũng reo ầm lên.
Ngưu
Nhị quát lên rằng:
- Reo
cái gì thế? Anh này còn điều thứ hai, thế nào nữa?
Dương
Chí nói:
- Điều
thứ hai là thổi lông đi qua được, nếu cầm một sợi tóc thổi qua lưỡi đao thì tất
đứt làm đôi.
Ngưu
Nhị nói:
- Ta
không chắc được như thế.
Nói đoạn
nhổ ngay sợi tóc trên đầu, đưa cho Dương Chí mà bảo rằng:
- Anh
thử làm cho ta xem?
Dương
Chí tay tả cần sợi tóc đưa lên trước lưỡi dao, rồi thổi một cái thực mạnh, sợi
tóc đứt làm đôi mà rơi xuống đất.
Ngưu
Nhị hỏi:
- Còn
điều thứ ba là cái gì? Dương Chí nói:
- Là
chém người mà đao không có máu.
- Thế
nào là chém người mà đao không có máu.
-
Nghĩa là cầm thanh đao mà chém giết một người, mà máu không kịp vây vào được.
- Ta
không chắc được như thế, anh thử cầm đao chém một người cho ta xem?
Dương
Chí nói:
-
Trong chỗ Cấm thành này, bỗng dưng giết người sao được? Nếu không tin thì mang
con chó đến đây, tôi chém cho mà xem.
Ngưu
Nhị nói:
- Anh
bảo giết người không có máu, chứ anh có nói giết chó đâu?
- Thôi
anh không mua thì thôi, đừng nhiễu người ta làm gì thế?
- Anh
đưa đây ta xem nào. Dương Chí nói:
-
Không có tiền, tôi không cần chuyện cho xem nữa!
Ngưu
Nhị nói:
- Anh
có dám giết ta không?
- Tôi
với anh trước không thù, sau không oán, việc gì mà tôi giết anh?
Bấy giờ
Ngưu Nhị nắm chặt lấy Dương Chí mà bảo rằng:
- Thế
nào ta cũng mua thanh đao của anh. Dương Chí nói:
- Anh
muốn mua thì mang tiền lại đây.
- Ta
không có tiền.
-
Không có tiền thì giữ ta làm chi? Ngưu Nhị nói:
- Ta
chỉ cần lấy thanh đao của anh thôi.
- Ta
không cho. Ngưu Nhị lại nói:
- Anh
giỏi thử cứ chém ta đi.
Dương
Chí cả giận đẩy Ngưu Nhị ngã bắn xuống đất. Ngưu Nhị vội vàng bò dậy đâm húc
vào bụng Dương Chí.
Dương
Chí kêu lên rằng:
- Xin
hàng phố làm chứng cho tôi, Dương Chí này hết tiền phải mang đao đi bán, lại bị
thằng khốn nạn nó chực ăn cướp đao mà đánh tôi đây.
Bây giờ
hai bên hàng phố sợ Ngưu Nhị bằng một phép, không ai còn dám đến gần mà can
ngăn nữa.
Ngưu
Nhị thét lên rằng:
- Mày
bảo đánh mày... ừ thì ta đánh chết nữa coi sao.
Miệng
nói rồi giơ tay lên đánh Dương Chí, Dương Chí vội né mình để tránh, rồi nổi máu
nóng lên cầm đao nhằm giữa trán Ngưu Nhị chém cho một nhát, ngã lăn quay xuống
đất. Đoạn rồi nhảy sấn vào đâm luôn mấy nhát váo bụng Ngưu Nhị, máu chảy lênh
láng ra đường.
Khi đó
Dương Chí bảo với phố xá rằng:
- Tôi
giết thằng ăn mày này, không việc gì liên lụy đến ai cả. Bây giờ nó chết đây rồi,
các ông các bà cứ đi vào Phủ với tôi, để tôi nhận tội cho.
Gươm
thần chém chết oan gia,
Trừ
loài đê tiện cũng là nghĩa chung.
Đường
hoàng thay! Việc anh hùng,
Trời
soi đất xét để hòng sợ chi?
Bấy giờ
các người hàng phố nghe nói, mới đổ ra đi theo Dương Chí vào Phủ Khai Phong. Tới
nơi vừa gặp lúc buổi hầu, Dương Chí cùng bọn hàng phố đi vào công đường, rồi đặt
thanh bảo kiếm ra trước mặt, mà bẩm rằng:
-
Chúng tôi là Dương Chí, trước làm Điện Tư Phủ Chế Sứ, sau bị đắm mất Hoa Thạch
Cương, phải cách chức về. Nay hết tiền tiêu mang thanh đao đi bán, bất đồ bị thằng
vô lại là Ngưu Nhị, nó toan cướp đao, rồi lại sinh sự đánh tôi, bởi vậy tôi tức
mình đánh nó chết ra đó, hiện có các phố xá làm chứng, xin trình quan lớn biết
cho.
Các
người hàng phố cũng túm vào làm chứng, mà kêu với quan Phủ rõ các căn nguyên,
quan Phủ nghe nói truyền rằng:
- Đã
làm nên tội, mà tự ra thú tội, ta tha đánh cho. Nói đoạn sai gông Dương Chí lại,
rồi phái hai viên nha, giải Dương Chí cùng các người hàng phố ra cả Thiên Hán Kiều,
để khám nghiệm tử thi, mà làm thành văn án. Đoạn bắt các người hàng phố làm đơn
khai bẩm, rồi cho về, còn Dương Chí thì giao xuống nhà lao giam giữ.
Bấy giờ
các bọn canh giam ở nhà lao, thấy nói Dương Chí đánh chết một con Cọp không
lông, thì ai nấy có lòng kính phục tử tế, mà không sách nhiễu tiền nong chi cả.
Các người hàng phố ở quãng cầu Thiên Hán thấy Dương Chí trừ được một đứa đê
hèn, liều lĩnh quấy nhiễu loài người ấy, thì cũng lấy làm phục, mà bảo nhau đưa
tiền nong vào cho Dương Chí tiêu. Còn người giữ phần ăn, thấy Dương Chí là một
tay hảo hán mà lại trừ được hại cho người, vả chăng nhà tên Ngưu Nhị, cũng
không có một ai mà đến khống khiếu, thì cũng đem văn án mà rút nhẹ bớt đi. Sau
hết, án cho Dương Chí là vì đánh nhau lỡ giết chết người. Giam ở đó đủ sáu mươi
ngày, rồi đem trình quan Phủ cho thợ thích kim ấn vào mặt, đánh phạt h mươi trượng,
đóng gông giải sang Đại danh phủ ở Bắc Kinh, để sung quân. Còn thanh bảo đao
thì để vào công khố.
Khi kết
án xong rồi Phủ Doãn phê cho hai tên công sai là Trương Long, Triệu Hổ giải đi.
Hai tên công sai vâng lệnh giải Dương Chí ra đến phố cầu Thiên Hán, thì các nhà
phú hộ trong phố mời cả ba người, vào một tửu điếm để thiết đãi. Đoạn rồi đưa
tiền cho hai tên công sai mà nói rằng:
- Xin
các ông nghĩ đến ông Dương Chí, là một người vì dân trừ hại, mà trông nom tử tế
giúp cho.
Trương
Long, Triệu Hổ đáp rằng:
-
Chúng tôi đây cũng biết ông ấy là một tay hảo hán, các ông không phải dặn hai
chúng tôi, xin thế nào cũng phải tử tế.
Bấy giờ
các nhà phú hộ lại đưa tiền tiễn cho Dương Chí, rồi cùng bái biệt ra về. Dương
Chí đưa hai tên công sai về đến nhà trọ, tính trả tiền nong cẩn thận, còn thừa
sai làm rượu thiết đãi hai người và mua ít thuốc cao dán vào chỗ bị roi đánh, rồi
khoác khăn gói hành lí, cùng hai tên công sai đi sang Bắc Kinh.
Đường
đi nắng sớm mưa mai,
Phòng
khi hưu thích, ba người cùng chung.
Không
bao lâu đã tới Bắc Kinh, ba người liền tìm một tửu điếm để đưa nhau vào trọ.
Nguyên quan Lưu Thú ở Đại danh thủ Bác Kinh, vốn là con rể quan Thái Úy Xai
Kinh ở trong triều, tên là Lương Trung Thư Húy là Thế Kiệt, là một tên lên ngựa
coi quân, xuống ngựa coi dân, uy quyền rất lớn xưa nay. Khi hai tên công sai giải
tên Dương Chí vào, đến sảnh sứ, Lương Trung Thư xem văn thư xong, thì nhận ra
ra rằng: Khi ngài ở kinh sư cũng có biết Dương Chí, liền hỏi han đầu đuôi các lẽ.
Dương
Chí đem căn nguyên chuyện mình, kêu rõ cho Trung Thư nghe, Trung Thư cả mừng
phê hồi văn cho công sai về, rồi sai tháo gông cho Dương Chí, mà lưu lại trong
sảnh để sai khiến.
Từ đó
Dương Chí ở trong Đại danh phủ, sớm khuya hầu hạ rất là siêng năng cẩn thận. Được
ít lâu Lương Trung Thư có ý đề cử cho Dương Chí làm một chức võ quan, song lại
e các tướng không phục, bèn nghĩ ra một kế bắt các quan quân trên dưới hết thảy
đến ngày mai phải tới giáo trường để diễn võ. Đoạn gọi Dương Chí lên mà bảo rằng:
- Ta
có lòng muốn đề cử cho ngươi làm một chức quan võ để có ít lương tiêu, nhưng
không biết võ nghệ của ngươi thế nào.
Dương
Chí đáp rằng:
- Tôi
nguyên là võ cử xuất thân, trước đã làm Điện Tư Phủ Chế Sứ, mười tám ban võ nghệ
đều đã thông thạo cả. Nay nếu ân tướng rộng lòng thương mà đề cử lên, cho chúng
tôi được rẽ mây trông thấy mặt trời, thì ân đức ấy xin kết cỏ ngậm vành để báo.
Lương
Trung Thư nghe nói cả mừng, liền ban cho Dương Chí một bức áo giáp để dự bị ra
diễn võ ngày mai.
Sáng
hôm sau, bấy giờ đương diệp trung tuần Tháng hai, chiều trời ấm áp gió lạnh mây
quang, Lương Trung Thư cơm nước đoạn rồi cho Dương Chí cùng lên ngựa, mà tiền
hô hậu ủng đưa ra giáo trường. Khi ra tới giáo trường, đến trước cửa Diễn võ sảnh
Lương Trung Thư xuống ngựa, rồi sai bắc một chiếc ghế ngồi ở đó. Hai bên tả hữu
đứng dàn giá các hàng quan viên, nào Chỉ Huy Sứ, Đoàn Luyện Sứ, Chánh Chế Sứ,
Thống Lĩnh Sứ, cùng là Chánh Bài Quân, Phó Bài Quân, trăm viên tướng tá, mấy đội
ngựa quân, rất là uy nghi tề chỉnh.
Trên
chốn tướng đài có hai viên Đô Giám, một viên là Lý Thiên Vương Lý Thành, một
viên là Văn Đại Đao Văn Đạt, là tay dũng lực hơn người, thống lĩnh các hàng
quân mã; đều quay mặt về chỗ Lương Trung Thư ngồi mà cúi chào làm lễ. Đoạn rồi
trên giữa Tướng Đài dựng lên một lá cờ vàng, khua trống nổi kén làm hiệu. Bấy
giờ trong chốn Giáo Trường, đứng im tăm tắp không hề ai dám nói ra.
Một
lát thì là Hồng Kỳ dẫn quân ở trên Tướng Đài lay động, năm quân đều trông lệnh
mà sắp sửa chỉnh tề. Đoạn rồi ngọn cờ phấp phới, tiếng trống vang lừng, năm
trăm quân đều cầm khí giới trong tay, dàn thành bài trận. Lại thấy ngọn cờ Trắng
ở trên Tướng Đài phất lên, thì hai hàng trận quân ngựa đều sắp lượt chỉnh tề đứng
ra trước mặt.
Khi đó
Lương Trung Thư truyền đòi Phó Bài Quân Chu Cẩn ra thính lệnh. Chu Cẩn ở bên tả
trấn nghe lệnh đòi, liền đánh ngựa ra trước cửa sảnh, rồi xuống ngựa ngả ngọn
thương mà dạ một tiếng rất to.
Trung
Thư truyền lệnh rằng:
- Cho
phép Phó Bài Quân ra diễn võ.
Chu Cẩn
vâng tướng lệnh vác thương nhảy lên mình ngựa xông ra quay ngược quay xuôi,
xông tả múa hữu, diễn mấy bài thương ở trước diễn võ sảnh. Bấy giờ Lương Trung
Thư mới truyền Dương Chí ra trước sảnh mà bảo rằng:
-
Dương Chí! Ta nghe trước đây ngươi đã làm Chế Sứ ở Điện Tư Phủ bên Đông Kinh,
vì phạm tội mới phải tới đây, nhưng hiện nay bốn phương giặc cướp; quốc gia
đương lúc cần tài, vậy ngươi có dám ra thử võ nghệ với Chu Cẩn không? Nếu ngươi
hơn được Chu Cẩn thì ta sẽ cho ngươi thay vào chức ấy.
Dương Chí
cung kính bẩm rằng:
- Ân
tướng đã rộng thương, truyền cho như thế, dám sai lời.
Lương
Trung Thư liền truyền dắt ra một con ngựa trận, và truyền quan kho lấy đồ quân
khí ra chuyện Dương Chí.
Dương
Chí vâng lệnh ra sau nhà Võ Sảnh, đem áo giáp của Trung Thư cho mặc vào, rồi thắt
đai đội mũ, lưng đeo cung tên, tay cầm thương dài, nhảy lên ngựa mà ra đấu với
Chu Cẩn, mới hay là:
Kiếp
sinh ví có gặp thì
Tài
này sức ấy kém gì ai đâu?
Cảm
người lượng cả ân sâu
Anh
hùng họa biết mặt nhau phen này
Cuộc đời
thay đổi, đổi thay
Hôm
nào thế ấy hôm nay thế nào?
Rồi
đây cung kiếm ra vào
Chắc rằng
xuống thấp lên cao còn nhiều
Lời
bàn của Thánh Thán:
Trong
phép văn chương, diễn tả ra từng chuyện, có nhiều chỗ giống nhau, và nhiều chỗ
khác nhau, những câu chuyện giống nhau, tả ra gọi là phạm vào nhau, những câu
chuyện khác nhau, tả ra gọi là tránh xa nhau, văn sĩ diễn tả rất hay ở chỗ khéo
phạm đến nhau như một chuyện, song lại biến khác xa nhau, tức đã tránh nhau.
Khi phạm đến nhau, rồi lại tránh xa nhau, không một chuyện nào giống hẳn chuyện
nào, mới thấy phép văn dũ xuất dũ kỳ, tác giả mới thực là chân chính tài tử.
Như ở chuyện này, sau khi tả xong Lâm Xung mua đao báu, rồi xảy ra câu chuyện,
cho đến hồi này tiếp tả luôn Dương Chí bán đao báu, rồi cũng xảy ra câu chuyện,
hai chuyện cùng phải tội tù, kết lại tưởng như một may một rủi, thế mà cả hai đều
phải trốn tránh, không đắc chí với đời, đã thấy phép văn khéo phạm đến nhau, mà
lại khéo tị khác nhau.
Lại rằng:
Ta đọc Thủy Hử đến đây, không khỏi ngậm ngùi, mà than rằng: Tác giả Thủy Hử, muốn
bảo là chẳng phải tài tử, sao có thể được? Hỡi ôi! Trong lòng kẻ có tài phi thường,
phải có ngọn bút phi thường, có ngọn bút phi thường, phải có sức phi thường, nếu
không có tài phi thường, thì làm sao cấu tứ nổi? Mà không có bút phi thường,
làm sao mà trổ tài năng? Và không có sức phi thường, làm sao viết nổi bút ấy?
Nay xem Thủy Hử tả Lâm Võ Sư, chợt thấy vì bảo đao mà diễn ra văn chương kỳ
thái; tới khi tả Dương Chế Sứ cũng thấy vì bảo đao mà cũng diễn ra văn chương kỳ
thái. Hỡi ôi! Tả chuyện hào kiệt không bao giờ hết nay chợt gác chuyện hào kiệt,
mà tả bảo đao, đó là mượn cái tài phi thường, mà biết đâu bảo đao là thế thân
hào kiệt? Chỉ tả chuyện bảo đao đi đến hứng thú, đã thành ra tả hào kiệt hứng
thú ở trong rồi. Tả bảo đao mà ra hào kiệt vậy. Đem bảo đao tả chuyện võ sư, lại
đem bảo đao tả chuyện Chế Sứ, hồi trước một thanh bảo ao làm sáng chói võ sư, hồi
này cũng một thanh bảo đao làm sáng diễn ra, nổi lên đối trĩ, dùng bút đến thế,
rất kỳ hiểm vậy, nếu bảo rằng chẳng phải phi thường, mà xét mặt nhơn ngơn, đối
với trăm nghìn người đều nhận xét ra, còn cãi rằng không phi thường sao được.
Chuyện
mua đao với chuyện bán đao, diễn ra khác nhau, mà cũng giống nhau, rồi vẫn khác
nhau, văn tự từng câu từng chữ, không phạm đến nhau bút pháp tác giả ly kỳ biến
ảo, khác nào cảnh lạ như Thái Sơn nổi bên đông, Hoa Sơn nổi bên tây, hai bên đối
trĩ ly kỳ, không một chút giống nhau, thì đủ biết rằng ngọn bút loài người,
khác nào văn chương tạo hóa!
Dưới cầu
Thiên Hán, tả chuyện anh hùng bí lối, khiến người như ngồi suốt đêm đông; gấp tả
ngay trước sảnh Diễn Võ, tả chuyện anh hùng đắc ý khiến người như chợt tới đài
xuân, lúc buồn thêm một nỗi buồn, khi vui thêm một chuyện vui, đều là tài tác
giả phi thường, theo đuổi từng bước theo hình long hổ mà xuất hiện.

