Thủy Hử - Chương 10

Hồi 10

Giả dạng giao du; thoát người hảo hán

Đề thơ cảm khái; kết bạn Lương Sơn

Lũ nhà
quê đem Lâm Xung giải đến một nơi trang viện, rồi bảo trang khách vào báo với
chủ nhân. Bấy giờ chủ nhân còn ngủ chưa dậy, lũ nhà quê bèn đem Lâm Xung đến chỗ
bóp gác mà để nằm ở đó. Đến lúc Lâm Xung tỉnh rượu, mở bằng mắt trông ra thấy
mình nằm một nơi trang viện rất lớn, thì lấy làm lạ quá mà kêu lên rằng:

- Đứa
nào mang ta đến đây thế này?

Lũ nhà
quê thấy Lâm Xung kêu, thì cầm gậy đến mà bảo rằng:

- Liệu
hồn, mày còn to mồm nữa kia à?

Bấy giờ
có cả lão già bị đốt râu cũng ở đấy, mặt hằm hằm bảo với chúng rằng:

- Nói
lôi thôi với nó làm gì, cứ đánh thật lực đi, để chốc nữa quan nhân dậy, sẽ hỏi
tội nó.

Nói
xong túm vào đánh lấy đánh để, làm cho Lâm Xung không thể nào cựa quậy được nữa.
Đương khi nguy cấp, khốn đốn, thì bỗng thấy một tên trang khách kêu lên rằng:

- Quan
nhân đã đến đây kia.

Lâm
Xung nghe nói, thì lờ mờ nom thấy một vị quan nhân, đương khoanh tay ra sau
lưng mà lững thững đi đến, rồi hỏi lũ kia:

- Bây
đánh ai thế?

Lũ nhà
quê bẩm rằng:

- Đêm
hôm qua chúng con bắt được thằng ăn cắp này, xin đem đến để nộp ngài.

Vị
quan nhân ấy đi gần tới nơi trông thấy Lâm Xung thì ngạc nhiên kinh lạ, vội
thét đuổi lũ kia, mà tự đến cởi trói cho Lâm Xung rồi hỏi rằng:

- Chết
nỗi! Giáo Đầu đi đâu, mà bị chúng đem đến đây như thế?

Lũ kia
thấy quan nhân xử sự như vậy, thì bảo nhau bỏ đấy mà chạy cút, mỗi đứa mỗi nơi.
Bấy giờ Lâm Xung mới liếc mặt nom lên, thì chính là Tiểu Toàn Phong Sài Tiến ở
đó liền nói:

- Đại
quan nhân cứu tôi với. Sài Tiến lại hỏi:

- Tại
làm sao mà Giáo Đầu lại đi đến đây để đến nỗi chúng làm như thế được?

- Thưa
ngài, chuyện tôi nói ra dài lắm, vậy xin ngài hãy cho vào nhà trong, xin kể
ngài nghe.

Nói đoạn,
Sài Tiến mời Lâm Xung vào trong nhà, ngồi chơi. Lâm Xung liền đem câu chuyện đầu
đuôi, từ khi Lục Ngu Hầu cùng mưu với Quản Doanh, Sai Bát để đốt thảo trường
cho đến khi chạy trốn đến đây, thuật rõ cho Sài Tiến nghe.

Sài Tiến
nghe rõ căn nguyên liền thở dài mà rằng:

- Nếu
vậy thì vận quan anh còn bĩ lắm. Nay trời xui khiến lại cho tiểu đệ được gặp
quan anh đây, thì xin tạm ở với tiểu đệ ít lâu, rồi ta sẽ liệu đường tiến thủ.

Nói đoạn
sai trang khách lấy áo xiêm sạch sẽ ra cho Lâm Xung thay, rồi thiết đãi rượu
chè, mà cho Lâm Xung ở đó. Bên kia Quản Doanh dò biết câu chuyện Lâm Xung, liền
lập mưu vào báo với Châu Doãn, là chính tay Lâm Xung đã giết Sai Bát, Lục Ngu Hầu,
và Phú An, rồi đốt thảo trường mà trốn đi đâu mất.

Châu
Doãn nghe báo cả kinh, lập tức cho vẽ hình kê tên, treo thưởng ba ngàn quan, để
thưởng người bắt được Lâm Xung, rồi phái các viên thám tử đi khắp các chốn
thành thị thôn quê để dò la tầm nã rất là cấp bách, bấy giờ Lâm Xung ở nhà Sài
Tiến được dăm bảy hôm, bỗng nghe tin thì trong lòng nóng nảy băn khoăn mà nói với
Sài Tiến rằng:

- Quan
nhân có lòng tốt lưu cho tiểu đệ ở đây, thực tiểu đệ lấy lòng vui lắm, song ngặt
vì ngày nay quan quân đương hết sức tầm nã, để truy bắt, ngộ vạn nhất họ lần mò
dò bắt ở đây, thì lại thêm phiền lụy đến quan nhân không tiện, vậy tiểu đệ muốn
rằng quan nhân sẽ lấy lòng quảng đại mà giúp cho ít tiền, để tiểu đệ tìm đi nơi
khác là hơn, ngày sau trời cho có còn sống được, tiểu đệ xin làm thân trâu ngựa,
mà đền nghĩa trúc mai.

- Nếu
Giáo Đầu có ý e ngại, mà không muốn ở đây, thì tôi có một phong thư để giới thiệu
sang một chỗ kia có được không?

- Ngài
có lòng tốt như thế, thì còn gì bằng! Nhưng chẳng hay ngài định giới thiệu cho ở
đâu?

- Ở Tế
Châu thuộc quận Sơn Đông, có một chỗ gọi là Lương Sơn Bạc. Vừng quang rộng hơn
tám trăm dặm, khoảng giữa có thành Uyển Tử và vùng Liễu Nhi; Hiện nay có ba người
hảo hán là Bạch Y Tú Sĩ, Vương Luân làm đầu, Mô Tước Thiên Đỗ Thiên làm thứ
hai, và Vạn Lý Kim Cương Tống Vạn làm thứ ba, tụ họp có tới bảy tám trăm lâu la
ở đấy. Xưa nay thường có những người nặng tội phạm, trốn tránh vào đấy, thì họ
đều dung nạp cả? Bọn ba người ấy đối xử với tôi, cũng hơi có lòng trung hậu, nếu
tôi viết thư để quan bác vào đấy, thì tất là được ngay, ngài nghĩ sao?

Lâm
Xung gật đầu đáp rằng:

- Ngài
có lòng tốt như thế còn gì hơn nữa.

Sài Tiến
lại nói:

- Có một
điều hơi khó là hiện nay quan quân truy nã bắt ngặt, mà ở chỗ cửa quan con đường
đây đi sang châu khác, thì lại có hai viên quan canh cửa giữ tra hỏi luôn luôn,
như thế thì khó lòng đi cho lọt được.

Sài Tiến
nói xong cúi đầu nghĩ một lát mà ngẩng lên mà bảo rằng:

- Được
rồi, tôi có kế này, khả dĩ thoát cho quan bác đi được.

Nói đoạn
gọi một tên trang khách lên sai mang một gói hành lí đi trước, ra khỏi cửa
quan, đi một quãng xa đứng đợi ở đấy, rồi la sai mấy chục con ngựa và sắp sửa
các đồ cung tên để đi săn. Đoạn rồi bảo Lâm Xung cưỡi lên mình ngựa, cùng đi lẫn
vào đám đi săn, mà theo Sài Tiến đi ra quan ải. Khi đến cửa quan mấy viên quan
coi giữ ở đó, vốn quen biết Sài Tiến đã lâu, liền đứng lên chào hỏi Sài Tiến mà
rằng:

- Quan
Chầu lại đi săn hôm nay phải không?

Sài Tiến
xuống ngựa cúi chào rồi lại hỏi luôn rằng:

- Các
ngài có việc chi mà phải canh giữ cẩn thận ở đây?

-
Chúng tôi vâng lệnh quan trên Châu Doãn ở đây để tra bắt tên Lâm Xung, phàm các
thương khách đi qua đều phải khám hỏi tất cả.

Sài Tiến
thấy vậy, liền cười mà bảo rằng:

-
Trong bọn tôi cũng có tên Lâm Xung đây, sao các ngài không nhận ra mà bắt lấy.

Hai
viên quan liền cùng cười mà đáp rằng:

- Ngài
là người biết pháp luật, có bao giờ lại làm như thế! Xin các ngài cứ đi đi cho.

Sài Tiến
lại cười mà nói rằng:

- Các
ngài lại có lòng tin tôi như thế thì hay lắm, để tôi đi săn có được con gì, xin
đem đến biếu các ngài.

Nói
xong bái biệt mà lên ngựa, dẫn lũ sau cùng đi. Khi ra ngoài cửa quan ước chừng
mươi lăm dặm thì đã thấy tên trang khách vác khăn gói đứng đợi ở đấy. Sài Tiến
liền bảo Lâm Xung xuống ngựa, thay bộ quần áo đi săn, rồi mặc bộ quần áo thường,
đội nón dắt dao găm khoác khăn gói, vác thanh đao lớn trên vai, đoạn rồi hai
người từ biệt cùng nhau, để Sài Tiến quanh đi săn, mà Lâm Xung thì lên đường trốn
sang Tế Châu.

Một lời
đã biết đến nhau,

Trăm
ngàn nguy hiểm dễ hầu tiếc công?

Bâng
khuâng lòng những giận lòng,

Nước
non biết mẹo anh hùng này chưa

Trời
đông tuyết giá, dặm khách thân cô, từ khi bái biệt Sài Đại quan nhân rồi một mình
vơ vẫn trên đường, sớm nghỉ tối đi, trong mười mấy ngày trời, rất là buồn bã. Một
hôm trời đã chiều hôm, Lâm Xung đi gần đến một khoảng hồ rộng, chợt trông thấy
bên cạnh hồ có một hàng rượu thập thò trong ánh tuyết, chàng liền mải mốt tìm
vào để trọ.

Khi
vào tới nơi, chàng vừa mới giũ sạch tuyết bám trên áo, bỏ nón và hành lí ra, dựng
thanh đao vào một bên, để đặt mông xuống ngồi, thì đã thấy một tên tửu bảo chạy
đến mà hỏi rằng:

- Ngài
xơi rượu phải không?

- Phải,
lấy hai nai rượu ra đây?

Tửu bảo
vâng lời lấy hai nai rượu ra, Lâm Xung lại hỏi:

- Có
gì nhắm không?

Tửu bảo
đáp rằng:

- Có
thịt bò tươi, thịt bò chín và thịt ngỗng béo gà non, ngài muốn xơi gì?

- Hãy
thái hai cân thịt bò chín ra đây.

Tửu bảo
chạy vào một lát, mang ra một miếng thịt bò tướng, và các thứ rau quả để lên
trên bàn, rồi rót rượu ra chén. Lâm Xung uống mấy chén rằng rồi đưa mắt trông
vào thấy một người, đương khoanh tay đàng lưng, lững thững ở trong đi ra cửa
xem tuyết, rồi hỏi tửu bảo:

- Người
nào uống rượu ở đấy?

Lâm
Xung nghe nói lặng yên, ngồi uống luôn mấy chén rượu nữa, rồi bảo tên tửu bảo rằng:

-
Ngươi đến đây uống một chén với ta cho vui.

Tửu bảo
cám ơn, uống một chén rượu rồi, Lâm Xung lại hỏi rằng:

- Từ
đây đến Lương Sơn Bạc còn xa hay gần.

- Bẩm,
đây đi Lương Sơn Bạc, chỉ còn có dặm đường nữa, nhưng phải đi đường thủy, chứ
không có đường bộ. Nếu ngài có muốn đi thì phải dùng thuyền mới được.

-
Ngươi có thể tìm cho ta một chiếc thuyền không?

- Bẩm
ngài, trời sắp tối, mà tuyết xuống ầm ầm thế kia, thì tìm đâu được thuyền?

Lâm
Xung nói:

- Ta
đưa nhiều tiền đây, người cố tìm cho ta một chiếc thuyền để ta đi.

Tửu bảo
nhất định từ nan mà rằng:

- Bây
giờ thực là không tìm đâu được.

Lâm
Xung nghe nói trong bụng lấy làm khó chịu, lại cất rượu uống luôn mấy chén nữa.
Bấy giờ một mình nghĩ trông trước trông sau, càng thấy buồn tênh buồn ngắt, đoạn
rồi lại nghĩ ngẫm mà tự ân hận rằng: "Khi trước ta ở kính sư, làm chức
Giáo Đầu, cứ hàng ngày lại đi rong chơi phường phố, chè chén vui cười, biết bao
nhiêu là thú vị! Thế mà ai ngờ ngày nay lại bị thằng cọp già Cao Cầu kia nó hãm
hại ta, làm cho đến nỗi phải chạm dấu vào mặt, đày ải phương xa, rồi lại lênh
đênh đến tận chốn này, khiến cho ta có nước không được về, có nhà không được ở,
đem ngày những âm thầm mà chứa chất kể biết bao cay đắng, thế thì có đáng giận
hay không?" Nghĩ đoạn liền gọi tửu bảo mượn bút với nghiêng rồi nhân khi tửu
hứng, giơ lên vách vôi, mà viết tám câu thơ rằng:

Khẳng
khái thay! Lâm Xung,

Trung
nghĩa dốc một lòng

Giang
hồ từng nổi tiếng,

Thiên
hạ khét anh hùng.

Thân
thế thường chìm nổi.

Công
danh ngán bấp bông!

Ngàn
sau như thỏa chí,

Lừng lẫy
Thái Sơn Đông.

Viết
xong vất bút xuống rồi lại ngồi uống rượu ngẫm nghĩ một mình. Chợt đâu thấy người
xem tuyết lúc nãy chạy vào, cầm cánh tay Lâm Xung mà nói rằng:

- Bác
này to gan thực! Bác ở Thương Châu, làm ra những tội tày đình, hiện quan tư còn
đương thưởng tiền để bắt, thế mà lại dám đến đây à?

Lâm
Xung quay lại hỏi rằng:

- Bác
biết tôi là ai?

- Bác
là Báo Tử Đầu Lâm Xung chứ ai!

Lâm
Xung tảng lờ đáp rằng:

-
Không phải tôi là họ Trương kia mà.

Người
kia cười mà rằng:

-
Thôi, bác đừng nói lòe tôi nữa, tên bác vừa mới viết trên vách, hãy còn kim ấn
đây kia, bác chối sao được.

Lâm
Xung biết thế không thể chối được, liền hỏi:

- Anh
bắt tôi hay sao?

Người
kia lại cười mà đáp:

- Tôi
bắt bác để làm gì, bác hãy tôi theo vào trong Thủy Đình này, ngồi chơi rồi sẽ
nói chuyện.

Nói
xong lại gọi tửu bảo thắp đèn trong Thủy Đình, rồi mời Lâm Xung vào cùng ngồi
mà nói rằng:

- Vừa
rồi tôi thấy quan bác muốn thuê thuyền đi vào Lương Sơn Bạc, nhưng ở đấy là một
cái trại của đám cường hào, quan bác định đến để làm gì?

-
Không giấu gì bác, tôi bây giờ bị quan trên truy riết, không trốn vào đâu được,
cho nên tôi phải vào đấy mà nhập bọn với họ cho xong.

- Đành
vậy, nhưng tất là có ai tiến cử cho bác đây hẳn?

- Có
người bạn cũ của tôi ở quân Hoàng Hải, thuộc về Thương Châu tiến cử cho tôi đến
đó.

- Có
phải là ông Tiểu Toàn Phong Sài Tiến chăng?

- Sao
ngài lại biết ông ấy?

-
Nguyên ông ấy với các Đại Vương ở trong trại cũng chơi thân với nhau, thỉnh thoảng
lại có thư từ đi lại luôn luôn, ngày trước khi Vương Luân mới thi hỏng về, có
cùng với ông Đỗ Thiên đến ở nhà ông Sài Tiến được ít lâu, rồi đến lúc đứng dậy
ra đi, ông ấy lại tặng đãi tiền nong tử tế.

Lâm
Xung nghe nói đến đó, đoán chắc rằng người kia cũng là một tụi ở Lương Sơn, liền
hỏi bằng cách lễ phép rằng:

- Thưa
ngài tôi thực là có mắt mà không trông thấy Thái Sơn xin ngài tha lỗi, mà cho
biết đại danh là gì?

Người
kia vội đáp lễ mà rằng:

- Thưa
ngài, tôi là thủ túc của Vương Đầu Lĩnh, tên là Chu Quý, nguyên người ở phủ
Nghi Châu, huyện Nghi Thủy, đám giang hồ thường gọi tôi là Hãn Địa Hốt Luật xưa
nay. Nay trong sơn trại cắt tôi ra giả danh mở một ngôi hàng ở đây, chỉ cốt để
thám thính những kẻ qua người lại, ai có tiền của thì lên báo với sơn trại, mà
ai côi cút không có gì thì để mặc cho đi, kẻ nào có của cải đến đây, nhẹ ra thì
cho uống thuốc mê, mà nặng ra thì tất phải kết quả tính mạng, rồi thái thịt
phơi khô mà lấy mỡ đốt đèn ngay lập tức. Vừa rồi vì thấy ngài hỏi thăm đường
vào Lương Sơn Bạc, cho nên không dám hạ thủ, sau thấy ngài viết tên lên vách, bấy
giờ tôi mới biết ngài là bậc anh hùng có tiếng đã lâu, cũng may mà tôi được gặp
ở đây, thực là vạn phúc. Vả chăng lại có Sài Đại Quan Nhân tiến cử, thì ngài tới
nơi, tất là được trọng dụng chớ chẳng chơi.

Nói
xong sai tửu bảo lại dọn rượu thiết đãi Lâm Xung. Hai người cùng ngồi ở Thủy
Đình uống rượu hồi lâu, rồi Lâm Xung hỏi Chu Quý rằng:

- Bây
giờ làm sao có thuyền mà đi vào Lương Sơn Bạc được?

- Ngài
cứ nghỉ ngơi đây một tối, rồi sáng mai khắc có thuyền để tôi cùng đi với.

Đoạn rồi
hai người cùng đi nghỉ. Sáng hôm sau vào khoảng trống canh năm, Chu Quý đã gọi
Lâm Xung dậy, súc miệng rửa mặt rồi cùng nhau uống dăm ba chén rượu, ăn qua loa
một chút điểm tâm. Lúc bấy giờ trời còn lờ mờ chưa sáng thực, Chu Quý đi ra Thủy
Đình, mở cánh cửa rồi lấy một cái cung, đặt tên nhắm vào thẳng một đám lau lách
ở trong bến nước mà bắn ra một phát. Lâm Xung thấy vậy, hỏi Chu Quý rằng:

- Bắn
như thế là ý gì?

- Đó
là hiệu tên của sơn trại ở đây, bắn thế một lát có thuyền bây giờ.

Được một
lát, quả nhiên có năm bảy tên lâu la nhỏ, chèo một cái thuyền đến bên cạnh Thủy
Đình, Chu Quý liền vẫy Lâm Xung mang các đồ đao trượng hành lí mà xuống thuyền.
Thuyền chèo vào vũng Kim Sơn, mà đi đến bến, Chu Quý cùng Lâm Xung bước lên
trên bờ để mấy đứa tiểu lâu la, đeo khăn gói vác đao trượng đi theo sau lên sơn
trại, còn mấy đứa tiểu lâu la, chèo thuyền tấp về một chỗ.

Lâm
Xung lên đến bờ, nom hai bên toàn thị cây lớn đẫy ôm, rồi thấy một tòa Đoạn Kim
Đình ở ngay lưng chừng núi. Đi một lát nữa đến một tòa cổng lớn, mặt trước bày
dàn các đồ gươm giáo cung nỏ mác phạng roi... toàn xếp những gỗ súc đá đạn rất
là oai vệ. Hai bên lối đi dàn các hiệu cờ đội ngũ, rồi lại đi qua hai lần cổng
nữa, mới tới cửa trại. Bấy giờ Lâm Xung nhìn khắp bốn mặt non cao, ba tòa cửa rộng,
lại có miếng đất phẳng lì như mặt kính, chu vi chừng ba bốn trăm trượng. Ở giữa,
ngay giữa chỗ khe núi vào là tòa cửa chính còn hai cái phòng xép ở ra hai bên,
Chu Quý đưa Lâm Xung đi qua cửa vào đến Tụ Nghĩa Sảnh, thấy khoảng giữa kê một
cái ghế chéo, Bạch Y Tú Sĩ Vương Luân ngồi đấy. Bên tả cũng một cái ghế chéo,
Mô Tước Thiên Đỗ Thiên ngồi, còn bên hữu một cái ghế nhỏ, Vận Lý Kim Cương Tống
Vạn ngồi. Chu Quý đưa Lâm Xung đến trước mặt chào ba người, rồi Lâm Xung đứng
bên cạnh Chu Quý.

Chu
Quý nói với ba người kia rằng:

- Ông
này là ông Lâm Xung làm chức Giáo Đầu dạy tám mươi vạn Cấm Quân ở bên Đông
Kinh, tên hiệu Báo Tử Đầu Lâm Xung vì Cao Thái Úy hãm hại, phải đi đày sang
Thương Châu, rồi lại bị người lập kế đốt mất thảo trường, cho nên bất đắc dĩ phải
giết chết ba người mà đi trốn vào nhà ông Sài Tiến. Nay ông Sài Tiến có đưa thư
tiến cử để nhập đảng vào đây, xin trình để chư huynh biết...

Lâm
Xung thấy Chu Quý nói liền lấy thư đưa ra, Vương Luân cầm lấy thư bóc xem rồi,
mời Lâm Xung ngồi vào ghế thứ tư, còn Chu Quý thì ngồi vào ghế thứ năm. Nhất diện
lại sai tiểu lâu la đem rượu lên rót ba tuần rồi mới hỏi thăm đến chuyện Sài Đại
quan nhân.

Lâm
Xung thấy hỏi đáp rằng:

- Sài
Đại quan nhân chỉ ngày ngày đi ra ngoài nội săn bắn làm vui, không có việc chi
là lạ.

Vương
Luân hỏi han hồi lâu, rồi tự nghĩ một mình rằng:

- Mình
là một anh học trò thi hỏng, chỉ vì bực chí mà dắt Đỗ Thiên lên đây lạc thảo, rồi
sau mới có Tống Vạn đem được ít binh mã mà tụ họp thêm vào. Nhưng khốn vì mình
đây võ nghệ cũng chẳng biết gì, mà Đỗ Thiên, Tống Vạn thì cũng loàng nhoàng chẳng
được bằng ai, vậy mà lại rước một anh này đến đây, trước anh ta đã làm chức
Giáo Đầu, tất cao cường võ nghệ, ngộ sau này biết thóp mà tranh chiếm chúng
mình, thì cự địch làm sao cho nổi? Âu là ta chối phắt cho hắn đi chỗ khác là
hơn. Như thế thì cũng có điều hơi ngại với Sài Đại quan nhân, mà mang tiếng là
thằng bội bạc, song cũng không thể nào mà dung được hắn ở đây.

Nghĩ
đoạn liền sai đặt tiệc để thiết, Lâm Xung cùng các bạn hảo hán trên trại. Khi
ăn tiệc xong, Vương Luân sai tiểu lâu la lấy một cái mâm năm mươi lạng bạc, và
cây lụa lên, rồi đứng dậy mà nói với Lâm Xung rằng:

-
Không mấy khi Sài Đại quan nhân lại giới thiệu cho Giáo Đầu đến tiểu trại chúng
tôi, để vào đảng, thực chúng tôi lấy làm may mắn. Song hiềm vì chúng tôi ở đây
trại nhỏ, lương ít, nhà cửa chật hẹp, sức vóc yếu đuối, sợ sau này lại lỡ mất
đường tiến thủ của ngài. Vậy nay gọi có chút lễ mọn xin ngài chấp nhận lấy, và
ngài liệu đi tìm chỗ khác mà lập chí, thì có lẽ tiện hơn. Xin ngài chớ lấy làm
lạ mà ngờ bụng chúng tôi.

Lâm
Xung nghe nói liền từ chối mà rằng:

-
Chúng tôi nghìn dặm tìm danh nhân, muôn dặm tìm minh chủ, nay nhờ được Sài Đại
quan nhân tiến cử đến đây, để cùng các ngài theo đuổi, vậy chúng tôi tuy tài
hèn mọn, cũng xin hết sức bình sinh, không có điều chi siểm nịnh, dám xin các
ngài rộng lòng cho ở lại đây. Chúng tôi thực không phải là cốt đến đây để lấy
tiền tặng của các ngài, xin Đầu Lĩnh xét cho.

- Hãy
hay rằng vậy, nhưng ở đây nhỏ hẹp thế này, để ngài ở làm sao được. Ngài chớ
nghĩ chúng tôi có bụng gì đâu.

Chu
Quý nghe Vương Luân nói liền can rằng:

- Dám
thưa Ca Ca tôi nói câu này, xin Ca Ca thứ lỗi cho, trong trại ta đây lương thực
tuy ít, cũng có thể lấy thêm được ở các nơi, nhà cửa tuy không chỉnh đốn, cũng
có thể lấy gỗ lạt trong rừng mà làm thêm được. Vậy thì Sài Đại quan nhân đã tiến
cử Lâm Giáo Đầu sang đây, có lẽ lại để người đi đâu cho tiện? Vả lại Sài Đại
quan nhân trước đã có ơn với sơn trại ta đây, nay nếu làm như vậy, mà quan nhân
biết ra tất là mang tiếng không hay. Huống chi Lâm Giáo Đầu lại là một người giỏi
về võ nghệ, ở đây hẳn cũng làm được việc hay, vậy có điều chi mà ngại?

Đỗ
Thiên cũng nói rằng:

-
Trong sơn trại ta hẹp gì một người mà không thu lưu được! Nếu Ca Ca làm thế, e
khi Sài Đại quan nhân biết đến, thì tất là đeo điều bội nghĩa vong ân. Phương
chi ngày trước ta nhờ vả cũng nhiều, thế mà ngày nay tiến cử một người đến đây,
mà ta lại thoái thác không nhận, thì nghe sao cho xuôi?

Tống Vạn
cũng khuyên Vương Luân rằng:

- Ta
nên nể lòng Sài Đại quan nhân mà lưu Lâm Giáo Đầu làm chức Đầu Lĩnh ở đây là phải,
nếu không thì bọn giang hồ người ta tất nhiên cười ta là lũ vô nghĩa không ra
gì.

Bấy giờ
Vương Luân quay ra bảo các người cùng đảng rằng:

- Anh em
không biết, người ta ở Thương Châu, đã gây ra những tội tày trời, nay lại lên
sơn trại ta đây, ngộ nhỡ ra không phải là người tâm phúc, mà định đến để dò xét
thực hư, thì ta làm thế nào?

Lâm
Xung nói:

- Tôi
vì phạm tử tội, trốn tránh đến đây một mình, còn có điều chi mà các ngài lấy
làm ngờ nữa.

Vương
Luân nói:

- Nếu
quả thực là có lòng vào đảng với chúng tôi, thì xin nộp một đầu danh trạng để
làm tin.

-
Vâng, chúng tôi cũng biết vọc vạch được dăm ba chữ, xin cho đem giấy bút đây, để
tôi viết đầu danh trạng.

Chu
Quý nghe nói cười bảo Lâm Xung rằng:

-
Không phải thế, Lâm Giáo Đầu ơi! Phàm đám hảo hán muốn nhập bọn với nhau, tất
phải có đầu danh trạng, đầu danh trạng này là xuống núi giết được một người mà
lấy thủ cấp lên đây, cho mọi người đều tin theo bụng mình, chứ có phải là giấy
đầu danh đâu?

Lâm
Xung nói:

- Cái
đó thì cũng dễ, để tôi xuống núi, xem có ai là tôi làm được ngay, nhưng chỉ sợ
không có ai đi qua lại thì làm thế nào?

Vương
Luân ra lệnh rằng:

- Tôi
hẹn cho ông trong ba ngày, nếu có đầu danh trạng, thì xin lưu lại ở đây, bằng
không thì ông đừng trách chúng tôi nữa.

Lâm
Xung cúi đầu vâng lời. Đêm hôm ấy chè chén, xong rồi, Chu Quý lại trở về tửu điếm,
còn Lâm Xung thì đem các đồ hành lí đao trượng mà đến ngủ ở phòng khách.

Sáng
hôm sau Lâm Xung dậy cơm nước xong, rồi gọi một tên lâu la chở thuyền đưa ra
ngoài núi, đến một chỗ đường con vắng vẻ để đợi khách qua lại, mà lấy đầu danh
trạng. Đợi suốt từ sáng đến tối, không có một người nào qua lại ở đó, Lâm Xung
lấy làm buồn bã, lại phải cùng tiểu lâu la mà cùng trở về sơn trại.

Khi về
tới trại, Vương Luân hỏi rằng:

- Đầu
danh trạng ở đâu?

Lâm
Xung đáp:

- Ngày
hôm nay không có một ai qua lại, cho nên chưa làm sao lấy được.

- Nếu
ngày mai không có nữa, thì khó lòng mà ở đây được.

Lâm
Xung nghe vậy, thì không dám nói gì, song trong lòng hơi buồn bực không vui.

Sáng
hôm sau cơm nước xong, lại cùng tên tiểu lâu la xuống núi, tiểu lâu la lại đưa
Lâm Xung sang mạn núi bên nam, nấp ở trong rừng, đợi suốt từ sáng đến trưa,
cũng không thấy một ai cả.

Mãi
sau có bọn tới ba trăm người, liền lũ với nhau qua đó, Lâm Xung thấy vậy, đành
giương mắt nhìn họ đi mà không dám hạ thủ. Đoạn rồi lại rình mãi đến tối, cũng
không có một người nào đi qua nữa.

Lâm
Xung lấy làm bực dọc, bảo với tiểu lâu la rằng:

- Vận
ta đen quá, đến nỗi hai ngày hôm nay không có một mống nào, đi lẻ loi ở đây cả,
như thế biết làm sao bây giờ?

Tiểu
lâu la nói:

- Ngài
hãy cứ khoan tâm, còn một ngày mai nữa, tôi xin ngài sang mạn núi bên đông kia,
thì may ra có thể kiếm được.

Nói đoạn
cùng trở về sơn trại.

Khi về
tới nơi, Vương Luân lại nói rằng:

- Hôm
nay thế nào, đầu danh trạng đâu?

Lâm
Xung chỉ biết thở dài, mà không biết trả lời làm sao được.

Vương
Luân lại cười mà bảo rằng:

- Ngày
nay lại không có rồi! Thôi tôi hẹn ba ngày, mà nay đã hết hai rồi, còn một ngày
mai nữa, nếu không có, thì xin ngài cứ đi đâu cho, chứ không nên gặp nhau nữa.

Lâm
Xung nghe thấy vậy, thì trong lòng lấy làm phiền não, chỉ trông trời mà than thở
một mình. Hết một đêm hôm ấy, lại đến sáng hôm sau, Lâm Xung lại ăn qua loa một
ít cơm, rồi sắp cả khăn gói vào lưng, và vác cây thanh đao lớn, cùng với tiểu
lâu la đi xuống phía núi bên đông để đón.

Khi tới
sườn núi, đứng nấp ở bên trong khu rừng, ước từ sáng đến trưa, tịch không một
ai qua lại.

Bấy giờ
gặp buổi tuyết tàn mới tạnh, bóng ác sáng soi, Lâm Xung bảo với tiểu lâu la:

- Vận
ta thế này đen thực, còn mặt mũi nào trở lại sơn trại nữa. Vậy bất nhược ngay
bây giờ mặt trời chưa tối, ta tiện đây thu lấy hành lí, mà đi tìm nơi khác là
hơn!

Vừa
nói dứt lời, thì thấy tên tiểu lâu la trỏ tay ra mà bảo rằng:

- Kia
kìa! Có phải có một người đi đến kia không? Lâm Xung quay ra nom, thì quả nhiên
có một người đang lừ lừ ở góc núi đàng xa đi đến, chàng liền thở dài một tiếng,
ra dáng bất đắc dĩ trong lòng, rồi vác đao nhảy xổ ra.

Người
đi đường trông thấy Lâm Xung nhảy ra, thì kêu một tiếng rồi vất gánh xuống đường
mà vùng chạy tháo thân? Lâm Xung vội vàng đuổi theo đến chỗ góc núi, thì anh
kia chạy ngoắt đi đâu mất không sao bắt được. Bấy giờ Lâm Xung quay lại bảo với
tên lâu la rằng:

- Ngươi
xem vậy ta thế có ngán không? Đợi ba ngày mới gặp một người, thì nó lại chạy mất,
còn làm thế nào được nữa?

Tiểu
lâu la nói:

-
Không hề chi ngài dẫu không giết được người, nhưng đã có gánh lụa đây cũng có
thể thay vào được.

- Nếu
thế thì ngươi gánh về trại trước, để ta đứng đây đợi lúc nữa xem sao?

Tiểu
lâu la vâng lời, gánh gánh lụa đi về trại trước. Chợt đâu lại có một người to lớn
vác một thanh đao ở đâu lù lù đến, Lâm Xung đã mừng thầm trong bụng: "Chắc
là trời giúp cho ta phen này hẳn? "

Vừa
nghĩ vậy, thì người kia cầm thanh đao đi đến, quát lên như sấm vang rằng:

- Đồ
ăn cướp kia, muốn sống thì đem trả hành lí của ta. Chính ta đương muốn bắt
chúng bây, nay chúng bây lại còn muốn nhổ râu hùm nữa sao?

Nói đoạn
giơ đao nhảy sấn vào mà đánh Lâm Xung, mới hay:

Già
gan mới biết gan già,

Giang
hồ vùng vẫy ai mà kém ai?

Tuốt
gươm đứng dậy hỏi trời:

Nam
nhi này chịu thua thời được sao

Không
gan ai gọi anh hào,

Không
lên, ai biết non cao mấy trùng

Dấn
thân trong đám bụi hồng

Một liều
bảy, tám, chín lung lung ta quyết

Lời
bàn của Thánh Thán:

Toàn
Phong là gió dữ, sức nó quay tròn từ đất nổi lên, mới đầu thì những bụi than hợp
lai, dần dần làm cho đá chạy cát bay, khiến trời đất tối tăm, người vật đều
kinh khiếp, mới gọi là toàn, tức cơn gió Lốc, ý nói gió Lốc vơ những thứ ác dơ
bẩn, quét đi một nơi như thế vậy. Bến nước có một số người, cũng từ Lâm Xung tới
vậy. Mà vợ Lâm Xung về Bến Nước, thì ra sức của Sài Tiến làm nên. Xét tên của
Sài Tiến gọi là Toàn Phong, thì thấy lời kia dữ lắm, thế mà lại cho làm Tiểu (Toàn
Phong) là sao? Ví Sài Tiến đối với đám người Bến Nước, cũng ví như một cánh
bèo, rồi đến Lý Quỳ cũng vào Bến Nước, khiến trên dưới phân ngôi, làm cho nhật
nguyệt đôi vầng không sáng láng, cho nên lấy làm dữ dội những cơn gió, mà gọi
là Hắc Toàn Phong (tên Lý Quỳ) nay một kẻ kia là Hắc, thì Sài Tiến lại là Tiểu
vậy, mới gọi Sài Tiến làm Tiểu Toàn Phong.

Hồi
này một nửa về trước, chỉ bình thường không lạ, song chép việc cũng đơn giản đủ
ý, đến nửa hồi sau, tả Lâm võ sư uống rượu trong hàng nét bút như quỷ lạ, tự đầu
muốn lại vồ người, dẫu ngồi trong lầu gác đọc qua, cũng không thể chẳng vỗ bàn
mà kêu khóc vậy.

Tiếp
tay tả Vương Luân ghen ghét, đó cũng là thói quen của lũ ấy, chẳng nói làm chi,
chỉ duy chỗ ba ngày sang sông, mỗi ngày một tả khác, văn bút như vậy, cũng thấy
ly kỳ! Rất kỳ là ngày thứ nhất không thấy bóng người qua; Ngày thứ nhì có đám
ba trăm người qua, làm không đám động tay; Ngày thứ ba sao thấy một người, lại
bị chạy mất, phải đợi đến lần thứ hai, mới nảy ra một tay đại hán, đều là những
đoạn văn kỳ ảo đặc biệt, không thể bỏ qua. Trong văn có từng chỗ tả tuyết, khéo
điểm xuyết ly kỳ...

Ta đọc
trong đoạn văn ngày thứ ba, đến chỗ đánh cướp lấy gánh hàng, với câu trời còn
chưa tối, thấy rằng Nại Am là một bậc tài tử chính đáng, độc giả đời sau, xem
nên lưu ý, cho rõ lối hành văn.

Báo cáo nội dung xấu