Hồng lâu mộng - Chương 048

Chương 48: Hồi thứ bốn
mươi tám

Dùng bậy chữ tình, nhầm
về tình, chàng đi buôn bán

Mến yêu gái nhã, gặp
cuộc nhã, nàng mải ngâm thơ

Tiết Bàn nghe thấy Tương
Liên trốn đi rồi mới đỡ giận. Mấy hôm sau, hắn bớt đau, nhưng thương tích chưa
lành, đành phải giả ốm ở nhà, không dám ló mặt đến thăm bè

Thấm thoát đã đến tháng
mười, trong số người làm công ở các cửa hiệu, cuối năm tính tiền xong, họ muốn
về nhà, nên phải sửa rượu tiễn. Trong đó có một người tên là Trương Đức Huy, từ
bé vẫn làm quản lý cho hiệu cầm đồ của nhà Tiết Bàn. Gia tài hắn có đến hai, ba
nghìn vàng. Năm nay hắn cũng muốn về quê, sang xuân mới đến, liền nói với Tiết
Bàn:

- Năm nay giấy sắc và
các loại hương khan hiếm, sang năm tất phải đắt. Ra giêng tôi sẽ cho đứa con
lớn của tôi đến trông nom cửa hiệu, trước tết Đoan Ngọ, tôi tiện đường đi mua
một số giấy sắc và hương bánh về bán. Trừ nộp thuế và tiêu pha, ít nhất cũng có
thể được lãi gấp mấy lần.

Tiết Bàn nghe nói, nghĩ
bụng: “Giờ mình bị đòn, không mặt mũi nào nhìn thấy người ngoài, muốn tránh đi
ít lâu, nhưng không có chỗ, nếu ngày nào mình cũng giả cách ốm, chẳng lẽ cứ ốm
mãi sao được. Vả chăng mình đã lớn rồi, vẫn văn dốt vũ dát, nói là đi buôn,
nhưng cân kẹo, bàn tính không sờ đến bao giờ; thổ ngơi, phong tục, đường sá xa
gần cũng chẳng biết gì cả. Chi bằng ta thu xếp ít tiền vốn, đi theo Trương Đức
Huy độ một năm, lỗ lãi không cần, hãy tránh đi cho đỡ xấu hổ đã. Mặt khác, đi
ra để xem phong cảnh các nơi cũng hay”. Đến khi tan tiệc, hắn liền vui vẻ bảo
Trương Đức Huy hãy chờ một vài ngày nữa, hắn cùng đi một thể.

Đến tối, Tiết Bàn nói
việc ấy với mẹ. Tiết phu nhân nghe nói tuy cũng thích đấy, nhưng lại sợ con ra
ngoài sinh sự, còn việc tiêu mất tiền vốn chỉ là điều nhỏ thôi. Vì thế không
muốn cho hắn đi và nói:

- Mày thế nào cũng phải
ở gần tao, tao mới yên lòng. Vả chăng cũng không cần mày phải đi buôn, không
phải chờ mấy trăm bạc lãi của mày mới có mà tiêu. Mày ở nhà yên phận làm ăn,
còn hơn là được mấy trăm bạc lãi.

Nhưng khi nào Tiết Bàn
lại chịu nghe, liền nói:

- Ngày thường mẹ vẫn bảo
con không biết việc đời, cái này không biết, cái kia không hay. Bây giờ con cố
cắt đứt những việc chơi phiếm, để đi lập thân, học buôn học bán, mẹ lại không
để cho con đi à! Vậy mẹ bảo con làm gì bây giờ? Con không phải là con gái, cứ
giam hãm ở nhà, thì bao giờ mới khá ra được? Vả chăng Trương Đức Huy là người
có tuổi, nhà ta quen ông ta từ lâu, việc gì con cũng hỏi ông ấy, thì nhầm thế
nào được? Nhỡ con có sơ hở việc gì, ông ta tất phải khuyên bảo. Món hàng đắt rẻ
thế nào, ông ấy thông thạo cả, cái gì con cũng hỏi ông ấy rồi mới mua, thì
thuận lợi biết chừng nào! Thế mà mẹ lại không cho con đi! Mấy hôm nữa con không
nói gì với nhà, cứ việc sửa soạn đi. Sang năm phát tài trở về, lúc đó mẹ mới
biết tay con!

Nói xong, hắn hậm hựcTiết
phu nhân liền bàn với Bảo Thoa. Bảo Thoa cười nói:

- Quả thực anh ấy muốn
ra đời làm ăn đứng đắn thì cũng được đấy. Chỉ sợ ở nhà nói hay, đến khi ra
ngoài lại chứng nào tật ấy, thì khó mà ngăn giữ được. Thôi mẹ chẳng hơi đâu mà
lo nhiều thế. Nếu anh ấy biết sửa lỗi, thì phúc cho cả đời anh ấy; bằng không
mẹ cũng chẳng còn cách nào hơn. Ta chỉ biết hết sức người thôi, còn hay dở là
nhờ trời. Giờ anh ấy đã lớn rời, mẹ không cho anh ấy đi ra khỏi cửa, không cho
làm việc gì, năm nay ru rú trong nhà, sang năm cũng lại thế thôi. Anh ấy đã
nói, có phần danh chính ngôn thuận, thì mẹ cũng nên nghĩ kỹ, bỏ ra một nghìn
hay tám trăm lạng bạc giao cho anh ấy đi thử một chuyến xem sao. Dầu sao đã có
bạn buôn giúp đỡ chắc họ cũng không nỡ lừa dối anh ấy đâu. Vả lại anh ấy đi ra
ngoài, bên cạnh không có ai xúi giục làm bậy, không có chỗ dựa để cậy thần
cậy thế. Mỗi người ở mỗi nơi thì còn ai sợ ai nữa? Có thì ăn, hết thì nhịn,
chung quanh không có người nương tựa, biết thân như thế, anh ấy sẽ đỡ sinh
chuyện cũng chưa biết chừng.

Tiết phu nhân ngẫm nghĩ
một lúc, nói:

- Con nói phải đấy, để
cho nó đi học khôn, có tốn ít tiền cũng đáng.

Đến sáng hôm sau, Tiết
phu nhân sai người mời Trương Đức Huy đến, bảo Tiết Bàn thết rượu ở ngoài thư
phòng, còn mình ngồi ở sau hành lang cách cửa số, dặn đi dặn lại, nhờ Trương
Đức Huy trông nom con hộ. Trương Đức Huy vâng dạ luôn mồm. Ăn cơm xong, hắn cáo
từ ra về, và nói:

- Ngày mười bốn này xuất
hành rất tốt, xin cậu sắp sẵn hành lý, thuê một con lừa, đến sáng hôm ấy chúng
ta cùng đi.

Tiết Bàn mừng lắm, kể
lại cho Tiết phu nhân nghe.

Tiết phu nhân, Bảo Thoa
và Hương Lăng cùng mấy bà già sửa soạn hành lý trong mấy ngày liền, sai bõ già
của Tiết Bàn, và hai người hầu đã quen việc cùng hai đứa hầu cận đi theo, tất
cả là sáu người. Thuê ba cỗ xe lớn chở hành lý, lại thuê bốn con lừa đi đường
trường. Tiết Bàn cưỡi con lừa lớn màu xám của nhà nuôi, lại dắt thêm một con
ngựa nữa đi theo. Mọi việc xong xuôi, Tiết phu nhân và Bảo Thoa suốt đêm khuyên
bảo Tiết Bàn.

Đến ngày mười ba, Tiết
Bàn sang chào mợ trước, rồi đi chào những người trong nhà họ Giả. Bọn Giả Trân
cũng đều chào lại, không cần kể rõ. Đến sáng ngày mười bốn, Tiết phu nhân và
Bảo Thoa tiễn Tiết Bàn ra cửa ngoài, hai mẹ con nhìn hắn đi khuất rỗi mới quay
về.

Khi Tiết phu nhân vào
kinh, chỉ mang theo bốn năm gia đinh người nhà, vài ba bà già và lũ hầu con
thôi. Bây giờ trừ những người đi theo Tiết Bàn ra, ở nhà chỉ còn có vài đứa hầu
trai. Vì thế, hôm đó Tiết phu nhân đến thu dọn ngay những đồ chơi và rèm mn ở
thư phòng Tiết Bàn đem về, rồi gọi vợ của hai người hầu trai đi theo Tiết Bàn
cũng vào trong nhà ngủ. Lại bảo Hương Lăng: “Xếp đặt cẩn thận trong nhà, khóa
cửa lại, tối đến lên ngủ với ta”.

Bảo Thoa nói:

- Mẹ đã có những người
này ở bên cạnh rồi, nên cho chị Lăng đến ở với con. Trong vườn vắng, đêm lại
dài, đêm nào con cũng làm việc, nếu thêm được một người chẳng vui hay sao?

Tiết phu nhân cười nói:

- Phải đấy, ta quên mất,
nên cho nó sang ở với con là phải. Hôm đó, ta đã bảo anh con: Văn Hạnh còn bé,
nói trước quên sau, một mình Oanh Nhi hầu không xuể. Cần phải mua thêm cho con
một con hầu nữa.

- Không biết lai lịch mà
cứ mua người về, lỡ ra không vừa ý, tốn tiền không đáng kể, lại thêm bực mình
nữa. Mẹ hãy để thong thả xem đã, biết rõ người rồi sẽ mua.

Vừa nói vừa bảo Hương
Lăng thu dọn chăn đệm, hòm rương, sai một bà già và Trần Nhi mang đến Hành Vu
Uyển, rồi Bảo Thoa và Hương Lăng cùng vào trong vườn.

Hương Lăng nói với Bảo
Thoa:

- Tôi vẫn muốn nói với
mẹ, khi cậu ấy đi rồi, tôi sẽ đến ở với cô. Nhưng lại sợ mẹ ngờ vực bảo tôi chỉ
thích sang vườn để chơi đùa, không ngờ bây giờ cô lại nói cho.

Bảo Thoa cười nói:

- Tôi vẫn biết chị thích
vườn này đã lâu, chỉ vì không có dịp thôi. Thỉnh thoảng đến một lần, chị lại
vội vội vàng vàng, chẳng có thú gì. Vì thế, nhân dịp này, tôi xin cho chị ở
lâu, chừng một năm. Tôi thì có thêm bạn, chị thì được thỏa lòng.

- Cô ơi! Nhân dịp này,
cô dạy tôi làm thơ nhé!

- Chị thật là được đất
Lũng lại mong đất Thục(1). Tôi khuyên chị hãy thong thả. Hôm nay mới đến, trước
hết chị ra phía cửa Đông, đến chào cụ, rồi chào tất cả mọi người, nhưng không
nên nói cho họ biết vì cớ làm sao mà chị lại dọn sang ở bên vườn này. Có ai
hỏi, chỉ nói là tôi bảo chị sang ở với tôi cho vui. Xong rồi chị vào vườn thăm
các cô.

(1). Ý nói được cái nọ lại mong cái kia.

Hương Lăng vâng lời, khi
sắp đi, thấy Bình Nhi vội vàng chạy đến. Hương Lăng liền hỏi thăm. Bình Nhi
cũng cười đáp lại. Bảo Thoa cười bảo Bình Nhi:

- Hôm nay tôi đem chị
Hương Lăng đến ở với tôi, định sang nói với mợ chị đây.

- Sao cô lại nói câu ấy?
Làm tôi không thể trả lời

- Như thế mới đúng nhẽ.
“Nhà phải có chủ, đền phải có ông từ chứ". Tuy việc không to tát, nhưng
cũng phải nói qua, để những người canh gác trong vườn biết là có thêm hai
người, tiện cho họ trong khi đóng mở cửa ngõ. Chị về nói hộ, tôi khỏi phải sai
người sang nữa.

Bình Nhi vâng lời, lại
hỏi Hương Lăng:

- Chị đến ở đây sao
không đi chào bà con hàng xóm?

Bảo Thoa cười nói:

- Tôi đang bảo chị ấy đi
đấy.

Bình Nhi nói:

- Chị đừng đến nhà tôi
vội, cậu Hai đương ốm nằm ở nhà đấy.

Hương Lăng vâng lời, đến
chào Giả mẫu trước.

Bình Nhi thấy Hương Lăng
đi rồi, liền kéo Bảo Thoa khẽ hỏi:

- Cô có nghe thấy bên
nhà tôi mới xảy ra việc gì không?

- Không. Vì mấy hôm nay
bận tiễn anh tôi đi, nên việc bên nhà các chị, tôi chẳng biết gì cả. Ngay các
chị em mấy hôm nay tôi cũng không được gặp.

- Ông tôi vừa mới đánh
cậu ấy một trận nhừ tử. Thế mà cô không biết à?

- Sáng ngày mới thoảng
nghe, nhưng tôi chưa tin là thực. Tôi định sang thăm mợ chị, lại gặp chị đến.
Tại sao ông lại đánh cậu ấy thế?

Bình Nhi nghiến răng
nói:

- Chỉ vì lão Giả Vũ Thôn
“Vũ xã”(2) nào ấy, bỗng dưng vác cái mặt vọ ở đâu lần đến. Mới nhận họ chưa đầy
mười năm, nó đã sinh ra bao nhiêu chuyện rắc rối! Mùa xuân năm nay, không biết
ông tôi trông thấy mấy cái quạt cũ ở đâu khi về, xem tất cả những quạt ở nhà
đều không có cái nào đẹp bằng. Thế là ông tôi lập tức sai người đi tìm các nơi.
Ai ngờ có một tên oan gia không sợ chết, người ta đặt đùa cho nó cái hiệu thằng
“ngốc đá”. Nó nghèo xác, cơm cũng không có mà ăn, nhưng trong nhà lại có đến
hai mươi cái quạt. Nó chết cũng không chịu mang ra khỏi nhà. Cậu tôi nhờ người
nói lót mãi mới được gặp; nói đến hai, ba lần, nó mới chịu mời đến nhà chơi và
giở quạt ra cho xem qua một tí. Theo lời cậu tôi, hạng quạt ấy làm bằng loại
trúc Tương phi(3) và ngọn trúc... lại đều có nét vẽ và chữ đề của người xưa.
Cậu tôi về trình, ông tôi liền bảo đi mua, hết bao nhiêu tiền cũng trả cho nó.
Nhưng thằng “ngốc đá” nói: “Tôi thà chết đói chết rét, chứ một nghìn lạng bạc
một cái, cũng không bán”. Ông tôi không biết làm thế nào, ngày nào cũng cứ mắng
cậu tôi là không làm được việc gì đã hứa đưa trước cho nó năm trăm lạng bạc,
sau mới lấy quạt, nhưng nó nhất định không bán, chỉ nói: “Muốn lấy quạt thì hãy
giết tôi trước đã!" Cô thử nghĩ xem còn có cách gì nữa không? Ngờ đâu lão
Vũ Thôn là hạng không có lương tâm, nghe thấy thế, liền bày mưu vu cho nó thiếu
tiền công, bắt nó đến cửa quan, bảo: Mày thiếu tiền công, phải bán gia tài để
nộp Rồi tịch thu số quạt, tính thành quan giá, mang đi! Hiện giờ thằng “ngốc
đá” không biết còn sống hay chết. Ông tôi mới hỏi cậu tôi: “Sao người ta lại
lấy đước về đây?” Cậu ấy chỉ nói có một câu: “Vì một việc nhỏ làm người ta
khuynh gia bại sản cũng không phải là giỏi”. Ông tôi nổi giận, bảo là cậu ấy
đem lời chẹn họng ông tôi. Đó là việc lớn thứ nhất. Mấy ngày sau, lại có mấy
việc nhỏ nữa, tôi không nhớ hết; vì thế ông tôi góp cả tội lại, đánh cậu tôi
một trận. Chẳng biết đánh đấm thế nào, không đánh bằng roi, bằng vọt, bạ cái gì
ông tôi đánh cái ấy, làm mặt cậu tôi bị toạc hai chỗ. Thấy nói bên bà dì có một
thứ thuốc chữa khỏi vết đòn, nên đến nhờ cô tìm hộ cho tôi xin một viên.

(2). Nguyên văn: Vũ thôn “phong thôn”.

(3). Vợ vua Thuấn là Tương phu nhân. Khi vua Thuấn
chết, bà khóc nhiều quá, nước mắt nhỏ vào cành trúc đến đâu thì có vần đến đấy,
nên gọi là Tương phi trúc.

Bảo Thoa sai Oanh Nhi
lấy hai viên thuốc đưa cho Bình Nhi, rồi nói:

- Như thế tôi không sang
nữa, nhờ chị về nói hộ, tôi gửi lời hỏi thăm.

Bình Nhi nhận lời rồi
về.

Hương Lăng đi chào mọi
người xong, về nhà ăn cơm chiều. Ăn xong, bọn Bảo Thoa đến cả đằng Giả mẫu,
Hương Lăng liền sang quán Tiêu Tương. Bấy giờ Đại Ngọc đã đỡ nhiều rồi, thấy
Hương Lăng vào ở trong vườn, tự nhiên cũng vui thêm. Hương Lăng cười nói:

- Em sang ở đây, lúc nào
rỗi, đến nhờ cô dạy làm thơ thì phúc cho em lắm.

Đại Ngọc cười nói:

- Chị đã muốn làm thơ
thì phải gọi tôi bằng thầy. Tôi không giỏi, cũng dạy nổi chị.

- Nếu thực thế, em xin
gọi cô là thầy, xin cô đừng ngại.

- Làm thơ có gì khó mà
phải học? Chẳng qua chỉ có khai, thừa, chuyển, hợp, trong đó thừa và chuyển đều
là hai vế đối nhau, chữ bằng đối với chữ trắc, hư đối với hư, thực đối với
thực. Nếu được câu hay khác thường thì bằng trắc hư thực không cần phải đối
nhau cũng được.

- Thảo nào khi rảnh, em
thường lấy quyền thơ cũ ra xem mấy bài, có câu đối nhau rất chỉnh, có câu lại
không đối. Lại nghe người ta nói, các chữ thứ nhất, thứ ba, thứ năm không cần,
chỉ có các chữ thứ hai, thứ tư, thứ sáu là phải rõ ràng. Xem thơ của cổ nhân,
có khi đúng như thế, có khi những chữ thứ hai, thứ tư, thứ sáu lại không thế. Vì
vậy lúc nào em cũng lấy làm ngờ. Bây giờ cô nói, thì ra khuôn phép ấy không cần
lắm, chỉ cần lời và câu cho mới lạ là hay thôi.

- Đúng đấy. Nhưng lời và
câu văn là việc phù du, cần nhất phải đặt từ cho sát. Nếu từ sát thực thì lời
và câu văn không cần điêu luyện cũng vẫn hay. Như thế gọi là: “Không nên lấy
lời hại ý”.

- Em chỉ thích câu thơ
của Lục Phóng Ong(4), lời rất thiết thực:

(4). Tức Lục Du, người đời Tống, làm thơ rất giỏi.

Rèm mau không cuộn hơơng
còn mãi,

Nghiên cổ hơi sâu mực
đọng nhiều.

- Chớ nên xem loại thơ
ấy. Vì chị chưa biết làm thơ, nên thấy những câu nông cạn đã thích ngay. Nếu
mắc vào khuôn sáo ấy thơ sẽ không tiến được nữa. Chị hãy nghe tôi: chị thích
học, ở đây tôi có toàn tập thơ Vương Ma Cật, chị hãy chịu khó nghiền ngẫm kỹ
càng một trăm bài thơ ngũ ngôn của ông ta, rồi sau đọc một trăm hai mươi bài
thất ngôn của Đỗ Phủ, sau nữa lại đọc độ một, hai trăm bài thất ngôn tuyệt cú
của Lý Bạch. Phải lót dạ thơ của ba thi hào ấy đã, sau mới xem đến thơ của Đào
Uyên Minh, Ứng Dịch, Lưu Vũ Tích, Tạ Diểu, Nguyễn Tịch, Dữu Lượng, Bão Chiếu.
Chị là người thông minh nhanh nhẹn, học chừng trong một năm sẽ thành nhà thơ.

- Cô ơi, đã thế cô cho
em mượn sách mang về, đến đêm em đọc mấy bài.

Đại Ngọc bảo Tử Quyên
đưa tập thơ ngũ ngôn của Vương Ma Cật cho Hương Lăng và bảo:

- Chị xem những bài nào
có khuyên đỏ là tôi đã chọn rồi, có bài nào học bài ấy. Nếu không hiểu nghĩa,
chị sẽ hỏi cô Bảo, hoặc gặp tôi, tôi sẽ giảng cho.

Hương Lăng cầm tập thơ
về Hành Vu Uyển, chẳng nhìn đến công việc gì, thắp ngay đèn đọc hết bài này đến
bài khác. Bảo Thoa mấy lần giục cũng không đi ngủ. Bảo Thoa thấy Hương Lăng mài
miệt quá, đành phải để tùy ý.

Một hôm, Đại Ngọc vừa
rửa mặt chải đầu xong, thấy Hương Lăng cười hớn hở đem đến giả tập thơ cũ, và
mượn tập thơ Đỗ Phủ. Đại Ngọc cười nói:

- Nhớ được tất cả bao
nhiêu bài rồi?

- Nhưng bài có khuyên
đỏ, em đọc hết cả.

- Đã lĩnh hội được ít
nào chưa?

- Em đã lĩnh hội được
một ít, nhưng chưa biết có đúng không. Em nói cho cô nghe nhé.

- Cần phải nhận xét bàn
bạc mới tiến được. Chị hãy nói cho tôi nghe nào.

- Cứ ý em thì những chỗ
hay của bài thơ, có nhiều ý tứ không thể nói ra được, nhưng ngẫm nghĩ lại rất
thiết thực;ó nhiều câu thơ như là vô lý, nhưng nghĩ rất có lý có tình.

- Nói thế là chị đã có
ít nhiều thi tứ rồi đấy! Nhưng do đâu mà chị biết được như thế?

- Em xem bài “Ngoài cửa
ải” có câu:

Bãi rộng khói đùn làn
thẳng tắp;

Sông dài ác xế mặt tròn
vành.

Em nghĩ khói thì “thẳng”
thế nào được? Mặt trời tất nhiên là “tròn” rồi. Thế thì chữ “thẳng” như là vô
lý, mà chữ "tròn” hình như rất tục. Nhưng sau gấp sách lại ngẫm nghĩ, hình
như mắt trông thấy hẳn cái cảnh ấy. Muốn tìm hai chữ khác thay vào nhưng không
sao tìm được. Lại còn câu:

Trắng xóa sông ngòi khi
ác lặn;

Xanh lè giời đất lúc
trào dâng.

Hai chữ "trắng” và
“xanh, mới nghe cũng hình như vô lý, nhưng nghĩ kỹ ra thì chỉ có hai chữ ấy mới
hình dung hết được phong cảnh. Đọc lên thấy nặng chình chịch như miệng ngậm quả
trám ấy. Lại có câu:

Mặt trời rớt lại rơi đầu
bến;

Đám khói trơ ra bốc giữa
làng.

Chữ “rớt” và chữ
“trơ" sao mà họ khéo nghĩ được như vậy. Năm trước, khi chúng em lên kinh,
một hôm về chiều, thuyền đậu trên bờ, người vắng, chỉ có mấy cái cây, đằng xa
có mấy nhà đang nấu cơm chiều, khói bốc lên màu xanh biếc lẫn với đám mây. Ngờ
đâu đêm qua đọc đến hai câu thơ này, mắt em như lại trông thấy cảnh ấy.

Đang nói chuyện thì Bảo
Ngọc và Thám Xuân đến, đều vào ngồi nghe Hương Lăng nói về thơ. Bảo Ngọc cười
nói:

- Đã thế thì không cần
phải xem thơ nữa. Chỗ lãnh hội không phải ở đâu xa xôi, cứ nghe nói hai câu ấy
đủ biết về chị đã nắm được mấu chốt của cách làm thơ rồi.

Đại Ngọc cười nói:

- Chị bảo mấy chữ “đám
khói trơ ra” là hay, nhưng chị chưa biết đó là bắt chước ý câu thơ của người
trước. Tôi cho chị xem câu này, so với câu kia nhẹ nhàng và thiết thực hơn.

Nới xong, liền đưa cho
Hương Lăng xem câu thơ của Đào Uyên Minh:

Tờ mờ xóm làng xa,

Trơ vơ khói trên bãi.

Hương Lăng xem rồi gật
đầu khen ngợi mãi, cười nói:

- Thế thì chữ
"trơ" là do ý hai chữ “trơ vơ" mà ra!

Bảo Ngọc cười to nói:

- Thế là chị đã hiểu lắm
rồi, không cần phải giảng giải nữa. Nếu còn giảng giải đâm ra loãng mất. Bây
giừ chị cứ làm thơ đi, nhất định là hay.

Thám Xuân cười nói:

- Ngày mai tôi viết thêm
một cái thiếp, mời chị vào thi xã.

Hương Lăng nói:

- Cô ơi, sao cứ trêu
chọc em thế? Chẳng qua thích thơ, em học để mà chơi đấy thôi.

Thám Xuân, Đại Ngọc đều
cười nói:

- Ai chẳng chơi? Không
lẽ chúng tôi mới là người biết làm thơ à? Nếu bảo chúng tôi biết làm thơ, tiếng
đồn ra khỏi vườn này, có lẽ người ta cười đến vỡ bụng mất!

Bảo Ngọc nói:

- Thế là mình coi rẻ
mình rồi. Hôm trước tôi ra bàn việc vẽ với các ông họa sư ở ngoài kia, họ nghe
thấy chúng ta mở thi xã đều xin tôi đưa tập thơ cho họ xem. Tôi viết mấy bài
đưa cho họ, ai cũng phải thán phục. Họ đã chép để mang đi khắc rồi.

Thám Xuân, Đại Ngọc hỏi:

- Có thật thế không?

- Tôi mà nói dối thì
cũng như con vẹt trên cây này.

- Anh thật bậy quá! Đừng
nói thơ chẳng ra thơ, mà có ra thơ chăng nữa cũng không nên mang bút tích của
chúng tôi ra ngoài.

- Sợ cái gì? Nếu bút
tích của những người trong khuê các trước kia không truyền ra ngoài, bây giờ
biết sao được những bài thơ của họ.

Chợt thấy Tích Xuân sai
Nhập Họa đến mời Bảo Ngọc. Bảo Ngọc vừa đi thì Hương Lăng lại xin đổi lấy tập
thơ Đỗ Phủ, và nói với Đại Ngọc, Thám Xuân:

- Xin hai cô ra đầu bài
cho em về làm thử; làm xong, nhờ hai cô chữa hộ.

Đại Ngọc nói:

- Đem qua trăng đẹp quá,
tôi đang định làm một bài, nhưng chưa nghĩ xong. Chị làm đi. Hạn vần thập tứ
hàn, chị muốn dùng chữ nào trong vần ấy thì dùng.

Hương Lăng mừng quá,
mang tập thơ về, nghĩ một lúc, làm được hai câu. Nhưng lại tiếc thơ Đỗ Phủ, nên
mải miết đọc vài bài, không thi đến ăn uống, nằm ngồi cũng không yên. Bảo Thoa
nói:

- Làm gì chị phải đeo
khổ vào mình thế? Chỉ tại cái cô Tần cám dỗ chị, để tôi kể tội cho nó. Xưa nay
chị vốn là ngớ ngẩn, giờ đến việc này, lại cảng ngớ ngẩn thêm.

- Cô ơi! Cô đừng làm rầy
tôi nữa.

Hương Lăng vừa nói vừa
đưa bài thơ mới làm cho Bảo Thoa xem. Bảo Thoa cười nói:

- Bài này không được,
không phải lối làm như thế. Nhưng đừng xấu hổ, cứ mang sang cho cô Đại Ngọc,
xem cô ta bảo thế nào.

Hương Lăng cầm bài thơ
sang đưa cho Đại Ngọc, Đại Ngọc xem thơ thấy:

Đêm lạnh vừng trăng đừng
giữa giời,

Tròn xoe trong vắt bóng
chơi vơi.

Nhà thơ hứng quá trừmg
đôi mắt,

Khách ẩn buồn tênh lảng
một nơi.

Lầu thúy gương đâu treo
xế cạnh,

Rèm châu băng những giắt
bên ngoài.

Đêm nay đuốc bạc chi cần
đốt,

Bức vẽ lan can đã sáng
ngời.(5)

(5). Nguyên văn “Hàn”, vì hạn chế của dịch, phải dịch
theo vần khác.

Đại Ngọc cười nói:

- Ý tứ thì có, nhưng lời
không được nhã, chỉ vì chị xem thơ ít nên bị nó gò bó. Bỏ bài này đi, chị làm
bài khác. Cần phải mạnh dạn mà làm.

Hương Lăng nghe nói,
lẳng lặng về nhà, không buồn vào buồng, lại đến gốc cây bên bờ ao, khi thờ thẫn
trên hòn đá, khi ngồi xuống vạch đất. Những người qua lại đều lấy làm lạ. Bọn
Lý Hoàn, Bảo Thoa, Thám Xuân và Bảo Ngọc đều đứng ở sườn núi đằng xa nhìn mà
cười. Thấy Hương Lăng lúc cau mày, lúc mỉm cười một mình, Bảo Thoa cười nói:

- Chị này nhất định điên
rồi! Đêm qua chị ta lầm rầm đến tận canh năm mới ngủ. Nằm được một lúc giời
sáng, đã lại thấy dậy rồi, vội vàng chải đầu sang ngay bên cô Tần. Khi về thẫn
thờ một lúc, làm được một bài nhưng không hay, chắc bây giờ chị ta lại làm bài
khác đấy.

Bảo Ngọc cười nói:

- Thật đúng là “đất
thiêng thì người giỏi!” Trời đã sinh ra người, không bao giờ bỏ phí tính tình
của người. Ngày thường chúng ta vẫn phàn nàn, tiếc cho chị ấy là người tục! Ngờ
đâu bây giờ lại thế này! Mới biết trời đất rất công bằng

Bảo Thoa cười nói:

- Anh chịu khó được như
chị ấy, thì học cái gì mà chẳng thành tài?

Bảo Ngọc không trả lời.
Chọt thấy Hương Lăng hớn hở chạy sang bên Đại Ngọc. Thám Xuân cười nói:

- Chúng ta đi sang đó,
xem thơ của chị ta có hay không?

Liền cùng nhau đến quán
Tiêu Tương, thấy Đại Ngọc đang xem và giảng giải bài thơ của Hương Lăng. Mọi
người hỏi Đại Ngọc:

- Thơ làm ra sao rồi?

- Kể ra chị ta cũng đáng
khen rồi đấy, nhưng vẫn chưa được. Bài thơ này lại gọt quá, còn phải làm lại.

Mọi người xem, thì thấy:

Bạc hay là nước dọi
ngoài song,

Mâm ngọc nhìn xem giữa
ánh hồng.

Hương đượm hoa mai màu
nhạt nhạt,

Móc tan tơ liễu sợi
thòng thòng.

Thềm vàng xoa phấn thừa,
đâu đấy?

Giàn ngọc dây sương nhẹ
phải không?

Tỉnh giấc lâu tây người
vắng ngắt,

Ngoài rèm còn đấy mảnh
gương trong.

Bảo Thoa cười nói:

- Không phải là vịnh
trăng. Theo tứ bài này, dưới chữ trăng phải thêm chữ “sắc" nữa mới được.
Chị xem đấy, câu nào cũng là vịnh “sắc trăng" cả. Nhưng thôi, xưa nay thơ
vẫn là nói phiếm hết, chị cứ làm ít lâu nữa, thơ sẽ hay đấy.

Hương Lăng vẫn cho bài
thơ này đã hay lắm rồi, giờ nghe nói thế, đâm ra cụt hứng, không chịu bỏ qua,
lại muốn nghiền ngẫm ngay. Thấy các chị em đang cười nói, Hương Lăng ra đứng
trước cây trúc dưới thềm, dốc cả tâm trí vào thơ, tai không cần nghe, mắt không
cần nhìn đến nhưng sự việc ở chung quanh. Một lúc Thám Xuân đứng ở trong cửa sổ
cười nói:

- Cô Lăng ơi, hãy “nhàn
nhàn” một tí đã.

Hương Lăng giật mình trả
lời:

- Chữ “nhàn” ở vần thập
ngũ san kia, cô nhầm rồi.

Mọi người nghe nói, cười

- Thực là con ma thơ!
Chỉ tại con Tần cám dỗ chị ấy.

Đại Ngọc cười nói:

- Thánh nhân nói “dạy
người không biết chán”, chị ta cứ hỏi đến tôi, lẽ nào tôi lại không bảo?

Lý Hoàn cười nói:

- Chúng ta kéo chị ấy
đến nhà cô Tư xem bức vẽ, để chị ấy tỉnh lại mới được.

Nói xong, đứng dậy, kéo
Hương Lăng đi sang Ngẫu Hương tạ. Vào đến ổ Noãn Hương, thấy Tích Xuân đang
mệt, nằm ngủ trưa trên giường, bức vẽ dựng cạnh vách, ngoài có the phủ. Mọi
người gọi Tích Xuân dậy, mở the ra xem, thấy mười phần mới vẽ xong được ba.
Trong bức vẽ có mấy vị mỹ nhân, Hương Lăng liền chỉ vào đó nói:

- Vị này là các cô, vị
kia là cô Lâm.

Thám Xuân cười nói:

- Những người nào biết
làm thơ, đều được vẽ vào bức tranh này, chị cố học thơ đi.

Mọi người cười đùa một
lúc, rồi đâu lại về đấy.

Hương Lăng trong bụng
lúc nào cũng nghĩ đến thơ. Buổi tối ngồi thờ thẫn ở trước đèn cho đến hết canh
ba mới lên giường nằm, hai mắt cứ trừng trừng cho đến canh năm mới ngủ được một
tí.

Một lúc trời sáng, Bảo
Thoa trở dậy. Lắng nghe Hương Lăng đang ngủ say, nghĩ bụng: “Chị ta trằn trọc,
cả đêm không biết đã làm xong thơ chưa? Bây giờ chắc mệt, ta đừng gọi vội”.
Bỗng thấy Hương Lăng nói mê:

- Thơ xong rồi! Lẽ nào
bài này lại không hay?

Bảo Thoa nghe vậy, vừa
bực mình vừa buồn cười, liền gọi Hương Lăng dậy hỏi:

- Đã xong thơ chưa? Lòng
thành của chị đã thấu đến trời rồi. Khéo không thơ chẳng học nổi, lại đeo cái
ốm vào người đấy!

Vừa nói vừa đi rửa mặt
chải đầu, rồi cùng chị em sang bên Giả mẫu. Nguyện Hương Lăng cố chí mài miệt
học làm thơ, tinh thần để cả vào đấy, ban ngày chẳng nghĩ được câu gì, chợt
trong giấc mộng, lại nghĩ được cả tám câu. Rửa mặt chải đầu xong, chị ta vội
vàng viết ngay ra, đem đến đình Thấm Phương, thấy Lý Hoàn cùng các chị em vừa ở
bên Vương phu nhân về, Bảo Thoa nói với họ là chị ta ngủ mê cũng làm thơ. Mọi
người đang cười, ngẩng đầu lên, đã thấy Hương Lăng đến rồi, liền tranh nhau xem
thơ.

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3