Hồng lâu mộng - Chương 039
Chương 39: Hồi thứ ba
mươi chín
Già nhà quê hay nói
huênh hoang
Cậu có tình cứ tìm ngành
ngọn
Mọi người thấy Bình Nhi
đến, đều hỏ
- Mợ chị ở nhà làm gì mà
không thấy đến?
- Mợ ấy có được rỗi đâu?
Vì ở nhà không có món gì ăn ngon, lại không thể sang đây được, nên mợ ấy bảo
tôi đến hỏi xem có còn cua hay không, xin mấy con mang về nhà ăn.
Tương Vân nói:
- Có nhiều lắm!
Liền sai người mang cái
làn đựng mười con cua lớn.
Bình Nhi nói:
- Cho thêm mấy con cua
cái nữa.
Mọi người lại kéo Bình
Nhi ngồi xuống. Bình Nhi không chịu ngồi. Lý Hoàn cười nói:
- Thì cứ ngồi xuống đã
nào.
Rồi kéo Bình Nhi ngồi
xuống, rót một chén rượu, đưa lên miệng cô ta. Bình Nhi vội hớp một ngụm, định
đi ngay. Lý Hoàn bảo:
- Chưa cho cô đi vội. Cô
mới chỉ biết có mợ Phượng nhà cô thôi còn tôi thì cô không thèm nghe lời gì cả.
Liền quay bảo bọn bà
già:
- Hãy mang làn cua này
sang biếu mợ Phượng, và nói rằng ta còn giữ cô Bình ở lại chơi.
Một lúc, bà già mang cái
làn về nói:
- Mợ Hai nói: các mợ và
các cô đừng cười, hãy nếm món này đã. Trong làn này đựng bánh xốp và bánh cuốn
mỡ gà của của bà mợ đưa sang cho các mợ và các cô ăn.
Bà ta lại ngoảnh vào nói
với Bình Nhi:
- Mợ bảo rằng: Sai chị
đi mà chị cứ tham ăn, không chịu về ngay. Mợ lại dặn chị uống ít rượu chứ.
Bình Nhi cười nói:
- Tôi uống nhiều thì làm
gì tôi!
Vừa nói vừa uống rượu
vừa ăn cua. Lý Hoàn ôm lấy Bình Nhi, cười nói:
- Đáng tiếc dáng điệu
mặt mũi thế này mà số phận lại kém cỏi, chỉ là người hầu hạ trong nhà thôi!
Người ngoài ai trông thấy, chẳng bảo cô là hạng các mợ, các bà.
Bình Nhi vừa uống rượn
với bọn Bảo Thoa, Tương Vân, vừa quay lại cười nói:
- Xin mợ đừng sờ vào
người tôi đâm ngứa ngáy khó chịu.
Lý Hoàn hỏi:
- Ái chà! Đeo cái gì mà
rắn th này?
- Chùm chìa khóa đấy.
- Có cái gì quan hệ sợ
người ta ăn trộm mà phải đeo luôn trong người thế? Ngày thường tôi vẫn nói với
mọi người, có Đường Tăng(1) đi lấy kinh, thì phải có con ngựa trắng chở kinh;
có Lưu Trí Viễn ra đánh dẹp thiên hạ, thì phải có con hồ tinh cho mũ giáp. Có
mợ Phượng thì phải có cô Bình! Cô là chìa khoá của mợ cô rồi, lại còn dùng chìa
khóa này làm gì nữa?
(1). Tức Thích Huyền Trang, người đời Đường, sang Aán
Độ lấy kinh. Vua không cho đi, ông ta trốn ra cửa Ngọc Quan, rồi đến Thiên
Trúc, vào chào Thượng tọa giới hiền. Người chnước Chi La. Vua nước ấy cấp cho
Đường Tăng con tuấn mã chở kinh về, tất cả hơn 600 bộ.
Bình Nhi cười nói:
- Mợ uống rượu lại mang
tôi ra làm trò cười.
Bảo Thoa cười nói:
- Mợ ấy nói thực đấy.
Khi chúng tôi ngồi rỗi, thường hay bàn tán mấy người trong bọn các chị, thấy là
mỗi người một vẻ trăm người chưa chọn được một.
Lý Hoàn nói:
- Việc lớn, việc nhỏ đều
do ông trời định sẵn cả. Ví như bên nhà cụ, không có chị Uyên Ương thì làm thế
nào nổi việc? Từ bà Hai trở xuống, có ai dám trái lời cụ đâu? Thế mà cô ta lại
dám cãi lại, cụ vẫn chỉ nghe cô ta thôi. Những quần áo của cụ không ai nhớ
được, cô ta vẫn nhớ rành rọt. Nếu không có cô ta trông nom, thì không biết
người ta đã lừa gạt mất bao nhiêu rồi! Vả chăng bụng cô ta lại thẳng thắn,
thường hay nói tốt cho người, chứ không bao giờ cậy thế khinh rẻ một ai.
Tích Xuân cười nói:
- Hôm nọ cụ vừa nói, cô
ta còn hơn chúng tôi nữa đấy.
Bình Nhi nói:
- Chị ấy là người tốt,
chúng tôi bì thế nào được.
Bảo Ngọc nói:
- Chị Thái Hà ở nhà mẹ
tôi cũng là người thực thà.
Thám Xuân nói:
- Bề ngoài thì thực thà,
thế mà trong bụng lại biết suy tính lắm đấy. Mẹ hiền như bụt, chả để ý đến việc
gì, mà cô ta thì việc gì cũng biết, cái gì cũng phải nhắc. Cha ở nhà cũng như
đi vắng, bất cứ việc lớn việc nhỏ, cô ta đều biết hết, nếu mẹ quên thì sau đó
cô ta nhắc ngay.
Lý Hoàn nói:
- Còn nói gì nữa.
Rồi trỏ Bảo Ngọc nói:
- Chúng ta hãy xemà chú
Hai đây, nếu không có chị Tập Nhân thì sẽ ra sao? Dù thím Phượng có tài như Bá
Vương nước Sở(2) cũng cần phải có hai cánh tay để cất cái vạc nghìn cân. Không
có cô Bình, thì việc nhà thím ấy làm thế nào mà trông nom xuể được?
(2). Hạng Võ nước Sở, rất khỏe, một tay nhấc được vạc
nặng nghìn cân.
Bình Nhi nói:
- Lúc trước bên nhà đưa
sang bốn a hoàn, nhưng người chết, người thì đi, chỉ còn một mình tôi bồ côi bồ
cút ở lại đây thôi.
Lý Hoàn nói:
- Đó là phúc cho nhà cô,
nhưng cũng là phúc cho nhà thím Phượng. Trước kia cậu Cả nhà còn sống, thì có
thiếu gì người hầu? Các cô thử xem, tôi có phải là người hẹp lượng không biết dung
kẻ dưới đâu? Thế mà ngày nào họ cũng cứ tỏ ra không vừa ý. Vì thế, khi cậu ấy
mất rồi, nhân thấy họ còn trẻ tuổi, tôi đều cho về cả. Nếu được người nào biết
nghĩ thủy chung ở lại, thì bây giờ tôi cũng còn có kẻ đỡ chân đỡ tay.
Nói xong, mắt Lý Hoàn đỏ
ngầu lên.
Mọi người đều can:
- Còn kể ra làm gì cho
đau lòng! Thôi chúng ta đi về là hơn.
Nói xong, đều đi rửa
tay, rồi cùng nhau sang thăm Giả mẫu và Vương phu nhân. Bọn bà già và a hoàn
quét dọn nhà cửa, thu xếp bát đĩa. Tập Nhân và Bình Nhi cùng đi ra.
Tập Nhân mời Bình Nhi
vào nhà mình uống trà. Bình Nhi nói: “Không uống đâu, sau sẽ đến chơi”. Nói
xong muốn đi ngay. Tập Nhân liền gọi lại hỏi:
- Tại sao tiền lương
tháng này, ngay người trong nhà cụ và bà Hai vẫn chưa giả?
Bình Nhi quay lại gần
Tập Nhân, thấy không có ai, khẽ nói:
- Thôi, chị đừng hỏi
nữa, chậm lắm là hai hôm sẽ phát thôi. Tiền lương tháng này mợ tôi đã chi ra
rồi, nhưng lại đem cho người khác vay. Phải chờ đi thu lãi ở các nơi về đủ số
rồi mới phát. Chị đừng nên nói cho một ai biết nhé!
- Không lẽ mợ ấy còn
thiếu tiền tiêu. Sao nỡ đang tâm làm như vậy?
- Mấy năm nay mợ ấy chỉ
lấy món tiền ấy ra cho vay, mà đã thu được hàng nghìn bạc lãi rồi đấy.
- Mợ chị lấy tiền lương
của chúng tôi đem ra cho vay lấy lãi, làm chúng tôi phải ăn chực nằm chờ!
- Sao chị lại nói câu tệ
bạc thế? Chị mà còn thiếu tiền à?
- Tôi hiện giờ chưa cần,
nhưng muốn sắp sẵn cho một người.
- Chị có việc gì cần
tiêu, thì tôi có mấy lạng, hãy lấy mà tiêu, sau này trừ tiền lương cũng được.
- Bây giờ tôi chưa cần,
sau này tiêu gì, tôi sẽ cho người sang vay chị.
Bình Nhi nhận lời, chạy
về nhà không thấy Phượng Thư đâu, chợt thấy già Lưu và thằng Bản lần trước đến
xin tiền đã ngồi ở nhà bên kia rồi, lại có vợ Trương Tài và vợ Chu Thụy ngồi
tiếp; có mấy a hoàn đứng dưới đất đương dốc táo, dưa và rau ở túi ra. Mọi người
thấy Bình Nhi vào, đều đứng dậy cả. Già Lưu vì lần trước đến, đã biết Bình Nhi
là người thế nào rồi, nên vội bước xuống hỏi:
- Cô vẫn được mạnh luôn?
Cả nhà tôi đều gửi lời hỏi thăm cô. Từ lâu muốn đến thăm sức khỏe mợ nhà và cô,
nhưng vì bận mùa. Năm nay mới gặt được mấy hộc thóc, hoa quả, rau dưa đều tốt
cả. Nhưng thứ này là của mới, tôi không dám mang đi bán, chọn thứ ngon đem đến
biếu mợ và cô. Các cô ngày nào cũng ăn chán những đồ cao lương mỹ vị, giờ nếm
món rau nhà quê xem sao. Đó là tấm lòng thành của người nghèo chúng tôi.
Bình Nhi vội nói:
- Đa tạ lòng bà!
Rồi mời già Lưu ngồi.
Bình Nhi cũng ngồi xuống, lại mời thím Trương và thím Chu cùng ngồi, và sai a
hoàn nhỏ đi pha nước. Vợ Trương Tài và vợ Chu Thụy đều cười nói:
- Hôm nay trông cô có vẻ
hồng hào tươi tỉnh, khóe mắt cũng đỏ lên.
Bình Nhi cười nói:
- Phải đấy! Xưa nay tôi
không biết uống rượu, mợ Cả và các cô cứ kéo lại vật nài cho được, bất đắc dĩ
tôi phải uống hai chén, thành ra đỏ cả mặt.
Vợ Trương Tài cười nói:
- Tôi muốn uống quá, lại
chẳng có ai mời. Ngày mai có ai mời cô, cho tôi đi theo với.
Mọi người đều cười ầm
lên.
Vợ Chu Thụy nói:
- Sáng hôm nay tôi trông
thấy thứ cua to quá, chỉ hai con là đủ một cân. Thế mà những hai ba giỏ lớn, có
nhẽ đến bảy tám mươi cân.
Vợ Trương Tài nói:
- Từ trên chí dưới, ai
cũng ăn cả, thì chừng ấy chưa chắc đã đủ.
Bình Nhi nói:
- Ở đâu mà ai cũng ăn.
Chẳng qua chỉ nhưng người có tuổi mới được ăn vài con, còn thì có người vớ
được, có người không vớ được con nào.
Già Lưu nói:
- Giá cua năm nay mỗi
cân là năm phân, mười cân thì phải năm đồng, năm năm hai mươi lăm, ba năm mười
lăm, lại thêm rượu và đồ ăn khác nữa, cộng tất cả ít ra cũng phải hơn hai mươi
lạng bạc đấy.(3)
(3). Đây là lối nói của một bà già nhà quê, không biết
cách tính toán thế nào.
A di đà phật! Món tiền
này, người nhà quê chúng tôi có thể ăn được một năm!
Bình Nhi hỏi:
- Bà đã được gặp mợ ấy
chưa?
- Đã gặp rồi, mợ ấy bảo
tôi hãy chờ ở đây.
Nói xong, già Lưu ra
ngoài cửa trông trời, nói:
- Trời đã chiều rồi,
chúng tôi xin về đây. Nếu không ra được ngoài thành, lại khốn khó đấy!
Vợ Chu Thụy nói:
- Để tôi đi xem hộ bà.
Nói xong chạy đi, một
chốc mới về, cười nói:
- Phúc nhà bà đấy, sao
mà hai người lại hợp duyên với nhau thế.
Bọn Bình Nhi hỏi: “Thế
nào”. Vợ Chu Thụy cười nói:
- Mợ Hai đang hầu cụ,
tôi khẽ đến trình: “Già Lưu muốn về, vì sợ tối không ra được cửa thành”. Mợ Hai
bảo: “Khen cho bà ấy, đường xa thế mà mang được nhiều thứ đến biếu. Bây giờ
muộn rồi, bảo bà ấy ngủ lại một đêm, ngày mai sẽ về”. Thế không phải là hợp
duyên với mợ Hai à? Việc ấy đã đành, không ngờ cụ nghe thấy, liền hỏi già Lưu
là ai? Mợ Hai kể rõ gốc tích. Cụ bảo: “Ta muốn nói chuyện với những người già
cả, bảo bà ấy đến đây”. Thế không phải là duyên số trên trời, không hẹn mà gặp
sao?
Vợ Chu Thụy liền giục
già Lưu đi ngay.
Già Lưu nói:
- Người ngợm tôi thế
này, đến đó sao tiện? Thôi chị nói hộ là tôi đã về rồi!
Bình Nhi nói:
- Không việc gì đâu, bà
cứ đến, cụ tôi vốn mến người già, thương người nghèo, chứ không như những hạng
người điêu trá đâu. Bà sợ, tôi và dì Chu sẽ đưa bà đến.
Nói xong, liền cùng vợ
Chu Thụy đưa già Lưu sang bên nhà Giả mẫu.
Bọn đầy tớ bé ngồi gác
ngoài, thấy Bình Nhi đến, đều đứng dậy cả. Có hai đứa chạy theo Bình Nhi gọi:
“Cô ơi!”
Bình Nhi hỏi:
- Muốn nói việc gì.
- Bây giờ chiều rồi, mẹ
tôi ốm, tôi phải đi mời thầy thuốc, xin cô cho tôi nghỉ nửa ngày, có được
không?
- Chúng bay giỏi thật,
đã bàn soạn với nhau rồi hay sao? Cứ mỗi ngày là một đứa xin nghỉ, không xin
phép mợ, lại cứ quấy rầy tao. Hôm trước thằng Trụ xin đi, cậu Hai gọi nó không
thấy, tao phải nói đỡ, cậu ấy mắng tao che chở cho nó. Bây giờ mày cũng lại thế
à?
Vợ Chu Thụy nói:
- Mẹ nó ốm thật đấy, xin
cô nói đỡ, để cho nó về.
Bình Nhi nói:
- Ngày mai phải đến sớm
nhé, nghe chưa? Ta còn cần đến mày. Hay lại ngủ cho đến khi mặt trời dọi vào
đít rồi mới dẫn xác đến? Nhân tiện mày về bảo cho thằng Vượng biết là mợ truyền
số tiền lãi còn lại, ngày mai không mang trả, thì mợ không thèm lấy nữa đâu! Để
nó tiêu cả.
Thằng nhỏ mừng nhảy lên,
vâng dạ rồi đi.
Bình Nhi đến buồng Giả
mẫu, bấy giờ các chị em ở trong vườn Đại Quan đều đứng hầu cả đấy. Già Lưu đi
vào, thấy trong nhà người nào cũng đeo châu ngọc, mặc gấm vóc, lộng lẫy như
hoa, không phân biệt ai ra ai nữa. Chỉ thấy một vị lão bà ngồi tựa trên giường,
đằng sau có một a hoàn lộng lẫy như một mỹ nhân, mình đầy the lụa, đang ngồi
hầu bóp chân. Phượng Thư đang đứng bên cạnh cười cười nói nói. Già Lưu biết
ngay là Giả mẫu, vội lại gần lạy mấy lạy, rồi nói:
- Chúc lão thọ tinh mạnh
khỏe luôn.
Giả mẫu gật đầu hỏi thăm,
và sai vợ Chu Thụy lấy ghế cho ngồi. Thằng Bản rụt rè, không biết chào hỏi gì
cả.
Giả mẫu hỏi:
- Bà này, năm nay bà bao
nhiêu tuổi rồi?
Già Lưu vội đứng dậy
thưa:
- Tôi năm nay bảy mươi
lăm tuổi.
Giả mẫu ngoảnh vào nói
với mọi người:
- Nhiều tuổi hơn ta thế
mà trông người vẫn còn sắc sảo? Ta đến tuổi ấy không biết còn làm được gì
không?
Già Lưu cười nói:
- Kiế chúng tôi là kiếp
người chịu khổ, chịu sở; còn cụ sinh ra là để hưởng phúc. Chúng tôi mà cũng như
cụ, thì công việc đồng áng ai làm cho.
- Mắt và răng bà còn khá
không?
- Còn khá, nhưng năm nay
cái răng bên hàm trái đã thấy lung lay.
- Tôi già rồi, không làm
gì nữa; mắt mờ, tai điếc, tính lại hay quên. Ngay các bà là chỗ họ hàng, tôi
cũng không nhớ hết. Mỗi khi bà con đến chơi, nói ra sợ người ta cười, tôi cũng
chả biết ai vào ai, chẳng qua có cái gì ăn được thì ăn vài miếng, rồi ngủ một
giấc; lúc nào buồn thì chơi đùa với con, với cháu cho qua.
Già Lưu cười nói:
- Thế là cụ có phúc đấy.
Chúng tôi mong thế cũng chẳng được
- Phúc gì? chẳng qua là
hạng già bỏ đi đấy thôi!
Câu nói ấy làm cho mọi
người cười ầm lên.
Giả mẫu lại cười nói:
- Tôi vừa thấy cháu
Phượng nói, bà có mang cho nhiều thứ rau dưa, tôi đã bảo nó cất đi rồi. Tôi
đang muốn ăn rau dưa chính trong vườn nhổ ra, chứ mua ở ngoài thì không được
ngon.
Già Lưu nói:
- Đó là vật nhỏ mọn quê
mùa, chẳng qua ăn lấy thứ tươi thôi. Chúng tôi chỉ muốn ăn thịt cá, nhưng chẳng
có mà ăn.
Giả mẫu lại nói:
- Bây giờ đã nhận bà
con, thì không nên về không, đừng ngại gì cả, hãy ở lại chơi vài hôm. Ở đây
cũng có vườn, có hoa quả, ngày mai bà đến nếm thử xem, rồi mang về một ít, thế
mới là có đi có lại chứ.
Phượng Thư thấy Giả mẫu
vui vẻ, liền mời già Lưu ở lại, và nói:
- Nhà chúng tôi tuy
không rộng bằng vườn trại của bà, nhưng cũng có vài gian buồng để không, bà ở
lại vài hôm, kể chuyện mới chuyện cũ ở quê ta cho bà tôi nghe.
Giả mẫu cười nói:
- Cháu Phượng đừng mang
bà ấy ra làm trò cười. Bà ấy là người nhà quê thực thà, không quen lối đùa cợt
của nhà mày đâu!
Liền sai người lấy hoa
quả cho thằng Bản. Thằng Bản thấy đông người, sợ không dám ăn. Giả mẫu lại sai
người cho nó tiền, bảo bọn hầu bé đưa nó ra ngoài chơi. Già Lưu uống nước xong,
kể những chuyện tai nghe mắt thấy ở thôn quê cho Giả mẫu nghe. Giả mẫu càng lấy
làm thí
Đến chiều, Phượng Thư
sai người mời già Lưu đi ăn cơm. Giả mẫu lại chọn vài món ăn của mình, sai
người đưa cho già Lưu. Phượng Thư biết già Lưu hợp tính Giả mẫu, nên ăn cơm
xong lại bảo già đến ngay. Uyên Ương sai bà già đưa già Lưu đi tắm rửa, lấy hai
bộ quần áo của mình thường mặc đưa cho già thay. Già Lưu xưa nay có được thấy
thế này bao giờ, vội thay quần áo, đến ngồi trước giường Giả mẫu, rồi lại moi
chuyện ra nói. Bấy giờ chị em Bảo Ngọc đương ngồi cả đấy. Họ xưa nay chưa hề
được nghe, nên cảm thấy thay hơn cả người mù kể chuyện.
Già Lưu tuy là người nhà
quê, nhưng cũng am hiểu ít nhiều. Vả tuổi đã già, trò đời đã từng trải, lại
thấy Giả mẫu và đám chị em đều thích nghe, nên dù hết chuyện, cũng vẫn cứ bịa
ra để nói:
- Chúng tôi ở nhà quê,
cày cấy trồng trọt, hàng năm, hàng ngày, suốt cả bốn mùa, dầm mưa dãi nắng, có
lúc nào được ngồi rỗi đâu? Quanh năm lấy đầu bờ làm quán mát nghỉ ngơi, thì còn
thiếu gì chuyện kỳ quặc trên đời! Cũng như mùa đông năm ngoái, tuyết rơi ròng
rã mấy ngày, mặt đất ngập đến ba bốn thước. Hôm ấy tôi dậy sớm, chưa ra cửa, đã
nghe thấy bên ngoài có tiếng rút củi sột soạt. Tôi đoán có người ăn cắp củi,
nhìn qua cửa sổ, lại không phải là người trong trại.
Giả mẫu nói:
- Chắc là người qua
đường lạnh quá, thấy củi chất đấy, rút ra để đốt chứ gì?
- Không phải là người
qua đường, chuyện thế mới lạ chứ. Cụ thử đoán xem là ai? Nguyên là một cô gái
rất đẹp, độ mười bảy, mười tám tuổi, đầu chải bóng nhoáng, mặc áo đỏ và quần
hoa trắng...
Già Lưu vừa nói đến đấy,
bỗng bên ngoài có tiếng ồn ào lại có người nói:
- Không việc gì đâu,
đừng làm cụ sợ.
Giả mẫu nghe thấy liền
hỏi:
- Cái gì thế?
A hoàn nói:
- Chuồng ngựa phía nam
bị cháy, nhưng không việc gì, đã dập tắt được rồi.
Giả mẫu xưa nay vẫn hay
nhát, liền đứng dậy vịn vào người hầu đi ra ngoài hè xem, thấy góc đông nam hãy
còn ngọn lửa. Giả mẫu sợ quá, vừa niệm phật, vừa sai người đi thắp hương khấn
thần hỏa. Bọn Vương phu nhân vội lại an ủi: “Đã dập tắt được rồi, xin cụ cứ
vào”.
Giả mẫu chờ cho lửa tắt
hẳn rồi, mới dẫn mọi người vào.
Bảo Ngọc lại hỏi già Lưu
- Tại sao cô gái ấy lại
rút củi trong đám tuyết, lỡ bị lạnh sinh ốm thì sao?
Giả mẫu nói:
- Vừa rồi vì câu chuyện
rút củi, nên xảy ra việc cháy, mày lại còn hỏi làm gì? Thôi! Thôi! Đừng nhắc
đến nữa, hãy nói chuyện khác đi.
Bảo Ngọc nghe nói không
vui, nhưng cũng phải thôi.
Già Lưu nghĩ một lúc,
rồi nói:
- Cái trại ở bên đông
trại chúng tôi có một bà cụ già đã ngoài chín mươi tuổi. Ngày nào cũng ăn chay
niệm Phật. Không ngờ cảm động đến đức Phật Quan Âm, đêm về báo mộng rằng: “Số
ngươi đáng phải tuyệt tự, nhưng vì ngươi có lòng thành nên ta đã tâu với đức
Ngọc Hoàng cho ngươi đứa cháu giai”. Cụ già ấy chỉ có một người con, người con
ấy chỉ đẻ có một đứa cháu gái thôi. Ngờ đâu đứa cháu ấy đến năm mười bảy, mười
tám tuổi thì chết mất. Bà ấy khóc lóc không biết bao nhiêu mà kể. Về sau quả
nhiên lại đẻ được một đứa cháu nữa. Bây giờ nó đã mười ba, mười bốn tuổi, người
kháu khỉnh, thông minh, lanh lẹ. Như thế thì thần phật có nhẽ cũng có đấy nhỉ!
Câu chuyện ấy hợp ý Giả
mẫu và Vương phu nhân đều thích nghe cả. Bảo Ngọc lại chỉ thích chuyện rút củi
thôi, nên trong lòng nghĩ vơ nghĩ vẩn. Thám Xuân liền hỏi:
- Hôm nọ cô Sử đã mời
chúng ta, bây giờ chúng ta nên bàn nhau mở một cuộc thi thơ, để trả lại bữa
tiệc, và cũng mời cụ đến thưởng hoa cúc một thể, có nên không?
Bảo Ngọc cười nói:
- Cụ đã bảo phải làm bữa
tiệc để mời lại cô Sử và cho chúng ta đến tiếp. Chúng ta hãy ăn tiệc của cụ đã,
rồi sẽ mời sau cũng không muộn.
Thám Xuân nói:
- Càng ngày trời càng
rét thêm, chưa chắc cụ đã thích.
Bảo Ngọc nói:
- Cụ lại thích mưa,
thích tuyết. Chúng ta chờ lúc bắt đầu có tuyết, mời cụ thưởng tuyết chả hơn ư?
Khi đó chúng ta ngâm thơ dưới tuyết, lại càng thú lắm.
Đại Ngọc cười nói:
- Chúng ta ngâm thơ dưới
tuyết ư? Cứ ý tôi, chi bằng kiếm một bó củi rồi chúng ta rút củi dưới tuyết,
lại còn thú hơn.
Nghe nói câu ấy, bọn Bảo
Thoa đều cười. Bảo Ngọc lườm Đại Ngọc một cái, không nói gì. Một lúc họ về cả,
Bảo Ngọc dắt già Lưu ra chỗ vắng người, kỹ:
- Cô gái ấy là ai?
Già Lưu đành phải đặt
chuyện ra nói:
- Ở đồi phía bắc bên
trại tôi, có một ngôi miếu nhỏ, không phải là thờ thần phật nào cả. Khi trước
có một ông già nào ấy...
Già Lưu nói đến đấy, lại
nghĩ tên tuổi ông già.
Bảo Ngọc nói:
- Không cần phải nhớ tên
tuổi, chỉ kể chuyện là đủ.
Già Lưu nói:
- Ông già ấy không có
con trai, chi sinh được một cô gái, nghe đâu như tên là cô Dính Ngọc, văn hay
chữ tốt; hai vợ chồng ông già yêu quý như ngọc báu. Thật là đáng tiếc! Cô gái
ấy đến năm mười bảy tuổi thì bị bệnh chết.
Bảo Ngọc nghe đến đấy,
giậm chân thở dài, lại hỏi:
- Thế rồi sau này việc
ra làm sao?
- Vì hai vợ chồng ông
già quá thương con, mới làm một ngôi miếu đắp tượng rồi cho người đèn hương thờ
phụng. Bây giờ lâu ngày, người đã chết, miếu đã đổ, và tượng cũng đã hóa thành
yêu tinh rồi.
Bảo Ngọc liền nói:
- Không phải hóa thành
yêu tinh, những người như thế không bao giờ chết đâu.
- A di đà phật! Thật thế
à? Nếu cậu không nói, thì tôi cho là cô gái ấy đã hóa thành yêu tinh rồi. Cô ta
thường hiện ra người, vào các thôn các trại chơi. Tôi nói cái người rút củi,
chính là cô gái đấy. Người trong trại chúng tôi đang bàn nhau đập tượng, san
phẳng miếu đi.
- Không nên. San phẳng
miếu là tội to lắm đấy.
- Cậu nói tôi mới hay.
Ngày mai về, tôi sẽ ngăn họ đừng phá nữa.
- Bà tôi và mẹ tôi đều
là người từ thiện, tất cả lớn, bé trong nhà, ai cũng thích làm việc thiện, nhất
là việc xây đền đúc tượng. Ngày mai tôi sẽ làm một tờ phả khuyến, đi quyên hộ
bà. Bà sẽ làm bà từ, tu sửa lại miếu, đắp lại tượng. Hàng tháng, tôi cho bà một
món tiền đèn nhang, như thế có được không?
- Nếu được thế, tôi nhờ
phúc cô ấy, cũng có ít tiền tiêu.
Bảo Ngọc lại hỏi tên
đất, tên trại, đi lại xa gần, ở vào địa phận nào. Già Lưu thuận miệng nói bừa
ra. Bảo Ngọc tin là thực, về buồng suy nghĩ suốt đêm. Sáng hôm sau, Bảo Ngọc
cho Dính Yên mấy trăm đồng tiền, theo lời già Lưu kể, bảo nó đi xem trước thế
nào rồi sẽ về trình.
Dính Yên đi rồi, Bảo
Ngọc băn khoăn chờ mãi không thấy về, nóng ruột quá, đi quanh đi quẩn, cứ như
kiến bò trên miệng nồi nóng, mãi đến lúc mặt trời xế bóng, mới thấy Dính Yên
hớn hở trở về. Bảo Ngọc liền hỏi:
- Có tìm thấy không?
- Cậu nghe không rõ, để
cháu phải đi tìm mãi! Cái miếu ở chỗ nào ấy, chứ không phải như lời cậu đã dặn.
Cháu tìm hết cả ngày, khi đến cái đồi ở góc đông bắc, mới thấy có một ngôi miếu
đổ.
Bảo Ngọc nghe nói mừng
rỡ, liền nói:
- Có nhẽ già Lưu đã
nhiều tuổi, nên nhớ nhầm đấy. Mày thấy thế nào?
- Cửa miếu này cũng
hướng về phía nam, cũng đổ nát cả ròi, cháu tìm hết hơi mới thấy, cháu reo lên:
“Đúng rồi”, vội vàng đi vào, trông thấy pho tượng, cháu sợ quá, chạy ra ngay.
Pho tượng ấy trông hệt như người sống vậy!
Bảo Ngọc mừng quá, cười
nói:
- Tượng ấy hóa thành
người, tất nhiên là có ít nhiều sinh khí!
Dính Yên vỗ tay nói:
- Có phải cô gái đâu! Là
một vị ôn thần mặt xanh tóc đỏ!
Bảo Ngọc nghe nói, quát
lên một tiếng:
- Đồ ăn hại! Có việc ấy
mà cũng không làm nổi!
Dính Yên bực lên, nói:
- Không biết cậu xem
sách nào, hay là nghe ai nói bậy, rồi tin là thực, sai cháu đi làm cái việc
không đâu, rồi bảo cháu là đồ ăn hại?
Bảo Ngọc liền vỗ về:
- Đừng nóng thế, hôm
khác rỗi, mày lại đi tìm một lượt nữa. Nếu tìm không thấy, tất nhiên là họ nói
dối ta; nếu có thực thì chả phải mày làm được một việc âm đức hay sao? Thế nào
ta cũng sẽ trọng thưởng cho.
Chợt đứa hầu bé canh cửa
ngoài vào trình:
- Các cô bên nhà cụ đang
chờ cậu ở ngoài cửa đấy. Chưa biết là việc gì.