Nhật ký - Chương 12 phần 1

Mùa đông cho hai người

Câu chuyện kết thúc
ở đó, vậy là tôi gập cuốn sổ lại, bỏ kính ra, lau mắt. Mắt tôi đã mỏi và đỏ
ngầu, dù cho đến giờ nó vẫn chưa làm tôi thất vọng. Nhưng chắc sẽ sớm thôi. Cả
nó và tôi đều đâu thể sống mãi. Bây giờ tôi đang nhìn bà ấy, nhưng bà ấy không
nhìn lại tôi. Bà ấy lại đang chăm chăm nhìn qua cửa sổ ra sân, nơi bạn bè và
gia đình của mọi người gặp gỡ.

Mắt tôi dõi theo mắt
bà ấy, chúng tôi cùng nhau ngắm nhìn. Suốt ngần ấy năm, những việc hàng ngày
vẫn không thay đổi. Sáng nào cũng vậy, cứ sau bữa sáng khoảng một giờ là họ bắt
đầu đổ đến. Những người trẻ tuổi, đi một mình hay đi cùng gia đình, đến thăm
những người sống ở đây. Họ đem ảnh, quà bánh đến rồi ngồi trên mấy chiếc ghế
dài hoặc đi dạo dọc những con đường nhỏ dưới tán cây được thiết kế để tạo cảm
giác có thiên nhiên. Một số sẽ ở lại cả ngày, nhưng phần lớn sẽ rời đi sau vài
tiếng và khi họ đi, tôi luôn cảm thấy buồn cho những người họ để ở lại. Đôi khi
tôi tự hỏi bạn bè của tôi nghĩ gì khi họ nhìn thấy những người yêu thương của
mình lái xe đi mất, nhưng tôi biết đấy không phải là việc của mình. Và tôi
không bao giờ hỏi họ vì tôi đã học được rằng tất cả chúng ta đề có quyền có
những bí mật riêng.

Nhưng tôi sẽ sớm kể
cho bạn nghe một số bí mật của tôi.

Tôi đặt cuốn sổ và
chiếc kính lúp lên bàn bên cạnh, cảm thấy cái đau từ trong xương khi làm động
tác ấy, và một lần nữa tôi lại nhận ra cơ thể mình lạnh thế nào. Thậm chí việc
đọc sách dưới ánh mặt trời buổi sáng cũng không giúp gì được. Nhưng điều này
không làm tôi ngạc nhiên thêm chút nào, vì dạo này cơ thể tôi có những luật lệ
riêng của nó.

Tuy nhiên tôi cũng
không hoàn toàn không may. Những người làm việc ở đây biết tôi, biết sự yếu ớt
của tôi và họ làm hết sức để tôi được thoải mái hơn. Họ để lại cho tôi trà nóng
ở chiếc bàn cuối cùng, tôi với cả hai tay ra lấy. Rót ra một tách trà cũng là
cả một nỗ lực, nhưng tôi rót vì tôi cần trà để làm mình ấm lên và tôi nghĩ sự
ráng sức đó cũng sẽ giữ cho tôi khỏi bị hoàn toàn hoen gỉ. Nhưng bây giờ tôi đã
hoen gỉ rồi, không còn nghi ngờ gì nữa. Hoen gỉ như một chiếc xe cũ nát nằm
dưới đầm lầy Everglades hai mươi năm.

Sáng nay tôi đã đọc
cho bà ấy nghe, như mọi buổi sáng, vì đó là một việc tôi cần phải làm. Không
phải vì nghĩa vụ - mặc dù tôi biết ta có thể tạo ra một lý do như vậy cho việc
này – mà vì một nguyên nhân khác, lãng mạn hơn. Tôi ước gì mình có thể giải
thích đầy đủ ngay bây giờ, nhưng vẫn còn sớm, và trước bữa trưa mà nói về sự
lãng mạn thì thật không khả thi lắm, ít nhất là không khả thi với tôi. Ngoài
ra, tôi không biết mọi chuyện sẽ thành thế nào, và nói thật là tôi cũng không
muốn mình hi vọng quá nhiều.

Bây giờ ngày nào
chúng tôi cũng ở bên nhau, nhưng đêm thì không. Các bác sĩ bảo tôi không được
phép gặp bà ấy sau hoàng hôn. Tôi hiểu những lý do, nhưng mặc dù đồng tình với
họ, đôi khi tôi vẫn vi phạm quy định. Vào đêm muộn, khi có tâm trạng thích hợp,
tôi sẽ lén ra khỏi phòng và đến phòng bà ấy, ngắm bà ấy ngủ. Bà ấy chẳng biết
gì về việc này. Tôi sẽ đi vào, ngắm nhìn bà ấy thở và hiểu rằng nếu không phải là
bà ấy, tôi sẽ không bao giờ kết hôn. Và khi nhìn gương mặt bà ấy, một gương mặt
mà tôi biết rõ hơn gương mặt mình, tôi biết rằng với bà ấy tôi cũng có ý nghĩa
nhiều như thế hoặc hơn thế. Và điều đó có ý nghĩa với tôi vô cùng, tôi chẳng
mong giải thích được.

Thỉnh thoảng, khi
đứng ở đó, tôi nghĩ về việc mình may mắn biết bao khi đã cưới bà ấy gần bốn
mươi chín năm trời. Tháng sau sẽ là tròn bốn mươi chín năm. Bà ấy đã nghe tôi
ngáy suốt bốn mươi nhăm năm đầu, nhưng kể từ sau đó chúng tôi ngủ khác phòng. Tôi
không thể ngủ ngon khi không có bà ấy. Tôi trằn trọc và thèm có được hơi ấm của
bà ấy nên cứ nằm đó gần như cả đêm, mắt thao láo nhìn những bóng mờ nhảy múa
trên trần nhà như đám cỏ lăn lăn trên sa mạc. Nếu may mắn thì tôi sẽ ngủ được
hai tiếng, nhưng dù thế nào tôi cũng sẽ dậy trước bình minh. Chẳng hiểu sao lại
thế.

Rồi nhưng việc này
sẽ qua hết sớm thôi. Tôi biết thế. Bà ấy thì không. Những mục trong nhật ký của
tôi đã ngắn hơn và mất ít thời gian viết hơn. Bây giờ tôi chỉ viết đơn giản, vì
hầu như các ngày của tôi đều giống nhau. Nhưng tối nay tôi nghĩ tôi sẽ chép lại
một bài thơ mà một y tá đã tìm cho tôi và nghĩ tôi sẽ thích. Nó như thế này:

Trước giờ khắc ấy
tôi chưa từng gục ngã

Trước mối tình
đột ngột và ngọt ngào

Như đóa hoa, em
rạng rỡ biết bao

Và tim tôi, em
hoàn toàn đánh cắp

Vì chúng tôi được tự
do vào các buổi tối, tôi thường được mời đến thăm những người khác. Thường thì
tôi đi, vì tôi là người hay đọc sách và mọi người cần tôi, hoặc người ta bảo
tôi thế. Tôi đi dọc hành lang và chỉ chọn nơi nào muốn đến vì dù tôi đã quá già
không thể theo một lịch trình, nhưng sâu thẳm bên trong tôi luôn biết ai cần
mình. Họ là bạn bè của tôi, khi đẩy cánh cửa phòng họ, tôi luôn nhìn thấy những
căn phòng trông giống phòng tôi, tranh tối tranh sáng, chỉ được chiếu sáng nhờ
chương trình Wheel of Fortune và răng của Vanna[2]. Đồ
đạc trong phòng ai cũng giống nhau, và chiếc ti vi hét om sòm vì chẳng ai còn
có thể nghe rõ nữa.

[2] Wheel of Fortune là phiên bản
gốc ở Mỹ của chương trình Chiếc
nón kỳ diệu vẫn phát sóng trên truyền hình Việt Nam. Vanna
White (sinh năm 1957) từng là người lật các ô chữ, nổi tiếng với hàm răng trắng
bóng.

Dù là đàn ông hay đàn
bà, khi tôi vào họ đều mỉm cười, tắt ti vi và khẽ nói, “Tôi mừng vì ông có thể
đến đây,” họ nói, rồi họ hỏi thăm vợ tôi. Thỉnh thoảng tôi cũng kể cho họ. Tôi
có thể kể cho họ nghe về sự ngọt ngào và duyên dáng của bà ấy, tả cho họ thấy
bà đã dạy tôi cách nhìn thế giới để thấy nó đẹp đến thế nào. Hoặc tôi sẽ kể cho
họ về những năm đầu chúng tôi sống cùng nhau, về cảm giác có được mọi điều mình
muốn khi ôm nhau dưới bầu trời miền Nam đầy sao. Vào những dịp đặc biệt
tôi sẽ thì thầm về những cuộc phiêu lưu của chúng tôi, hay về những buổi triển
lãm nghệ thuật ở New York và Paris hay những bài phê bình nồng nhiệt được
viết bằng những thứ ngôn ngữ tôi không hiểu. Tuy nhiên hầu như tôi chỉ mỉm cười
bảo họ rằng bà ấy vẫn thế, và họ quay đi, vì tôi biết họ không muốn tôi nhìn
thấy mặt họ. Nó nhắc họ nhớ tới cái chết của chính mình. Vì thế tôi ngồi lại
đọc cho họ nghe để làm giảm nhẹ nỗi sợ ấy.

Hãy điềm tĩnh –
hãy thư giãn cùng tôi

Tôi sẽ đón nhận
em dẫu ánh trời từ chối

Dẫu cây lá không
vì em xào xạc

Và mặt trời chẳng
lấp lánh vì em

Thì hỡi em vẫn
còn lời thơ tôi

Mãi vì em mà xạc
xào lấp lánh.

Và tôi đọc, để họ
biết tôi là ai.

Tôi lang thang
suốt đêm trong ảo ảnh,

Cúi mình xuống
với đôi mắt mở to

bên trên đôi mắt
nhắm

của những người
đang ngủ,

Lang thang và bối
rối

Lạc lối trước
chính mình

lẫn lộn, mâu
thuẫn,

Tạm ngừng, nhìn
chăm chú,

cúi xuống, và
dừng lại.

Nếu có thể, vợ tôi
sẽ đi cùng tôi đến những buổi trình diễn buổi tối đó, vì một trong những tình
yêu của bà ấy là thơ ca. Thomas, Whitman, Eliot, Shakespeare, và vua David của
những bản tụng ca. Những người say mê từ ngữ, những người tạo nên ngôn ngữ. Khi
nhìn lại, tôi ngạc nhiên vì niềm đam mê của mình dành cho nó, và bây giờ đôi
khi tôi thậm chí còn hối tiếc. Thơ ca đem lại vẻ đẹp tuyệt vời cho cuộc sống,
nhưng cũng đem lại cả nỗi buồn to lớn, và tôi không chắc đó có phải là một sự
trao đổi công bằng cho một người ở tuổi tôi không. Một người đàn ông nên thưởng
thức những thứ khác nếu có thể: ông ta cần dành những ngày cuối đời mình dưới
mặt trời. Còn những ngày cuối đời tôi lại ở bên một chiếc đèn đọc sách.

Tôi lê bước về phía
bà ấy rồi ngồi trên chiếc ghế bên giường. Lưng tôi đau nhức khi phải ngồi. Thay
nệm mới cho cái ghế này thôi, tôi tự nhắc nhở mình có lẽ phải đến lần thứ một
trăm. Tôi với tay nắm lấy tay bà ấy, bàn tay xương xẩu và mong manh. Cảm giác
thật dễ chịu. Bà ấy đáp lại bằng cách khẽ giật giật và dần dần ngón tay cái của
bà ấy bắt đầu nhẹ nhàng cọ vào ngón tay tôi. Tôi không nói gì cho đến khi bà ấy
lên tiếng; tôi đã học được điều này. Phần lớn các ngày tôi chỉ ngồi yên lặng
cho đến khi mặt trời lặn, và vào những ngày như thế tôi không biết gì về bà ấy.

Nhiều phút trôi qua
trước khi cuối cùng bà ấy cũng quay sang tôi. Bà ấy đang khóc. Tôi mỉm cười,
buông tay bà ấy ra, rồi cho tay mình vào túi. Tôi lấy ra một chiếc khăn tay lau
nước mắt cho bà ấy. Bà ấy nhìn tôi khi tôi làm việc đó, và tôi tự hỏi bà đang
nghĩ gì.

“Đó là một câu
chuyện đẹp.”

Một cơn mưa nhỏ bắt
đầu rơi xuống. Những giọt mưa đập nhè nhẹ vào cửa sổ. Tôi lại cầm tay bà. Đó sẽ
là một ngày tốt đẹp, một ngày rất tốt đẹp. Một ngày kỳ diệu. Tôi mỉm cười,
không thể đừng được.

“Đúng thế,” tôi bảo
bà ấy.

“Ông viết nó ư?” bà
ấy hỏi. Giọng bà như một tiếng thì thầm, một cơn gió thoảng qua những chiếc lá.

“Ừ,” tôi trả lời.

Bà quay về phía
chiếc bàn đầu giường. Thuốc của bà ở trong một chiếc cốc nhỏ. Thuốc của tôi
cũng thế. Những viên thuốc nhỏ, màu sắc như cầu vồng để chúng tôi khỏi quên
uống. Bây giờ họ đã đem thuốc của tôi đến đây, đến phòng bà ấy, mặc dù họ không
nhất thiết phải làm thế.

“Trước đây tôi nghe
chuyện này rồi nhỉ?”

“Ừ,” tôi lại nói,
cũng như lần nào tôi cũng nói như thế vào những ngày như thế này. Tôi đã học
cách kiên nhẫn.

Bà ấy nhìn kỹ mặt
tôi. Đôi mắt bà ấy xanh như những làn sóng đại dương.

“Nó khiến tôi cảm
thấy bớt sợ hơn,” bà ấy nói.

“Tôi biết,” tôi gật
đầu, lắc lư đầu mình nhẹ nhẹ.

Bà ấy quay đi, và
tôi lại chờ thêm chút nữa. Bà buông tay tôi ra và với lấy cốc nước. Nó ở trên
bàn đầu giường, bên cạnh chỗ thuốc. Bà nhấp một ngụm.

“Đó có phải là một
câu chuyện có thật không?” Bà ấy hơi nhấc người lên và nhấp một ngụm nữa. Cơ
thể bà vẫn khỏe mạnh. “Ý tôi là ông có biết những người ấy không?”

“Có,” tôi lại nói.
Tôi có thể nói nhiều hơn, nhưng thường thì tôi không nói. Bà ấy vẫn thật xinh
đẹp. Bà hỏi:

“À, cuối cùng thì cô
ấy lấy ai?”

Tôi trả lời: “Người
phù hợp với cô ấy.”

“Đó là người nào?”

Tôi mỉm cười. “Rồi
bà sẽ biết,” tôi khẽ nói, “đến cuối ngày. Rồi bà sẽ biết.”

Bà ấy không biết
phải nghĩ gì về điều này. Nhưng bà không hỏi tôi nữa. Bà bắt đầu cựa mình. Bà
đang nghĩ cách hỏi tôi một câu hỏi khác, dù chưa biết cụ thể sẽ hỏi thế nào. Bà
trì hoãn một lúc và với tay ra lấy một trong hai chiếc cốc giấy.

“Cái này của tôi à?”

“Không, cái này cơ.”
Và tôi với tay ra đẩy cốc thuốc của bà về phía bà. Ngón tay tôi không thể cầm
chắc được nó. Bà ấy đón lấy và nhìn. Qua cái cách bà ấy nhìn chỗ thuốc, tôi có
thể thấy bà chẳng biết chúng để làm gì. Tôi dùng cả hai tay mới nhấc nổi cốc
thuốc của mình lên đổ vào miệng. Bà ấy cũng làm y hệt. Hôm nay bà không cưỡng
lại chút nào. Như thế khiến cho việc này thật dễ dàng. Tôi nâng tách trà của
mình lên làm động tác cụng ly rồi nhấp trà làm sạch vị sàn sàn trong miệng
mình. Trời đang ngày càng lạnh. Bà nuốt chỗ thuốc với sự tin tưởng và chiêu
thêm một ngụm nước nữa.

Một chú chim cất
tiếng hót ngoài cửa sổ, và cả hai chúng tôi cùng quay đầu lại. Chúng tôi cùng
yên lặng một lúc, thưởng thức một điều gì đó đẹp đẽ cùng nhau. Thế rồi nó biến
đi, và bà thở dài.

“Tôi phải hỏi ông
một điều nữa,” bà nói.

“Bất kể điều gì, tôi
sẽ cố gắng trả lời.”

“Nhưng mà hơi khó.”

Bà ấy không nhìn
tôi, nên tôi không thể nhìn thấy mắt bà ấy. Đây là cách bà che giấu những suy
nghĩ của mình. Có những thứ chẳng bao giờ thay đổi.

“Cứ từ từ,” tôi nói.
Tôi biết bà sẽ hỏi gì.

Cuối cùng bà quay
sang nhìn vào mắt tôi. Bà mỉm cười với tôi thật dịu dàng, kiểu nụ cười mà bạn
dành cho một đứa trẻ, chứ ko phải với một người yêu.

“Tôi không muốn làm
tổn thương tình cảm của ông vì ông đã thật tốt với tôi, nhưng…”

Tôi chờ đợi. Lời bà
sắp nói sẽ làm tôi đau đớn. Nó sẽ xé một phần trái tim tôi và để lại một vết
sẹo.

“Ông là ai?”

Đến giờ chúng tôi đã
sống ở Trung tâm Điều trị Mở rộng Creekside được ba năm. Chính bà ấy đã quyết
định sống ở đây, một phần vì nó gần nhà chúng tôi, nhưng cũng vì bà nghĩ sẽ dễ
dàng hơn cho tôi. Vì cả hai đều không chịu nổi nếu phải bán nhà, chúng tôi bịt
kín nó lại bằng ván, ký một vài loại giấy tờ, và thế là chúng tôi nhận được một
nơi để sống và chết, chỉ mất chút tự do mà vì nó chúng tôi đã lao động suốt
đời.

Dĩ nhiên bà ấy đã
đúng khi làm vậy. Tôi chẳng thể xoay xở một mình, vì bệnh tật đã đến, cả hai
chúng tôi đều ốm đau. Chúng tôi đang sống những phút cuối cùng trong đời, đồng
hồ đang kêu tích tắc. Rất to. Tôi tự hỏi không hiểu có phải chỉ mình tôi nghe
thấy âm thanh ấy.

Một cơn đau nhói
giần giật chạy qua những ngón tay của tôi, nhắc tôi nhớ rằng từ khi chuyển đến
đây chúng tôi chưa từng đan ngón tay vào nhau thế này. Tôi buồn vì điều này,
nhưng đó là lỗi của tôi, không phải của bà ấy. Đó là bệnh khớp ở thể nặng nhất:
thấp khớp và biến chứng. Hai bàn tay tôi giờ đã biến dạng, trông kỳ quặc, cứ
đau nhói suốt những giờ tôi thức. Tôi nhìn chúng và muốn chúng bién đi, cắt
quách đi, nhưng như thế tôi sẽ không thể nào làm được những việc nhỏ mà tôi
phải làm. Vậy là tôi sử dụng bộ móng vuốt của mình, thỉnh thoảng tôi gọi chúng
như vậy, và ngày nào cũng nắm tay bà ấy bất chấp cái đau, và tôi cố hết sức để
giữ chặt đôi tay ấy vì đó chính là điều bà ấy muốn tôi làm.

Dù Kinh Thánh có nói
con người có thể sống đến 120 tuổi, tôi cũng chẳng muốn thế, mà kể cả tôi có
muốn thì có lẽ cơ thể tôi cũng chẳng thể sống đến tuổi đó. Nó đang rời ra từng
mảnh, chết mỗi lúc một mảnh, dần dần mục ruỗng từ bên trong và ở các khớp. Tay
tôi thật vô dụng, những quả cật của tôi đang bắt đầu hư hỏng, nhịp tim của tôi
đang giảm dần mỗi tháng. Tệ hơn nữa, tôi lại bị ung thư, lần này là ở tiền liệt
tuyến. Đây là cuộc chiến đấu thứ ba của tôi với kẻ thù không nhìn thấy ấy, và
nó sẽ dần dần chiếm được tôi, mặc dù nó sẽ không làm thế được cho đến khi tôi
nói đã đến lúc. Các bác sĩ lo ngại cho tôi, nhưng tôi thì không. Tôi chẳng có
thời gian đâu mà lo lắng trong buổi hoàng hôn của cuộc đời này.

Trong số năm đứa con
của chúng tôi, bốn vẫn đang còn sống, và mặc dù rất nặng lòng khi đến thăm,
chúng vẫn đến thường xuyên, điều này khiến tôi cảm thấy thật biết ơn. Nhưng kể
cả nếu chúng không ở đây, ngày nào chúng cũng đến thật sống động trong tâm trí
tôi, từng đứa một, chúng đem đến cho tâm trí những nụ cười và những giọt nước
mắt đi song hành với việc nuôi một gia đình. Một tá ảnh viền quanh trên tôi
phòng tôi. Đó là di sản của tôi, sự cống hiến của tôi với thế giới. Tôi rất tự
hào. Thỉnh thoảng tôi tự hỏi vợ tôi nghĩ gì về chúng khi bà mơ mộng, hay liệu
bà có nghĩ gì về chúng không, hay liệu bà thậm chí có mơ mộng không. Có quá
nhiều điều về bà ấy mà tôi không còn hiểu được nữa.

Tôi tự hỏi cha tôi
sẽ nghĩ gì về cuộc đời tôi và ông sẽ làm gì nếu ông là tôi. Tôi không gặp ông
đã năm mươi năm, bây giờ trong những suy nghĩ của tôi ông chỉ còn là một cái
bóng. Tôi không thể hình dung ra hình ảnh ông rõ ràng nữa; gương mặt ông bị sấp
bóng như thể có một cây đèn chiếu từ phía sau ông vậy. Tôi không chắc liệu việc
này là do tôi không nhớ hay đơn giản chỉ là vì thời gian trôi qua. Tôi chỉ có
một bức ảnh của tôi, và ngay cả nó cũng đã mờ nhạt. Mười năm nữa nó sẽ không
còn và tôi cũng thế, ký ức về ông sẽ bị xóa đi như thông điệp trên cát. Nếu
không có nhật ký của tôi, tôi sẽ thề là tôi mới sống được nửa quãng thời gian
mình đã sống thôi. Nhiều khoảng thời gian dài trong đời tôi có vẻ như đã tan
biến. Và kể cả bây giờ đọc nhiều đoạn văn, tôi vẫn tự hỏi mình là ai khi viết
ra chúng, vì tôi không thể nhớ nổi những sự kiện của cuộc đời tôi nữa. Có những
lúc tôi ngồi và tự hỏi tất cả những thứ ấy đi đâu hết cả rồi.

“Tên tôi,” tôi nói,
“là Duke.” Tôi lúc nào cũng là một người hâm mộ John Wayne.

“Duke,” bà thì thầm
với chính mình, “Duke.” Bà nghĩ một chút, trán nhăn lại, đôi mắt nghiêm trang.

“Đúng,” tôi nói.
“Tôi ở đây là vì bà.” Và sẽ luôn như thế, tôi tự nghĩ với mình.

Bà đỏ mặt lên với
câu trả lời của tôi. Đôi mắt bà trở nên ướt và đỏ, rồi nước mắt bắt đầu rơi.
Trái tim tôi đau nhói vì bà, và có lẽ dễ đến lần thứ một nghìn tôi ước gì mình
có thể làm điều gì đó. Bà nói:

“Tôi xin lỗi. Tôi
không hiểu bây giờ điều gì đang xảy ra với tôi nữa. Kể cả ông. Khi tôi lắng
nghe ông nói, tôi cảm thấy như tôi lẽ ra phải biết ông, nhưng tôi lại không
biết. Tôi còn không biết tên tôi là gì nữa.”

Bà ấy lau nước mắt
và nói, “Hãy giúp tôi, Duke, giúp tôi nhớ ra tôi là ai. Hay ít nhất, tôi đã là
ai. Tôi cảm thấy lạc lối quá.”

Tôi trả lời một câu
từ tận đáy lòng, nhưng tôi nói dối bà về tên bà. Như tôi đã nói dối về tên tôi.
Có lý do cho việc này.

“Bà tên là Hannah,
một người yêu cuộc sống, một nguồn sức mạnh cho những ai có được bà làm bạn. Bà
là một giấc mơ, một người kiến tạo hạnh phúc, một nghệ sĩ từng làm rung cảm
hàng nghìn tâm hồn. Bà đã sống một cuộc đời viên mãn, bà đã có mọi điều mình
muốn vì mọi nhu cầu của bà đều là về tinh thần, và bà chỉ phải nhìn vào trong
chính mình là đủ. Bà tốt bụng và trung thành, bà có khả năng nhìn thấy vẻ đẹp ở
nơi những người khác không thấy được. Bà là người thầy luôn có những bài học
đẹp đẽ, một người luôn mơ mộng về những điều tốt đẹp hơn.”

Tôi ngừng lời một
chút để lấy lại hơi. Rồi tôi tiếp tục:

“Hannah, chẳng có lý
do gì để cảm thấy lạc lối cả, vì:

Chẳng có gì từng
thật sự mất đi,

cũng chẳng gì bị
ai làm mất:

sinh ra, bản sắc,
dạng hình – bất cứ gì thuộc về thế giới,

cuộc sống, sức
mạnh – bất cứ gì nhìn thấy hữu hình;…

Cơ thể, lờ đờ,
già nua, lạnh giá – đám tro tàn sau ngọn lửa thanh xuân,

… vẫn sẽ lại cháy
lên đúng lúc.”

Bà nghĩ về điều tôi
nói một lúc. Trong lặng im, tôi nhìn về phía cửa sổ và nhận ra giờ mưa đã tạnh.
Ánh sáng mặt trời đang bắt đầu rọi vào phòng bà. Bà hỏi:

“Ông viết bài thơ đó
à?”

“Không, đó là thơ
của Walt Withman.”

“Ai cơ?”

“Người yêu từ ngữ,
người tựu hình ý tưởng.”

Bà không đáp lại
ngay. Bà nhìn chăm chăm tôi một lúc, cho đến khi hơi thở chúng tôi nhịp cùng
nhau. Vào. Ra. Vào. Ra. Vào. Ra. Những hơi thở sâu. Tôi tự hỏi không hiểu bà có
biết tôi nghĩ bà thật đẹp không.

“Ông sẽ ở lại với
tôi một lúc chứ?” cuối cùng bà cũng yêu cầu.

Tôi mỉm cười gật
đầu. Bà mỉm cười đáp lại. Bà với tay ra nắm lấy tay tôi thật nhẹ nhàng và kéo
nó lên hông bà. Bà nhìn chăm chăm những khớp đốt cứng đờ làm biến dạng các ngón
tay tôi và nhẹ nhàng vuốt ve chúng. Tay bà vẫn là tay của một thiên thần.

“Nào,” tôi nói khi
đứng lên với một nỗ lực ghê gớm, “mình cùng đi dạo nào. Không khí khô và lạnh,
lũ ngỗng đang chờ. Hôm nay trời đẹp.” Tôi nhìn bà chăm chú khi nói những câu
cuối này.

Bà đỏ mặt lên. Điều
này khiến tôi lại thấy mình trẻ lại.

Dĩ nhiên bà rất nổi
tiếng. Một trong những họa sĩ miền Nam giỏi nhất của thế kỷ 20, có người nói
thế, còn tôi đã và vẫn tự hào về bà. Không như tôi, phải vật vã để viết dù là
những vần thơ đơn giản nhất, vợ tôi có thể tạo ra cái đẹp dễ dàng như Chúa Trời
đã tạo ra trái đất. Những bức vẽ của bà ấy có trong các bảo tàng trên khắp thế
giới, nhưng tôi đã giữ lại hai bức cho mình. Bức đầu tiên bà đưa cho tôi và bức
cuối cùng. Chúng được treo trong phòng tôi, tối muộn hôm đó tôi ngồi xuống và
nhìn chăm chú, đôi khi khóc khi nhìn chúng. Tôi chẳng biết tại sao.

Vậy là bao nhiêu năm
đã trôi qua. Chúng tôi đã sống đời mình, làm việc, vẽ, nuôi con, yêu nhau. Tôi
đã được thấy những tấm ảnh Giáng sinh, những chuyến đi của cả gia đình, những
ngày lễ tốt nghiệp và những lễ cưới. Tôi được thấy các cháu và những gương mặt
hạnh phúc. Tôi được thấy những tấm ảnh chúng tôi, tóc dần bạc đi, những đường
nhăn trên mặt sâu hơn. Một cuộc đời có vẻ thật điển hình, ấy thế nhưng lại hiếm
thấy.

Báo cáo nội dung xấu