Những cú siêu lừa của Arséne Lupin - Chương 9 phần 1

CHƯƠNG
IX - QUÂN BÀI SẮT "BẢY CƠ" (HẾT)

Thật
ngạc nhiên khi tôi đã quen biết với Arséne Lupin, một tuýp người mà từ trước đến
nay tôi không bao giờ muốn giao du. Nhưng tôi thực sự đã quen Lupin, kể ra thì
cũng chỉ là một sự tình cờ mà tôi gặp phải rồi bước vào thế giới bí ẩn của ông
ý, và đóng một vai trong chuỗi những vở kịch ly kỳ do ông ta đạo diễn. Vở kịch
này vô cùng phức tạp, tôi sẽ kể từ đầu cho mọi người nghe.

Đó
là vào đêm 22 tháng 6, tôi cùng vài người bạn tụ tập ăn tối ở khách sạn
"Thác nước" tới khuya mới ra về cùng người bạn tên là Das. Anh này rất
yêu đời, ai ai cũng yêu quý. Nhưng không ngờ, nửa năm sau anh mất trong một tai
nạn. Lúc ấy tôi vừa chuyển tới phố Nenilly ở ngoại ô Pari. Tới căn nhà nhỏ của
tôi, anh ấy hỏi:

-
Anh đã thấy sợ chưa?

-
Anh hỏi gì lạ vậy?

- Ở
đây cô quạnh quá, chả có hàng xóm ma nào... Xung quanh chỉ toàn là cánh đồng
hoang... Nói thật chứ, tôi chẳng phải là đồ nhát gan, nhưng tôi...

-
Ôi, chắc là anh say khướt rồi!

- Ồ,
tôi say thế nào được. Trong đầu tôi vẫn còn nguyên câu chuyện về tên cướp mà vừa
nãy mọi người kể cho nghe đây.

Hai
chúng tôi chia tay nhau. Tôi lấy chìa khóa ra mở cửa. Ôi, Antoine quên mua nến
rồi!- Tôi tự lẩm bẩm. Nhưng đột nhiên tôi nhớ ra: Antoine đã xin nghỉ và về rồi,
tối nay không ở đây. Tự nhiên, ngôi nhà tối tăm im ắng thật lạ. Tôi hốt hoảng lần
lên tầng hai, sau khi vào phòng ngủ thì liền khóa cửa lại, cài then sắt sau đó
mới thắp nến.

Ngọn
nến khiến tôi trấn tĩnh lại, nhưng để cho chắc chắn tôi vẫn phòng thủ thêm bằng
một khẩu súng ngắn bắn xa đặt ở mép giường. Sau khi đã phòng bị cẩn thận, tôi
thở phào, nằm xuống chuẩn bị ngủ. Như bình thường tôi với tay lấy quyển sách
trên chiếc bàn cạnh đầu giường, cuốn sách từ trước tới nay vẫn ở đó, hôm nào
tôi cũng đọc mấy trang rồi mới ngủ.

Điều
khiến tôi vô cùng ngạc nhiên là trên thanh nhớ trang tối qua tôi đánh dấu lại
có kẹp một bức thư... Thật kỳ lạ là trên đó ghi rõ họ tên tôi, và một chữ
"Gấp".

Một
bức thư gửi cho tôi! Là ai đã để nó vào đây vậy? Tôi lo lắng xé thư ra đọc:

"Từ
lúc ngài mở bức thư này ra, bất kể xung quanh có xảy ra chuyện gì, bất luận
ngài nghe thấy âm thanh gì, ngài cũng đừng loan tin ra, đừng có bất kỳ hành động
nào và cũng đừng hé răng nửa lời. Nếu không, ngài sẽ gặp xui xẻo."

Tôi
cũng chẳng phải loại nhát gan, nhưng tối hôm đó thật sự tôi rất sợ, vô cùng nhạy
cảm. Vả lại sự việc quá đột ngột, thế là trong lòng tôi cứ nơm nớp lo sợ.

Tôi
cầm chặt lá thứ, xem đi xem lại những lời đe dọa: không được hành động gì...
không được nói ra... Nếu không sẽ gặp xui xẻo... "Hừm!"- Tôi nghĩ -
"Hay có người đùa mình, một trò đùa ác ý?"

Nghĩ
vậy tôi như muốn cười, thậm chí cười thật to lên. Nhưng không biết tại sao lại
không thể cười nổi. Như có một ma lực vô hình chặn cứng cổ họng tôi lại.

Hay
là thổi tắt nến đi. Nhưng tôi không làm vậy. "Đừng có bất kỳ hành động
nào. Nếu không sẽ gặp xui xẻo"- Trong lá thư đã viết rõ ràng như vậy. Tôi
nhắm mắt lại.

Đúng
lúc ấy, trong không gian tĩnh lặng xuất hiện một âm thanh yếu ớt. Sau đó là tiếng
"loạt xoạt, loạt xoạt". Tôi cảm thấy như nó phát ra từ bên phòng
khách kiêm thư phòng, chỉ cách phòng ngủ một bức tường.

Nguy
hiểm cận kề khiến tôi toàn thân run rẩy. Tôi chỉ cảm thấy mình nên quay sang lấy
khẩu súng, xông thẳng ra phòng khách. Nhưng tôi không dám dậy: trước mặt tôi,
lúc này bên trái ở trong rèm cửa như có gì đang động đậy.

Thực
ra là có gì đó! Tôi liếc nhìn - Ồ! Nhìn rất rõ ràng. Giữa cửa sổ và rèm cửa như
có người đứng đó khiến cho rèm cửa phồng ra. Rèm cửa làm bằng loại vải có mắt
lưới cũng to, gã ở trong đó chắc nhìn thấy tôi rất rõ. Lúc này, tôi mới hiểu
ra: Trong khi bọn cướp lấy đồ, thì gã này ở đây canh chừng tôi.

Một
tiếng động lớn làm rung chuyển ngôi nhà, sau đó là tiếng gõ nhỏ hơn, dường như
có người đang dùng búa đóng đinh vào tường. Ít ra thì tôi cũng cảm thấy thế.
Song nói thật, thì lúc ấy đầu tôi hơi choáng váng. Tiếp theo, chỉ nghe thấy
toàn âm thanh hỗn tạp khiến người ta thấy chúng làm việc rất tự nhiên, không hề
có chút lén lút gì cả.

Bọn
chúng đã có kế hoạch: cuối cùng tôi không dám nói gì. Đây có phải là hèn nhát không?
Cũng chẳng phải, tôi chỉ cảm thấy toàn thân rã rời, chân tay cứng đờ. Thật ra
có thể coi đó là điều dễ hiểu, rốt cuộc sao phải đấu với chúng chứ? Chỉ cần lên
tiếng là sẽ có khoảng chục tên xông vào. Lấy tính mạng để đổi lấy đồ vật, như
thảm treo tường chẳng hạn thì có đáng không?

Cả
buổi tối tôi bị giày vò, sợ run như cầy sấy! Sau đó thì những âm thanh ấy im bặt.
Nhưng tôi vẫn chờ nó sẽ vang lên. Còn gã kia nữa, cái gã tay cầm khẩu súng và
nhìn chằm chằm vào tôi! Đôi mắt sợ hãi của tôi không rời khỏi bóng hắn; tim đập
thình thịch, những giọt mồ hôi to như hạt đậu chảy từ trán xuống!

Bỗng
nhiên tôi cảm thấy tia hi vọng lóe lên: một chiếc xe đưa sữa đang chạy chậm chạp
đi qua, âm thanh rầm rầm quen thuộc vang lên. Cùng lúc ấy tôi thấy ánh ban mai
yếu ớt đầu tiên đã chiếu qua cửa sổ, căn phòng u ám xuất hiện những vệt sáng lờ
mờ.

Một
lúc sau, những chiếc xe khác cũng lần lượt đi qua. Những âm hồn trong đêm đã biến
mất. Lúc này tôi nhẹ nhàng đưa tay ra chiếc bàn nhưng mắt thì vẫn dính chặt vào
cái rèm cửa sổ, hắn ta chắc vẫn ở đó để theo dõi tôi. Tôi định bụng tiến hành kế
hoạch bất ngờ rồi nhanh chóng cầm lấy súng, bắn về phía cửa sổ.

Tôi
thét lên một tiếng, nhảy xuống giường, xông về phía rèm cửa. Rèm cửa bị thủng
và kính cửa sổ đã bị vỡ. Nhưng tôi không bắt được hắn... Nguyên nhân thật đơn
giản: trong rèm cửa hóa ra chẳng có một bóng người nào cả!

Trước
sau đều không có ai cả! Nếu như vậy thì tức là cả đêm qua tôi bị nếp cuộn của
rèm cửa giữ chân! Còn bọn cướp thì nhân cơ hội... Tôi vô cùng điên tiết, người
bốc hỏa, nhảy tới cửa mở khóa đi ra phòng khách.

Nhưng
cảnh lúc đó nhìn thấy còn làm tôi ngạc nhiên hơn chuyện cái thằng mà tôi tưởng
tượng tối qua. Dường như tôi bị đóng đinh ở cửa, mặt thần ra, thở dốc: căn nhà
vẫn nguyên vẹn, không thiếu một cái gì. Những đồ vật trong nhà, các bức tranh
sơn dầu, tất cả đều ở nguyên chỗ cũ.

Thật
là khó hiểu! Tôi thật không dám tin vào mắt mình nữa! Những âm thanh loạt xoạt
chuyển đồ đêm qua phải giải thích ra sao đây? Tôi đi quanh nhà một vòng, đếm từng
bức tranh sơn dầu và những vật dụng quen thuộc. Không thiếu bất cứ một thứ nào!
Điều làm tôi khó hiểu nhất là, bọn trộm đêm ấy ra vào sao không để lại chút dấu
vết nào? Không có chiếc ghế nào bị xê dịch, không có dấu chân nào in trên thảm...

Trời
đất! Tôi ôm đầu suy nghĩ... Tôi không bị mất trí đấy chứ! Sự thật là đêm qua
tôi đã nghe rất rõ ràng mà!...

Tôi
kiểm tra rất cẩn thận, kết quả cũng chẳng có manh mối gì cả. Chỉ... Đây có thể
coi là một chứng cứ không? Ở dưới tấm thảm Ba Tư có một lá bài. Đó là cây
"bảy cơ". Trông nó cũng giống như bất kỳ cây bảy cơ trong bộ bài. Chỉ
một chỗ lạ khiến tôi chú ý. Ở đỉnh của cả bảy trái tim đều có một lỗ tròn ngay
ngắn như được ai đó khoan vào.

Chỉ
có thế mà thôi. Ngoài lá bài ra, còn có bức thư được kẹp ở trong quyển sách. Với
hai chứng cứ này, có thể coi đây không phải là ác mộng không?

Suốt
cả ngày, tôi tiếp tục tìm kiếm. Phòng khách lớn tới mức có vẻ như không tương xứng
với ngôi nhà nhỏ này. Cách bố trí đồ đạc cũng như chính các đồ đạc trong phòng
thật là cổ quái và hiếm thấy: Tấm thảm được ghép từ nhiều miếng màu nhỏ, chắp
ghép thành bức tranh lớn, mang phong cách Ý và Roman. Một vị thần dang dùng đĩa
chọc vào thùng rượu; còn vị hoàng đế râu trắng đội vương miện, tay phải cầm một
cây kiếm dài.

Cả
căn phòng chỉ có mỗi một cửa sổ ở trên cao. Cánh cửa sổ này luôn được mở, nên
tên trộm có thể trèo từ đó vào. Song điều này cũng khó xác định. Nếu bắc thang
trèo lên thì trong vườn phải để lại dấu chân chứ?

Nhưng
không hề có vết tích gì. Ngay cả khoảng đất trống quanh nhà cũng không hề lưu lại
dù chỉ một vết chân mới nào.

Thật
ra thì tôi không định báo cảnh sát, vì hầu như không có cách nào để báo án; nói
ra không khéo lại thành trò cười. Nhưng hai ngày sau tôi phải có bài đăng trên
báo. Chuyện này cứ ám ảnh mãi trong đầu, nên tôi liền đưa nguyên si câu chuyện
lên chuyên đề văn chương.

Mọi
người đều đọc rồi, nhưng tôi nhận thấy ai cũng cho rằng câu chuyện này không có
thật, chỉ là hư cấu thôi. Chỉ có Das Sprit cho là nghiêm túc. Lúc tới thăm tôi,
anh đã tìm hiểu nhiều chuyện, đặt ra một vài giả thiết. Anh ấy có vẻ rất có
kinh nghiệm và giỏi giang trong lĩnh vực này... Song rốt cuộc, cũng không giải
thích được vấn đề.

Một
hôm, vào buổi sáng, có tiếng chuông cửa kêu khá to. Antoine vào báo cho tôi rằng
có người muốn gặp mà không chịu xưng tên. Tôi hơi lưỡng lự nhưng rồi cho ông ấy
vào. Đó là một người tầm bốn mươi tuổi, mặt đen, vẻ mặt nghiêm nghị, trang phục
rất gọn gàng nhưng đã bạc màu thời gian. Lời nói đầu tiên ông ấy dùng âm khá
chuẩn nói với tôi:

-
Thưa ngài, tôi vô tình đọc báo có chuyên mục văn chương mà ngài viết. Tôi rất
thích tác phẩm đó của ngài.

- Cảm
ơn! - Tôi hơi dè dặt.

-
Cho nên, tôi đến xin được thỉnh giáo.

- Ồ...

-
Đúng vậy, tôi muốn đàm đạo cùng ngài. Những chuyện mà ngài viết là có thật sao?

-
Hoàn toàn như vậy.

-
Không có bất kỳ chỗ nào hư cấu?

-
Tuyệt đối không.

- Nếu
như vậy, tôi nghĩ có thể cung cấp cho ngài một vài chi tiết.

-
Xin ngài hãy nói!

-
Xong trước tiên, tôi phải xác minh lại những gì ngài nói.

-
Xác minh thế nào đây?

-
Hãy để tôi ở lại một mình trong căn phòng này một lát.

Tôi
ngạc nhiên nhìn ông ta thầm nhủ: "Mình không hiểu lắm, ông ta muốn gì nhỉ?"

-
Khi đọc tác phẩm của ngài, tôi đã nảy ra ý định này. Một vài chi tiết mà ngài
nói, thật tình cờ nó rất giống với việc tôi đã trải qua. Song, có thể tôi nhầm...
Đương nhiên, không nói ra sẽ tốt hơn. Muốn biết có nhầm hay không, chỉ có một
cách là hãy để tôi ở lại đây một mình...

Câu
nói này của ông ta có ẩn ý gì khác không? Sau này nghĩ lại, tôi thấy lúc ấy ông
ta có vẻ căng thẳng, hốt hoảng. Có điều, lúc đó tôi cũng rất ngạc nhiên. Còn
yêu cầu của ông ta thì không có gì đặc biệt hay quá đáng. Vả lại, lòng hiếu kì
trong tôi cũng trỗi dậy

Tôi
đồng ý với đề nghị lạ lùng đó của ông ta:

-
Được thôi. Thế ông cần bao nhiêu?

- Ồ,
ba phút là đủ. Bắt đầu từ bây giờ, sau ba phút xin ngài hãy quay lại.

Tôi
đi xuống lầu, rồi rút đồng hồ ra xem giờ. Một phút, hai phút trôi qua... Tại
sao tôi có cảm giác khó thở? Tại sao tôi cảm thấy hai phút trôi qua lại chậm
như vậy?

Hai
phút rưỡi... hai phút bốn mươi lắm giây... Bỗng có một tiếng súng vang lên chói
tai.

Tôi
vội chạy bổ lên lầu, xộc vào trong, bất thình lình thét lên.

Người
đàn ông đó nằm trên sàn nhà, đầu bị bắn thủng, máu chảy lênh láng. Bên cạnh bàn
tay nắm chặt của ông ấy là một khẩu súng, mũi súng vẫn còn vương khói. Tôi chỉ kịp
nhìn thấy ông ta co giật mấy cái rồi chết.

Nhưng
ngoài cảnh tượng sợ hãi này, còn có một vật khiến tôi kinh ngạc hết mức: Cách
cái xác còn nóng hổi của ông ấy hai bước, có một quân "bảy cơ" ở trên
sàn! Tôi nhặt nó lên: Đầu nhọn của bảy hình trái tim cũng đều có lỗ...

Sau
đó nửa tiếng, cảnh sát trưởng Nenilly đã tới; tiếp đó pháp y cũng đến, theo sau
là đội trưởng đội bảo vệ Disduwa. Hiện trường được bảo vệ rất cẩn thận, vì tôi
chưa hề đụng vào cái xác của người đàn ông.

Khám
xét hiện trường không cho kết quả nào bởi không hề phát hiện ra bất cứ manh mối
gì có thể xác nhận thân phận của ông ta. Tất cả mọi thứ trong phòng đều bình
thường, đồ đạc đều ở nguyên chỗ cũ, không hề bị xê dịch. Người này chắc không
phải vì thấy ở đây thích hợp hơn những chỗ khác nên đến tự sát đấy chứ! Ông ấy
dùng cách tuyệt vọng này, ắt phải có động cơ. Động cơ đó chỉ có thể là xuất
phát từ đồ vật nào đó mà ông ấy phát hiện ra khi đang ở một mình trong phòng.

Đó
là cái gì? Rốt cuộc ông ấy đã nhìn thấy gì? Đồ vật gì đã làm ông ấy sợ hãi như
vậy? Ông ấy đã biết được điều bí mật nào? Tất cả những câu hỏi này quá rối rém
khiến không ai có thể giải đáp được.

Song,
cuối cùng cũng có thể coi phát hiện ra một manh mối. Hai cảnh sát đang muốn thi
thể đi thì thấy tay của ông ta nắm một tờ giấy dày. Khi mở ra, lộ rõ một tấm
danh thiếp bị vò nát.

Trên
đó viết: "Gerges Andermatt số 37, phố Fredriler".

Điều
đó có nghĩa gì? Gerges là một tên người hiện là giám đốc và sáng lập của một
ngân hàng nổi tiếng.

Ông
ta sống giàu sang, có xe riêng; trong chuồng ngựa có mấy con ngựa đua giống tốt.
Khi ông ấy mở tiệc ở nhà thì khách đến rất đông. Tình nhân của ông cũng là người
đẹp nổi tiếng và yêu kiều.

- Lẽ
nào người chết kia là ông ta? - Tôi khẽ hỏi.

Đội
trưởng đội bảo vệ đích thân tới ngó:

-
Không phải, ngài Andermatt là người da trắng, tóc đã điểm bạc.

-
Thế tại sao lại có tấm danh thiếp đó?

-
Thưa ngài, ngài có điện thoại không?

-
Có, ở phòng khách. Hãy đi theo tôi!

Ông
ta tra danh bạ rất nhanh rồi gọi:

-
Alô, ngài Andermatt có nhà không? Làm phiền ông nói với ông ấy là có ngài
Disduwa mời ông ấy đến ngay số 102 phố Major có việc gấp.

Hai
mươi phút sau, ngài Andermatt vội vã đáp xe tới. Đội trưởng đội bảo vệ kể lại
chi tiết mọi chuyện cho ông ấy nghe, sau đó đưa đến chỗ tử thi. Ông ấy tỏ ra bị
kích động, không kìm nổi gọi khẽ:

-
Etlenne Valon - Ngài quen ông ấy ư?

-
Không... Không coi là quen...; chỉ là đã gặp nhau. Anh của ông ấy...

-
Ông ấy có anh trai?

-
Đúng, tên là Alfred... Anh của ông ấy có đến cầu xin tôi một lần... Tôi không
nhớ rõ là chuyện gì nữa...

-
Ông ấy sống ở đâu?

-
Hai anh em ông ấy sống chung... Có lẽ là ở phố Pravince.

- Tại
sao ông ấy lại tự sát, ngài có thể nghĩ tới nguyên nhân gì không?

-
Không. Tôi không biết tại sao cả.

-
Sao trong tay ông ấy lại có tấm danh thiếp này? Đúng là danh thiếp của ngài,
trên đó còn có địa chỉ...

-
Tôi cũng không hiểu có chuyện gì. Có lẽ phải chờ kết quả điều tra mới rõ.

Tôi
nghĩ, bất luận nói thế nào chuyện này vẫn hơi kỳ lạ. Những người có mặt tại hiện
trường chắc cũng có cảm giác như thế. Nhưng ông Andermatt không cung cấp được
manh mối nào khác. Tôi đã nói hết những gì tôi biết, còn ông ấy chỉ nói đi nói
lại câu:

-
Tôi cũng giống như mọi người, đợi xem chuyện gì đã xảy ra.

Kết
quả điều tra ngài Andermatt cho thấy, anh em Valon có gốc quốc tịch Thụy Sĩ; đã
từng dùng rất nhiều danh tính khác và thường xuyên lui tới các sòng bạc lớn. Họ
có liên quan tới một nhóm người ngoại quốc phạm tội, đang bị cảnh sát theo dõi.
Các thành viên trong nhóm này, sau khi hành động đều lẩn trốn sang nhiều ngả.
Đã điều tra được anh em Valon cũng từng hoạt động trong nhóm này. Sáu năm trước,
hai anh em nhà này có trú ngụ tại số 24 phố Province thật. Nhưng sau đó, hàng
xóm không biết họ đã đi đâu.

Thực
ra, tôi cảm thấy vụ án này đan xen phức tạp, e rằng khó mà phá án được. Nhưng Das
thì có vẻ rất hứng thú, trong thời gian này ông ấy đặc biệt qua lại nhiều với
tôi.


hôm, ông ấy cho tôi xem một tin tức thời sự. Tin này là lấy từ nước ngoài, người
biên tập còn bình luận thêm:

"Ở
Anh quốc, nghiên cứu tàu ngầm đang được tiến hành, địa điểm được bảo vệ rất kỹ
càng. Một khi thí nghiệm thành công, thì chiến tranh trên biển sẽ có bước tiến
mới. Theo người trong cuộc tiết lộ, chiếc tàu này được đặt tên là "Bảy
cơ""

Bảy
cơ? Lẽ nào đây là một sự trùng hợp ngẫu nhiên? Rốt cuộc thì tên chiếc tàu ngầm
này và những vụ việc kể trên có quan hệ gì không? Đó là sự liên quan như thế
nào? Sự việc xảy ra ở đâu; thí nghiệm xảy ra ở tận bên đó có liên quan với nhau
được không?

- Vậy
ai đã nói đúng? - Das trầm ngâm một lúc rồi nói với tôi - Có một số việc nhìn
bên ngoài thì có vẻ hoàn toàn khác nhau, nhưng bên trong chúng lại có mối liên
hệ mật thiết.

Hai
ngày sau, trên báo đăng tải một tin khác.

"Được
biết những phương án chế tạo thử nghiệm tàu ngầm "Bảy cơ" là của một
kiến trúc sư người Pháp. Ông ta xin chính phủ nước này cấp ngân sách nhưng bị từ
chối. Sau đó, ông ta liên hệ với Bộ Hải quân Anh, vẫn chưa có kết quả. Nguồn
tin này chưa thể chứng thực, chỉ dùng tham khảo."

Sau
đó, trên một tờ báo lớn có đăng một bài thu hút được sự chú ý của dư luận. Nó
đã cung cấp một vài manh mối về vụ án "Quân bài bảy cơ", nhưng cũng
chỉ là manh mối không rõ ràng. Toàn văn như sau:

"Manh
mối đầu tiên của "Vụ án quân bài bảy cơ"

Nói
ngắn gọn: mười năm trước, một vị kiến trúc sư khai mỏ trẻ tuổi Luis Luicen vì
quá đam mê công trình nghiên cứu tại số 102 phố Major và thuê hai anh em Valon
quốc tịch Thụy Sĩ trợ giúp, trong đó một người làm trợ lý thí nghiệm, người kia
lo tìm đối tác thích hợp. Qua giới thiệu của hai anh em họ, ông ta đã quen với
ông Gergeo – người mới sáng lập ra ngân hàng vàng nổi tiếng.

Luis
Luicen đã nói tốt cho Valon nhiều lần, sau khi ngân hàng khảng khái chấp nhận
phương án chế tạo tầu ngầm, thì tranh thủ ảnh hưởng của nó xin nguồn tài trợ
cho công trình nghiên cứu.

Trong
vòng hai năm, Luis thường xuyên lui tới lâu đài của Andermatt mang theo bản thảo
nghiên cứu cho ông ta xem. Rồi một ngày nọ, ông đưa ra công thức then chốt cuối
cùng, cảm thấy cả dự án đã hoàn tất, xin ngài Andermatt nghĩ cách cho khởi công
trình.

Hôm
đó Luis ở lâu đài của Andermatt ăn tối, mười một rưỡi ra về. Từ đó về sau,
không ai biết tung tích của ông ta nữa.

Tác
giả rà soát lại báo chí năm đó, thấy rằng gia tộc Lucien đã từng khởi tố vụ
này. Nhưng không có kết quả gì. Mọi người đều nghĩ rằng ông Luis tính hướng nội,
nên đã mắc chứng hoang tưởng; vì vậy, rất có thể đã đi du lịch mà không báo cho
ai biết.

Về
chi tiết này, tạm ngừng tại đây. Nhưng sự việc này còn liên quan tới lợi ích quốc
gia: tung tích phương án chế tạo tầu ngầm ra sao? Ông Luis đã mang hết chúng
đi, hay đã đốt sạch rồi? Tác giả đã điều tra vấn đề này rất kỹ, kết quả cho thấy
phương án chế tạo đến nay vẫn còn. Nó đã rơi vào tay anh em Valon. Họ đã làm
cách nào, hiện giờ vẫn chưa thể xác định. Nhưng có một điều đã rõ ràng là:
phương án nghiên cứu của Luis đang nằm trong tay một thế lực ngoại quốc nào đó.
Trong tay tác giả đang có bức thư liên lạc giữa anh em Valon và thế lực ngoại
quốc đó; lúc cần thiết có thể công bố. Hiện nay, phương án chế tạo tàu ngầm
"Bảy cơ" mà Lucien đặt giả thiết đang trở thành hiện thực ở ngay nước
láng giềng của chúng ta."

Đằng
sau bài viết còn có một đoạn nữa:

"Tin
mới nhất. Qua nguồn tin đáng tin cậy, thì thí nghiệm ấy vẫn chưa thành công.
Nguyên nhân có thể là phương án mà anh em Valon đưa ra chưa trọn vẹn, thiếu mất
chính phần đêm hôm Lucien đưa cho Andermatt rồi mất tích. Phần tài liệu này có
ý nghĩa rất quan trọng để thực hiện phương án và tính toán số liệu; nó bổ trợ
cho tài liệu đề án, và cả hai đều không thể thiếu.

Vậy
thì, thái độ của ngài Andermatt có quan hệ mật thiết với việc có thể phá án hay
không? Ngài Andermatt có nghĩa vụ giải thích về hành động này. Chúng ta có quyền
được biết tại sao Etlenne không nói ra sự thật mà lại tự sát, và tại sao lại
che dấu tung tích của văn kiện? Ông ta phải nói rõ, tại sao lại phải thuê mật
thám theo dõi anh em Valon trong suốt sau năm liền.

Hy
vọng ngài Andermatt sớm giải thích rõ việc này. Nếu không sẽ không thể nói trước
được điều gì.

Giọng
điệu đe dọa thể hiện thật rõ. Nhưng mục đích là gì? Rốt cuộc ông Salvator sẽ
dùng kế sách gì để đối phó với Andermatt đây?"

Hôm
bài báo được ấn hàn, Das ngồi ăn tối ở nhà tôi. Ăn cơm xong, trong khi hai
chúng tôi đang bàn luận về vụ án này bỗng cánh cửa bị mở tung ra. Người giúp việc
chưa kịp vào báo thì có một người phụ nữ che mặt xông vào.


ta nhìn thấy tôi đứng lên trước liền hỏi:

-
Thưa ông, đây là căn nhà của ông sao?

-
Đúng vậy, phu nhân. Nhưng tôi vẫn chưa biết...

- Cửa
sắt ở mặt đường vẫn chưa khóa - Bà ta giải thích.

-
Thế còn cửa ở tiền sảnh?


ta không trả lời. Tôi nghĩ, bà ta đã đi vào bằng cầu thang nhỏ của người giúp
việc. Nếu như vậy thì bà ta chắc chắn rất thông thuộc căn phòng này?

Một
bầu không khí tĩnh lặng đến khó xử bao trùm. Bà ta đưa mắt liếc nhìn Das dò hỏi.
Tôi thấy phải giới thiệu đôi chút hai người với nhau, coi đây như là một cuộc họp
mặt. Sau đó, tôi mời bà ta ngồi xuống và hỏi có nguyên cớ gì khiến bà ta tới
đây.


ta vén tấm mạng che để lộ khuôn mặt đoan trang; cho dù không phải là tuyệt sắc
giai nhân nhưng cũng đủ để làm say lòng người. Đặc biệt là đôi mắt, tuy có vẻ
buồn rầu nhưng vẫn làm sao xuyến tâm hồn.


ta nói:

-
Tôi là phu nhân Andermatt

-
Phu nhân Andermatt! - Tôi bất giác nhắc lại một lần nữa, trong lòng cảm thấy vô
cùng ngạc nhiên.

Khi
bầu không khí tĩnh lặng bao trùm qua đi, bà ấy nói với giọng rất khoan thai:

-
Tôi đến đây là vì... vụ án này. Tôi nghĩ sẽ tìm hiểu thêm được điều gì đó từ
phía các ông.

-
Nhưng thưa phu nhân, tôi chỉ biết những gì trên báo chí đăng mà thôi. Hãy nói
cho tôi biết, tôi có thể giúp gì cho bà?

-
Tôi... không biết... tôi... không biết...

Trong
khoảng khắc ấy, bằng trực giác tôi có thể nhận ra giọng điệu khoan thai lúc nãy
của bà ta chỉ là giả vờ mà thôi; bên trong cái vỏ ngoài bình thản kia là một
tâm hồn bồn chồn, bất an. Lúc ấy, cả tôi và phu nhân đều cùng bối rối...

Das
ở bên cạnh, nhìn chằm chằm hai chúng tôi, lúc này ông bước lên trước nói với
phu nhân:

-
Thưa bà, xin hãy cho phép tôi được hỏi bà vài câu, được chứ?

- Ồ!
Ông cứ tự nhiên! - Bà ấy nói mạnh mẽ hơn. - Có lẽ như thế, tôi sẽ dễ nói hơn.

-
Cho dù tôi hỏi câu gì... bà cũng sẽ trả lời?

-
Được... thôi- Bà ta hơi ngập ngừng nhưng rồi cũng đồng ý.

-
Bà có quen biết Luis không?

-
Có, thông qua chồng tôi.

- Lần
cuối cùng bà gặp ông ấy là khi nào?

-
Khi ông ấy dùng bữa tối ở nhà tôi, tối hôm đó.

- Tối
hôm đó, bà có nghĩ rằng đó là lần gặp cuối cùng không?

-
Không hề. Ông ấy nói sẽ đi du lịch nước Nga. Nhưng chỉ nói vậy thôi.

- Nếu
thế, hẳn bà cho rằng sẽ gặp lại ông ta?

-
Ông ấy hẹn vài hôm nữa sẽ tới nhà tôi ăn cơm.

- Vậy
bà có thể giải thích việc mất tích của ông ấy không?

-
Tôi không thể.

-
Còn ngài Andermatt

-
Tôi không biết.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.