Giông tố - Dư luận phần 3
GIÔNG TỐ
NGUYỄN HOÀNH KHUNG
Tiểu thuyết Giông tố bắt đầu đăng trên Hà Nội báo từ số 1 (ra ngày 1-1-1936); được 11 số thì nghỉ, ít lâu sau lại đăng tiếp với nhan đề mới: Thị Mịch, 1937, Nhà xuất bản Văn Thanh in thành sách với tên cũ.
Vừa ra mắt, Giông tố đã có tiếng vang lớn đến nỗi, có người nói đó là quả bom nổ giữa làng văn khi đó. Đây là một trong hai tác phẩm tiêu biểu nhất cho sự nghiệp văn học của Vũ Trọng Phụng, có giá trị hiện thực và sức mạnh tố cáo độc đáo, đồng thời, cũng bộc lộ khá hệ thống những lệch lạc, những mâu thuẫn lắm khi có vẻ vô lý trong tư tưởng nhà văn.
Giông tố bao quát hiện thực trên một phạm vi rất rộng. Với cuốn tiểu thuyết dày dạn này, nhà văn muốn dựng nên bức tranh toàn cảnh về xã hội Việt Nam đương thời. Câu chuyện trải ra từ nông thôn đến thành thị, trong nhiều khung cảnh rất khác nhau. Bấy nhiêu khung cảnh là bấy nhiêu môi trường sống, hoạt động của khá đông nhân vật thuộc đủ các tầng lớp xã hội. Và đằng sau những nhân vật có tên tuổi, diện mạo cụ thể đó, thỉnh thoảng hậu cảnh sân khấu Giông tố lại hé ra những đám đông thuộc một xã hội con con nào đó được vẽ bằng những nét ký họa sắc sảo, vừa là ngòi bút “tả chân” linh hoạt, vừa là ngòi bút tiểu phẩm châm biếm của nhà báo tài năng.
Đó là xã hội “làng bẹp” trên tiệm hút Mã Mây, “một xã hội thất vọng truỵ lực, muốn làm cho những điều thất vọng phải tan ra khói”, gồm “ông chủ sòng mà Sở Liêm phóng không thương hại, mấy cậu học trò vừa ra khỏi trường mà đã oán giận xã hội không trọng dụng nhân tài, cụ phán già không được cưới thêm vợ lẽ, ông nhà văn có sách mới bị cấm, tay chủ báo bị kiện về tội phỉ báng, tay phóng viên thiếu đầu đề, cô gái nhảy vừa đánh mất nhân tình, nhà tài tử cải lương không có người bao...”.
Đó là đám khách của Nghị Hách vào ngày nhà tư bản tính sổ doanh thương: “Bọn người mà bề ngoài đủ tỏ ra vẻ doanh nghiệp, vẻ sắc sảo, vẻ gian hùng ở những cái mũ cát két, ở những đôi giày ống, ở những cái kính cặp, ở những cái răng vàng, ở cái máy chữ xách được, ở những cái cặp da to kếch xù, ở cái ống đựng nước nóng lạnh trong 24 giờ, v.v... (...). Trong bọn ấy có anh coi đời như canh bạc lớn, làm việc thiện là để quảng cáo cho mình, làm điều ác mà bắt mọi người phải nhớ ơn, đọc đủ các báo chí mà không biết gì về văn chương mỹ thuật, tủ sách đầy những tập kỷ yếu các hội ái hữu, nhưng kỳ chung thật không có ai là bạn trên đời, cầm đến tờ nhật trình chỉ xem tin thương trường, tin gọi đấu thầu, các đạo Nghị định, tin xuất cảng, nhập cảng, đã từng chủ tọa những cuộc ban giải văn chương, mà chưa hề đọc hết một cuốn tiểu thuyết. Lại có anh vừa cổ động kịch liệt cho Hội Phật giáo, lại vừa xây hàng dãy nhà săm... (...). Bọn người này là những mẫu hàng đặc biệt của công giới và thương giới. Bọn ấy đều hoặc là bạn hàng, hoặc là tay sai của Nghị Hách cả”.
Đó là “cái xã hội thượng lưu trí thức trưởng giả quý phái vân vân”, gồm đủ các quan chức Pháp - Nam trong tỉnh, đám thực khách sang trọng trong bữa tiệc linh đình ở phòng đại sảnh Tiểu Vạn Trường Thành lập vào dịp chủ nhân nhận thưởng bội tinh.
Rồi cái xã hội ăn chơi trác táng trong một chầu hát xóm Khâm Thiên, gồm “toàn những thiếu niên trí thức, cử nhân, tú tài, giáo sư...” mà lăn lóc trong “một cuộc cuồng dâm dữ dội, một bữa dạ yến long trời lở đất...”, v.v...
Hình ảnh những đám đông lố nhố đó đã gợi nên cảm tưởng rõ rệt về sự đông đúc, phức tạp của xã hội Giông tố, với đủ các lớp người, nhóm người rất khác nhau song đều là sản phẩm của chính xã hội nhố nhăng thối nát đó.
Hiện thực xã hội được phản ánh trong Giông tố đúng là phong phú, đầy đặn, đa dạng. Cuốn tiểu thuyết đầy ắp sự kiện, chi tiết về đời sống; nhiều mảng hiện thực sinh động được dựng lên chồng chất, kế tiếp... Ít có tác phẩm đương thời nào so được với Giông tố về dung lượng hiện thực đậm đặc và quy mô phản ánh rộng lớn như vậy.
Cốt truyện, tình tiết Giông tố chủ yếu xoay quanh một gia đình loạn luân nhưng nội dung, ý nghĩa tác phẩm vượt xa phạm vi sinh hoạt đạo đức gia đình; trước hết, đó là một bức tranh xã hội, được vẽ bằng những nét bút táo bạo, gay gắt mà chân thực, toát lên lời kết án dữ dội của nhà văn.
Đáng chú ý là bức tranh xã hội ấy không tĩnh lặng chút nào mà trái lại, rất động. Tình tiết lắm chỗ ly kỳ, đột ngột khôn lường, số phận các nhân vật lắm khi thật trớ trêu, lên voi xuống chó bất ngờ như trong bão lốc. Chưa thể nói nhà văn đã có được cảm quan chính xác về sự vận động biện chứng của hiện thực, nhưng quả là ông thật nhạy cảm với cái gọi là thế sự thăng trầm, trò đời điên đảo, thể hiện một cái nhìn năng động để cảm nhận được nhịp độ hối hả, sự quay cuồng dữ dội của đời sống. Trong “tấn trò đời” đầy những tình cờ oái oăm đó, thấy nổi lên hiện tượng mang tính quy luật: sự tấy lên giàu sang nhanh chóng của kẻ bất lương vô sỉ, và sự bế tắc, bị đè bẹp của những con người nhỏ bé trong guồng máy xã hội lạnh lùng.
Song giá trị hiện thực chủ yếu của tác phẩm không phải ở đó. Nếu trước đây, Vũ Trọng Phụng mới chỉ mơ hồ cảm thấy sự xung đột giàu - nghèo và sự bất công xã hội thì đến Giông tố, ông đã tiến tới cái nhìn “trên tinh thần giai cấp” - chữ dùng của Vũ Trọng Phụng - có khi khá sắc sảo. Giông tố đã phản ánh trực diện hiện thực từ góc độ mâu thuẫn giai cấp cơ bản và đã vạch ra khá chính xác những quan hệ xã hội thực của đời sống đương thời. Đó chính là chiều sâu của sự phản ánh, làm nên chất lượng hiện thực của tác phẩm.
Qua Giông tố, Vũ Trọng Phụng tỏ ra rất nhạy bén với sự bất công giai cấp hiện ra khắp nơi. Mở đầu tác phẩm là chuyện hiếp dâm, tình tiết gặp ở nhiều sáng tác của Vũ Trọng Phụng, và dễ dẫn ngòi bút nhà văn sa vào chủ nghĩa tự nhiên. Song, ở Giông tố, cốt truyện, tình tiết triển khai từ cái nút khai đề ấy đã đi theo hướng phân tích xã hội với tinh thần tố cáo. Qua vụ hiếp dâm bỉ ổi của tên triệu phú và vụ kiện kéo dài sau đó, bộ mặt tàn ác đểu cáng của “phái tư bản” được quan trên quan dưới che chở, cũng như thân phận con sâu cái kiến của người dân nghèo hèn trong cái xã hội hoàn toàn không có công lý đó, đã bị phơi trần.
Với niềm căm ghét sâu sắc cái xã hội trưởng giả sống phè phỡn thối nát, với cảm quan về sự bất công xã hội tiến tới cái nhìn “trên tinh thần giai cấp” được mài sắc do ảnh hưởng của phong trào Mặt trận Dân chủ, Vũ Trọng Phụng đã nắm khá chắc ngòi bút hiện thực để dựng nên một điển hình nghệ thuật bất hủ về tầng lớp tư bản xứ cỡ lớn trong xã hội Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến đương thời: Nghị Hách.
Khác với những Nghị Quế, Nghị Lại, Bá Kiến - những địa chủ “nhà quê” của một vùng nông thôn nhỏ hẹp, Nghị Hách là một đại tư bản cỡ “phú gia địch quốc”. Tài sản của lão đại khái gồm “năm trăm mẫu đồn điền trên tỉnh... một cái mỏ than ở Quảng Yên... ba chục nóc nhà Tây ở Hà Nội, bốn chục nóc nữa ở Hải Phòng”. Lão sống hết sức xa hoa, đế vương với cái ấp Tiểu Vạn Trường Thành có “những tòa nhà nguy nga bề thế như những cung điện với người hầu như trong cung nhà vua”; với mười một cô nàng hầu “địa vị chả khác gì địa vị một cung phi” cùng hầu hạ một ông chồng mà họ khiếp sợ như một vị bạo chúa; với những tên Khuyển, Ưng dưới trướng để có thể sai đi gây tội ác bất cứ lúc nào...
Hai mươi sáu năm trước, Tạ Đình Hách mới chỉ là một bác cai thợ nề. Ngay khi đó, cai Hách đã là kẻ lường thầy phản bạn, có dã tâm cướp vợ bạn. Và kẻ chuyên lường đảo ấy không ngần ngại trước bất cứ tội ác nào. Lão đã từng “bỏ bã rượu vào ruộng lương dân rồi báo nhà đoan và chỉ bởi một thủ đoạn ấy đã tậu được ba trăm mẫu ruộng rất rẻ tiền”; đã “đánh chết người làm rồi vứt xác người ta xuống giếng mà khai người ta tự tử”. Mỗi thứ tài sản to nhỏ trong nhà tên triệu phú đó, cả mười một cô nàng hầu và cô vợ lẽ sống như trong lãnh cung ở phố Quan Thánh, đều có nguồn gốc gắn với một tội ác bỉ ổi của chủ nhân. Hải Vân xem tử vi cho lão mới kể “qua loa” cho lão nghe một số tội ác trước kia của lão: “thông dâm vợ người”, “lừa người được số bạc trăm”, “hiếp dâm”, “giết người”, “hai mạng người đã chết vì quan bác...”. Chưa thể nói Vũ Trọng Phụng đã chăm chú nghiên cứu quá trình làm giàu của giai cấp tư bản Việt Nam (quá trình đó của Nghị Hách chỉ được kể sơ sài, gián tiếp), song nhà văn cũng hé ra cái sự thực về con đường tích luỹ tư bản: đó là con đường đầy tội ác và hết sức bẩn thỉu, mỗi chân lông đều đẫm máu - như cách nói của Mác.
Miêu tả sinh hoạt xa hoa, dâm ô đồi bại và những tư cách đểu cáng vốn là sở trường của ngòi bút “tả chân” Vũ Trọng Phụng và đôi khi được tô đậm đến thừa thãi. Song nhà văn không phải chỉ thấy mặt thương luân bại lý mà bản chất chính trị ********* mang tính giai cấp của “phái tư bản” cỡ lớn cũng bị ngòi bút sắc sảo của ông phơi trần. Chương IV tác phẩm tả một cuộc đi dạo một vòng ô tô của Nghị Hách ở tỉnh lỵ là một chương khá đặc sắc. Trước hết, lão đến dinh Công sứ, “chắp tay vái dài lưng cúi thật khom” trước vị “quan cai trị” đầu tỉnh rồi ton hót với “ngài” về “cái phong trào cộng sản (...) sắp sửa lan đến tỉnh ta. Vậy con xin lấy tư cách một dân biểu mà trình báo để cụ lớn tiện đường cai trị cho tỉnh yên ổn”. Sau đó ô tô đưa Nghị Hách đến dinh Tổng đốc, cánh hẩu của lão, nhắc nhở quan “xúc tiến gấp” cái việc bảo “chú Tuần nó” nhận thông gia với lão, đồng thời, xúi bẩy ông “quan tắt” vô học này ra tay trị viên tri huyện trẻ Cúc Lâm - người không chịu dập tắt vụ kiện hiếp dâm theo ý lão. Chương XXI có màn hội kiến giữa một nhà tư bản “đại biểu cho một hội lý tài mới thành lập bên Pháp” và Nghị Hách, để làm một áp phe lớn là “cái độc quyền nước mắm ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ”. Chỉ vài trang sách, Vũ Trọng Phụng đã phơi ra ánh sáng sự móc ngoặc bẩn thỉu giữa bọn tư sản mại bản bản xứ và bọn thực dân; đã lật ra mặt trái của những cái gọi là Viện Dân biểu, là Đại hội đồng kinh tế... đã phanh phui những thủ đoạn bịp bợm trong cái trò hề bầu cử Nghị viện, những mánh khóe của báo chí.
Thế là, vì “năm trăm cổ phần mà mỗi cổ phần là hai nghìn phật lăng”, vì “cái ghế Nghị trưởng cũng dắt đến cái mề đay Bắc Đẩu” và “còn làm được nhiều việc lợi khác”, Nghị Hách đã hăng hái nhảy ra tranh cử, hành động theo bài bản vạch sẵn của tên thực dân cáo già. Lão còn bỏ “250 tạ gạo và một nghìn đồng bạc” phát chẩn dân nghèo, để được báo chí ba kỳ tranh nhau ca ngợi “công đức nhà triệu phú có óc bình dân”, được quan Công sứ rất vui lòng “đại diện Chính phủ Bảo hộ, Chính phủ Nam triều gắn huy chương cho một người công dân rất xứng đáng (...), một bậc doanh nghiệp hiển hách ít có mà lòng nhân từ bác ái thì lại đáng treo gương cho dân bảo hộ soi chung”!... Trâng tráo, vô liêm sỉ, đó là nét nổi bật của hạng người tham tàn, bỉ ổi đó. Khi gặp lại khóa Hiền, “thằng phản bạn, thằng cướp vợ bạn đã ngồi trước mặt người bạn hồi ấy đã trung thành và khờ dại” đó thản nhiên thanh minh tội lỗi của hắn một cách trơ trẽn đến kỳ lạ: “Vâng, chẳng may bác phải tai nạn, còn trơ trọi bác gái sống một mình, thành ra tôi đem lòng thương. Từ cái thương đến cái yêu không xa, xin bác hiểu cho cái chỗ hèn yếu của lòng người” (!). Trong bữa tiệc khao được tặng huy chương, lão đã diễn thuyết hùng hồn, nước mắt lã chã và thề thốt thống thiết: “Tôi thương xót đồng bào tôi quá (...). Đẻ ra là bình dân, tôi xin giữ lòng trung thành với bình dân cho đến chết!”. Thế rồi, lão tuyên bố với mọi người: lão sẽ gả con gái lớn cho “một thiếu niên vô thừa nhận” mà lúc này lão biết rõ là con riêng của lão! Thật là trâng tráo vô sỉ tới tột cùng; hết sức kinh tởm!
Là “công dân trung thành với hai nhà nước”, ra sức kết vây cánh với quan lại, ôm chân bọn thống trị thực dân, căm ghét những tư tưởng tiến bộ và căm ghét Cộng sản, nhảy vào chính trị với động cơ đen tối và thái độ cơ hội trâng tráo, Nghị Hách có một bản chất chính trị rất phản động mang tính giai cấp rõ rệt. Vạch ra được điều đó, ngòi bút Vũ Trọng Phụng đã chứng tỏ một bước tiến tới trong nhận thức, tư tưởng của ông và trong điển hình hóa hiện thực chủ nghĩa của văn học Việt Nam.
Chỗ yếu của ngòi bút Vũ Trọng Phụng trong hình tượng nhân vật này chủ yếu không phải ở việc miêu tả quá tỉ mỉ, thừa thãi những chi tiết dâm ô, đểu cáng, mà là ở cái nhìn có phần choáng ngợp trước thế lực thống trị đen tối mà Nghị Hách là tiêu biểu. Nghị Hách được thể hiện như một bạo chúa có quyền lực tuyệt đối. Bóng đen của lão triệu phú gian ác trùm lên cả xã hội Giông tố. Những nạn nhân khốn khổ của lão dù đã quyết chí rửa thù, song cuối cùng đã đầu hàng thảm hại: Mịch trở thành vợ lẽ lão, Long thì vừa là con riêng vừa là con rể của lão, ông bà đồ Uẩn đi kiện lão thì sau này vênh váo được làm bố vợ nhà tư bản, tri huyện trẻ Cúc Lâm không chịu để lão mua chuộc sai khiến thì bị lão làm cho mất chức... Trong khi đó, Tú Anh tuy tuyên bố “không bênh vực” hành vi đốn mạt của bố song lại đứng ra cứu chữa thanh danh, bảo vệ lão; quan Công sứ “hiền nhân quân tử hiếm có” thì rất khen ngợi Nghị Hách và đứng ra gắn huy chương cho lão; nhà “cách mạng quốc tế” thì trở thành người bạn cố tri, vị thượng khách của Nghị Hách, ra sức giúp lão cất một ngôi mả tốt để lão “sẽ giàu hơn nữa,... sẽ có Bắc Đẩu bội tinh”. Càng về cuối truyện, kể cả sau khi lão gặp chuyện “đau đớn về tinh thần”, Nghị Hách vẫn cứ sừng sững như “một ngọn núi hùng vĩ cao cả” trong khi những nạn nhân chỉ là “một bọn người nhỏ bằng cái đầu tăm”. Nếu điều đó có ý nghĩa phê phán thì đồng thời, cũng toát lên tâm trạng bi quan khiếp nhược của người tiểu tư sản trước sức mạnh đen tối được uy quyền hóa. Thực ra, viết như vậy là không phản ánh thật đúng thực tế xã hội Việt Nam đương thời, khi quần chúng lao động đang đấu tranh sôi sục dưới lá cờ của Đảng, đang tự khẳng định sức mạnh vĩ đại của mình.
Cũng như Nghị Hách, Long và Mịch là những nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết. Cả hai đều là những nhân vật “nhỏ bé”, nạn nhân của xã hội tàn bạo, thối nát.
Long vốn là một đứa trẻ bị bỏ rơi từ lúc chào đời, lớn lên trong tình thương bố thí lạnh lẽo của một trại trẻ mồ côi. Nhờ kiếm được chân thư ký ở một trường tư thục và có một tình yêu bình dị thơ mộng với một cô gái quê nhu mì, Long đã “xây đắp biết bao mộng đẹp”. Khi cô gái bị làm nhục, chàng chỉ còn trái tim ứa máu kêu gào trả thù. Nhưng nỗi đau, nỗi nhục của Long không chỉ có thế. Long kinh hoàng tới phát điên khi bỗng biết rõ sự thật về cuộc đời mình: chính lão Nghị Hách - kẻ cưỡng hiếp vợ chưa cưới của Long lại là bố đẻ của chàng! Như thế có nghĩa là Long đã lấy em ruột và thông dâm với... vợ bố! Đó là điều ô nhục kinh tởm quá sức chịu đựng của Long và có ý nghĩa tố cáo rõ rệt.
Số phận của Mịch cũng đau thương, ê chề không kém, cô gái quê trong trắng, trở thành nạn nhân của một vụ cưỡng hiếp bỉ ổi. Cô và bố mẹ cô trông đợi ở ngọn đèn công lý nên đã viết đơn khởi kiện kẻ dâm ác, thì trước công đường, lão quan huyện già, kẻ đại diện công lý đã ném thẳng vào mặt Mịch những lời xúc phạm đến trắng trợn: “Con Mịch kia, Mày là đứa hư thế! (...). Trước pháp luật, việc mày làm như thế là một việc làm đĩ không môn bài. Vậy mày có muốn làm nhà thổ suốt đời không?”. Chỗ bấu víu cuối cùng của Mịch là tình yêu thương, sự cảm thông an ủi của người chồng chưa cưới, thì chính người ấy cũng nghi ngờ, nói những lời mỉa mai đầy xúc phạm đối với cô. Ngòi bút Vũ Trọng Phụng đã đạt tới sự sâu sắc khi miêu tả, phân tích tâm trạng lỳ lợm vì quá đau khổ, ê chề của Mịch. Khi ông muốn phân tích thăm dò tâm lý “ái tình bị thương” và “sự oái oăm”... của “lòng tự ái” trong Mịch thì chính là nhà văn đã chạm tới chiều sâu trong nỗi đau của cô gái quê đáng thương đó.
Tâm trạng Mịch đêm tân hôn cũng được tác giả thể hiện bằng ngòi bút vừa “tả chân”, vừa có chiều sâu phân tích tâm lý. Lối xưng hô “mày tao”, giọng ông chủ răn dạy con dâu, những cử chỉ thô lỗ, chớt nhả của “chú rể” triệu phú đã khiến cho Mịch “điên người lên” và “tê tái” cảm thấy “đủ mọi sự chua chát về phận lẽ mọn, nhất là lại lấy lẽ nhà giàu”.
Ở những chương đầu Mịch và Long vẫn là nhân vật của chủ nghĩa hiện thực, được viết với một cảm hứng nhân đạo rõ rệt nhưng càng về sau cả hai hình tượng đều càng mất đi tính chân thực, nhanh chóng trở thành những hình tượng minh họa cho tư tưởng chủ quan của tác giả.
Cả Long và Mịch đều thay đổi nhanh chóng về số phận và về tính cách. Sự biến chất của Long và Mịch đã được Vũ Trọng Phụng cắt nghĩa bằng quan niệm riêng. Theo ông, chính hoàn cảnh, cụ thể là “cái bả vật chất” đã có sức cám dỗ ghê gớm, làm biến chất con người, hầu như không ai đủ sức cưỡng lại.
Ở đầu truyện, Long được giới thiệu như là một con người “ngay thẳng có một”, “có chí khí”, “có hoài bão”; chính Long cũng có lúc tự kiêu: “mình là người có tâm hồn vững lắm”. Long đã nói nhiều lời lẽ cao thượng và cảm động với vợ chưa cưới, cam đoan yêu cô suốt đời và hứa quyết chí trả thù. Nhưng khi vừa bước chân đến ấp Tiểu Vạn Trường Thành nguy nga đồ sộ, chàng “đã hồi hộp lo sợ” (...) về cái thế lực ghê gớm", “như một ngọn núi hùng vĩ cao cả” của đối phương; rồi đến khi có dịp gần gũi... hai tiểu thư lãng mạn rẻ tiền, con gái lão Nghị, được giữ xe đạp cho các cô tập, thì Long thấy “lòng dục bùng lên như lửa bén vào rơm”... và lúc chia tay, đã hấp tấp tỏ tình với cả hai cô ở hai góc sân như một gã Sở Khanh! Từ đó, mấy câu khuyên giải của Tú Anh khiến cho lòng căm hờn và chí trả thù của Long tắt ngấm; thậm chí, Long còn hớn hở khi nghe ý định của Tú Anh gả em gái cho mình. Cuộc đời và lương tâm của chàng thư ký nghèo ấy cứ lay lắt vật vờ trước sự xô đẩy của số mệnh, nhất là trước sự cám dỗ của “bả vật chất”. Khi bị đặt trước sự lựa chọn giữa Mịch và Tuyết, hoặc chung tình với người vợ chưa cưới nghèo bất hạnh, hoặc một bước leo lên địa vị giàu sang, Long cứ ngả nghiêng, chao đảo; ban đầu bỏ Mịch lấy Tuyết theo lời Tú Anh, sau lại lừa dối Tuyết và Tú Anh để dan díu với Mịch. Tác giả đã khá chu đáo để giải thích có tính chất biện hộ cho những hành vi đó của Long, và để cho Long có những hối hận chân thành: “Tôi đã bắt đầu thấy rằng cái cuộc ái ân vụng trộm này đã hạ tôi vào hạng những kẻ thất phu, vô học, những kẻ mất nhân cách, những kẻ vô lương tâm”. Song thứ hối hận chu kỳ ấy không có lấy một chút sức mạnh nào để giữ con người lại trước vực thẳm sa đọa mà dường như chỉ xoa dịu lương tâm anh ta, để anh ta cảm thấy yên lòng hơn trong việc tiếp tục trượt dài trên cái dốc sa đọa, tội lỗi mà thôi.
Cuối cùng, nhân vật “có học”, “tâm hồn trong sạch” đó đã trở thành công cụ bẩn thỉu trong tay lão tư bản gian hùng, vẫn im lặng nhận lời lấy Tuyết ngay cả sau khi biết đó là em ruột, vẫn phơi mặt trước đám cử tọa sang trọng trong bữa tiệc của Nghị Hách làm món hàng quảng cáo giật gân cho lão, và sau đó vẫn chung đụng loạn luân với Tuyết. Vậy là Long đã đi tới sự tận cùng của đốn mạt. Có những lúc, Long tự quan sát “giải phẫu” sự thay đổi một cách đáng sợ của mình, của Mịch và truy tìm nguyên nhân: “Sau cùng, Long tìm ra được cái bả vật chất”, “người ta thay đổi là vì hoàn cảnh”, “mấy ai là chống chọi nổi với hoàn cảnh”.
Khám phá, khẳng định tác động của hoàn cảnh đối với tính cách là một cống hiến lớn của chủ nghĩa hiện thực. Song với Vũ Trọng Phụng, vai trò của hoàn cảnh được tuyệt đối hóa và chỉ tác động một chiều, con người chỉ là nô lệ của hoàn cảnh. Và theo nhà văn, con người không chỉ bị chi phố bởi hoàn cảnh bên ngoài mà còn là nô lệ của những dục vọng ích kỷ của chính mình. “Cái hèn yếu của lòng người” được nhà văn tuyệt đối hóa như một sức mạnh ghê gớm ngoài con người và tác động như một định mệnh. Từ đó, sự nhu nhược đến thảm hại và lương tâm vật vờ, rách nát của Long dẫn đến sự soa đọa của chàng được nhà văn thể hiện với sự cảm thông, biện hộ. Ông để cho Long tuy có hối hận nhưng lại rất yên tâm về sự soa đọa của mình: “Long thấy mình không có điều gì trái đạo cả. (...) Long hình như không phải chịu trách nhiệm những cử chỉ của mình. Long đã hoàn toàn bị sai khiến”, “Long thấy ông Đồ, Mịch và Long chỉ là bọn người đáng thương hại mà thôi. Hình như trong đời vẫn có một sức mạnh huyền bí gì đó, vẫn cầm quyền cuộc đời đến nỗi không còn ai lại tự chủ nữa”. Đằng sau giọng điệu hư vô cao đạo đó là niềm bi quan sâu sắc về sức mạnh của nhân phẩm, về con người. Nhà văn cho rằng không đáng đòi hỏi con người phải chịu trách nhiệm về nhân cách của mình. Con người không đáng được đánh giá - “người đời không ai đáng yêu, không ai đáng trọng, không ai đáng khinh”, tất cả chỉ đáng “thương hại” mà thôi! Thực chất, đó chính là tư tưởng suy đồi, xa lạ với tinh thần nhân đạo chân chính.
Hình tượng Mịch còn bị làm hỏng một cách đáng tiếc hơn nữa. Chính Long cũng phải ngạc nhiên: “Mịch ra đi từ một gái quê ngây thơ hiền lành, chất phác, đến một thiếu phụ gian dâm, lãng mạn, xảo quyệt đáng sợ”. Mặc dù tác giả đã chu đáo để chứng minh rằng sự thay đổi đó là do hoàn cảnh, địa vị thay đổi của Mịch, rằng Mịch ngoại tình chỉ vì vẫn chân thành yêu Long, rằng Mịch phản bội Nghị Hách chỉ là để trả thù, v.v... nhưng, rõ ràng, sự biến chất của Mịch được tác giả giải thích chủ yếu bằng niềm khao khát nhục dục một cách bệnh hoạn của nhân vật. Ông đã để cho Mịch “nhớ lại” lúc bị hiếp dâm “say sưa như người háu đói” vậy. Mịch thả mình trong những cuộc “ngoại tình bằng tư tưởng”, “tưởng tượng ra những cảnh dâm dục ghê gớm hưởng với mọi kẻ qua đường”. Bản chất xã hội của nhân vật đã bị xóa mờ, Mịch chỉ còn là một hình tượng luận đề, nghiên cứu một “ca” tâm sinh lý để chứng minh cho quan điểm Vũ Trọng Phụng về “căn tính dâm đãng của loài người”, “đã là người thì ai cũng dâm” (!). Quan điểm sinh lý thô bạo của chủ nghĩa tự nhiên và ngòi bút phân tích tâm lý có khuynh hướng suy đồi của nhà văn đã làm mất đi tính chân thực và ý nghĩa tích cực ban đầu đầy hứa hẹn của hình tượng.
Long và Mịch không phải là những hình tượng nghệ thuật thành công, tiêu biểu cho sức bút mãnh liệt của Vũ Trọng Phụng. Mà đó là những hình tượng phản ánh rõ nhất tính chất phức tạp, đầy mâu thuẫn của ngòi bút tác giả, trong đó có sự tranh chấp đan xen tư tưởng nhân đạo và quan điểm suy đồi, giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự nhiên, giữa tài năng sắc sảo và lối viết minh họa...
Trong hệ thống nhân vật của toàn bộ sáng tác Vũ Trọng Phụng, Tú anh có một vị trí đặc biệt. Có thể nói, đó là nhân vật phát ngôn trực tiếp, đầy đủ và hệ thống hơn cả những khái quát nhân sinh của nhà văn.
Đó là mẫu người lý tưởng đích thực của Vũ Trọng Phụng: “một người ngồi trên đống bạc mà không bị ánh sáng hoàng kim chiếu lóa mắt, đương tuổi thanh xuân mà thản nhiên được trước ái tình; một người học thức cao, nhân phẩm cao, một người hữu ích rất hiếm có vậy”. Là ông chủ hào hiệp, ân nhân, người tri kỷ, thậm chí còn là người chỉ đạo lương tâm của Long, Tú Anh còn như là lương tâm sống của tất cả đám nhân vật quay cuồng trong Giông tố. Không những thế, chàng còn là nhà hoạt động cải tạo xã hội, luôn đứng ra gây dựng, sửa chữa những cảnh đời bất công. Song trước những hoạt động gọi là vị tha cao thượng “chỉ có chịu thiệt mà không hề câu lợi” của Tú Anh có ý nghĩa gì? Thu xếp để Mịch “được” làm lẽ Nghị Hách và Long “được” lấy Tuyết, để Mịch và Long được “đền bù” - theo cách nghĩ của kẻ có tiền - Tú Anh chỉ khiến cuộc đời họ càng tan nát mà thôi. Chưa nói rằng ý định gả Tuyết cho Long của Tú Anh cuối cùng lại trùng hợp với âm mưu bẩn thỉu của chính Nghị Hách; và điều không hiểu nổi là, sau khi đều biết Long và Tuyết là anh em ruột, không những Nghị Hách mà cả Tú Anh vẫn cứ mặc nhiên thực hiện ý đồ của mình, đẩy họ vào cuộc loạn luân kinh tởm! Chàng đã vui sướng khi thấy báo chí ca ngợi “nhà triệu phú Tạ Đình Hách phát chẩn cho bần dân”. Tức là với ông bố gian ác đểu cáng, Tú Anh không có hành động nào khác ngoài việc chạy chữa thanh danh cho lão, ngăn chặn mọi sự chống đối hướng vào lão, chia sẻ những thắng lợi của lão. Tú Anh, trước sau vẫn chỉ là đứa con trung thành của giai cấp tư sản mà thôi, dù là đứa con sạch sẽ “hiếm có”. Về thực chất, hoạt động của Tú Anh chỉ là chủ nghĩa cải lương tư sản không hơn. Vũ Trọng Phụng căm ghét bọn tư bản phè phỡn tàn ác song ông trông cậy ở lòng từ thiện của những cá nhân trí thức tư sản “có tim có óc”. Chính “nhà cách mạng quốc tế” Hải Vân cũng bảo Tú Anh: “Đã có học thức, nhân phẩm lại có một lý tưởng mà thờ, con sẽ cố gắng làm những việc hữu ích trong vòng pháp luật thì làm gì không trở nên một người hữu ích”. Sau khi biết mình không phải là máu mủ Nghị Hách và lại được Hải Vân giác ngộ, Tú Anh vẫn tiếp tục “sống ở xã hội như cũ:, ”sẽ ăn ở với lão (Nghị Hách) như trước", vẫn cứ là cậu cả được cưng chiều của nhà tư bản, để thường đọc sách đến 3 giờ sáng và chờ có dịp thì “sẵn lòng hy sinh một chút tài sản của Nghị Hách đi, thế là được rồi”! Chủ nghĩa cải lương mang tính chất ban ơn đó lại rất phù hợp với tư tưởng chính trị của Vũ Trọng Phụng.

