Sông Đông êm đềm - Chương 237
Chương 237
Trái với những điều Grigori
chờ đợi, mười ngày sau lại có chừng bốn mươi tên Cô-dắc đến nhập bọn. Đó là
những tên còn sót lại của nhiều toán thổ phỉ đã bị đánh tan qua các trận chiến
đấu. Sau khi mất ataman, chúng hoạt động lang thang trong khu nên
rất vui lòng đi theo Fomin. Đối với chúng thì dứt khoát đằng nào cũng thế: làm
tay sai cho kẻ nào cũng được, giết ai cũng được, miễn là có khả năng sống cuộc
đời lang bạt, tự do và cướp bóc tất cả những người nào rơi vào tay chúng. Chúng
thuộc về một hạng người hoàn toàn không còn thuốc nào cứu chữa. Có lần Fomin đã
nhìn chúng và nói với Grigori giọng khinh bỉ: "Chà cậu Melekhov ạ, đó là
rác rưởi dạt tới chỗ chúng ta chứ không phải là những con người… Toàn những
thằng đáng bị treo cổ, chẳng đứa nào kém đứa nào?" Trong thâm tâm Fomin
vẫn còn tự coi mình là "một người chiến đấu cho nhân dân lao động",
và tuy không còn nói luôn miệng như trước nữa, song hắn vẫn còn nói:
"Chúng mình là những người giải phóng dân Cô-dắc…" Hắn vẫn mang dai
dẳng những hy vọng ngu xuẩn… Hắn lại bắt đầu nhắm mắt làm ngơ trước các hành
động cướp bóc của các bạn chiến đấu, vì hắn cho rằng tất cả các chuyện đó chỉ
là một điều xấu không thể nào tránh được, cần phải nhân nhượng chịu đựng, và
chờ ít lâu nữa hắn sẽ có thể trừ khử đước những thằng cướp bóc và sớm hay muộn
dù sao hắn cũng sẽ trở thành chủ tướng chân chính của những đơn vị khởi nghĩa,
chứ không chỉ là tênataman của một bầy thổ phỉ nhỏ xíu…
Nhưng Trumakov thì không gượng
nhẹ chút nào, cứ gọi toạc móng heo tất cả những tên theo Fomin là "những
thằng cướp". Hắn còn tranh cãi đến khản cổ, cố thuyết phục Fomin rằng
chính hắn, Fomin nầy, cũng chỉ là một thằng cướp đường không hơn không kém. Khi
không có mằt những kẻ khác, giữa hai tên thường nổ ra những cuộc cãi vã sôi
nổi.
- Mình là một người chiến đấu có
lý tưởng chống Chính quyền Xô viết! - Fomin đỏ mặt tía tai vì tức tối, hắn quát
lên - Thế mà cậu lại dùng cái tên quỉ quái gì ấy để gọi mình! Đồ ngu, cậu có
hiểu rằng mình đang chiến đấu cho một lý tưởng không?
- Thôi anh đừng loè bịp tôi nữa?
- Trumakov cãi lại. - Anh đừng hòng làm ngu muội đầu óc tôi. Tôi không còn là
một thằng nhãi ranh nữa đâu? Lại kiếm được một ông có lý tưởng như thế nầy! Anh
chính cống là một thằng ăn cướp, và chẳng có gì hơn đâu! Nhưng tại sao anh lại
sợ cái tên gọi ấy nhỉ? Tôi chẳng làm thế nào hiểu được!
- Tại sao cậu lại làm nhục mình
như thế? Tại sao mồm miệng của cậu lại nói ra những chuyện chết người ấy? Mình
chống lại chính quyền, mình đã khởi nghĩa và cầm vũ khí đánh nhau với nó. Như
vậy thì mình là thằng ăn cướp cái kiểu gì?
- Anh là một thằng ăn cướp chính
vì anh chống lại chính quyền đấy. Những thằng ăn cướp, bao giờ chúng nó cũng
chống lại chính quyền, tự cổ chí kim đều như thế cả. Cái Chính quyền Xô viết
ấy, dù nó có thế nào, song nó vẫn là một chính quyền, trụ được từ năm Một nghìn
chín trăm mười bảy đến nay, và kẻ nào chống lại nó thì kẻ ấy là thằng ăn cướp.
- Cái đầu óc của cậu thật là rỗng
tuếch? Thế các ông tướng Krasnov hay Denikin, các ông ấy cũng là những thằng ăn
cướp à?
- Nếu không thì là gì? Chỉ khác
một điều có đeo lon thôi…
- Nhưng lon chỉ là chuyện vặt.
Tôi và anh cũng có thể đeo lon được.
Fomin đấm tay xuống bàn, nhổ toẹt
bãi nước bọt, nhưng không tìm đâu ra lý lẽ có sức thuyết phục, đành chấm dứt cuộc
tranh cãi chẳng đi đến đâu. Thuyết phục Trumakov về điều gì thường là việc
không ai làm nổi.
Phần lớn những tên mới đi theo
bầy thổ phỉ đều có vũ khí và quần áo đầy đủ. Hầu hết đều cưỡi những con ngựa
tốt, đã quen với những chặng hành quân liên miên và có thể dễ dàng chạy mỗi
ngày hàng trăm vec-xta. Một số tên còn có hai con ngựa: một con để
cưỡi, còn một con gọi là ngựa dự phòng thì chạy không bên cạnh chủ. Những khi
cần thiết, chúng có thể chuyển từ con nầy sang con khác, cho hai con ngựa thay
nhau nghỉ. Một tên có hai con ngựa có thể vượt chừng hai trăm vec-xta trong
một ngày đêm.
Một hôm Fomin nói với Grigori:
- Nếu ngay từ đầu bọn mình có mỗi
thằng hai con ngựa thì quỉ dữ cũng chẳng làm thế nào đuổi nổi chúng mình? Bọn
dân cảnh và các đơn vị Hồng quân thì không lấy ngựa của dân chúng được vì chúng
ngại không dám làm như thế, còn anh em mình thì tất cả mọi việc đều có thể làm
được! Mỗi thằng chúng mình phải kiếm thêm một con ngựa mới được, khi đó chúng
nó sẽ đừng hòng đùổi bắt! Các cụ có kể lại rằng lời xưa có quân Tarta, những
khi chúng nó đi tập kích, mỗi thằng thường có hai, có khi ba con ngựa đem theo.
Những thằng như thế thì ai mà đuổi theo được? Chúng ta cũng phải làm theo kiểu
ấy. Mình rất thích cái mẹo khôn ngoan của bọn Tarta.
Chẳng bao lâu bọn chúng đã kiếm
được ngựa, vì thế trong thời gian đầu, điều kiện ấy đúng là đã làm đối phương
không tài nào đuổi theo được chúng. Một đội dân cảnh cưỡi ngựa mới thành lập
lại ở Vosenskaia đã cố truy đuổi chúng mà không được. Tuy bầy thổ phỉ của Fomin
ít người, song những con ngựa dự bị đã giúp chúng dễ dàng bỏ rơi quân địch và
bứt lên phía trước đến mấy chặng đường, tránh được những cuộc chạm trán mạo
hiểm.
Nhưng đến trung tuần tháng Năm,
đội dân cảnh trên, với quân số gần gấp bốn bầy thổ phỉ, đã dùng mưu dồn được
Fomin tới sát sông Đông ở thôn Bobrovsky thuộc trấn Ust-Khopeskaia. Tuy vậy,
sau một trận chiến đấu ngắn ngủi, bọn thổ phỉ vẫn chọc thủng được vòng vây và
tháo chạy theo bờ sông, chết và bị thương mất tám tên.
Sau lần đó ít lâu Fomin đề nghị
Grigori làm tham mưu trưởng.
- Chúng ta cần có một người hiểu
biết để hành động theo kế hoạch, theo bản đồ, nếu không sẽ có lúc bị chúng nó
dồn vào thế bí và bị ăn đòn thôi. Anh Grigori Pantelevich ạ, anh hãy nhận lấy
công việc ấy đi.
- Muốn tóm cổ bọn dân cảnh và
chém đầu chúng nó thì không cần phải có tham mưu tham miếc gì đâu. - Grigori
trả lời với vẻ mặt âm thầm.
- Bất kỳ đội quân nào cũng cần
phải có ban tham mưu của mình, cậu đừng nói lung tung.
- Nếu cậu không thể sống mà không
có ban tham mưu thì cứ lấy Trumakov làm việc ấy cũng được.
- Nhưng tại sao cậu lại không
muốn?
- Mình chẳng hiểu gì về công việc
nầy đâu.
- Còn Trumakov thì hiểu hay sao?
- Cả Trumakov cũng chẳng hiểu gì.
- Nếu vậy thì cậu nhét thằng ấy
cho mình làm cái của nợ gì? Cậu là sĩ quan thì phải có kiến thức, phải biết
chiến thuật và mọi trò khác chứ?
- Mình mà là sĩ quan thì cũng như
cậu bây giờ làm chỉ huy đội thôi? Còn chiến thuật thì chúng ta chỉ có một chiến
thuật duy nhất: chạy quanh chạy quẩn khắp đồng cỏ và ngoái đầu lại cho nhiều… -
Grigori nói giọng châm biếm.
Fomin nháy mắt với Grigori và giơ
ngón tay đe doạ:
- Mình đi guốc trong bụng cậu
rồi? Cậu muốn lẩn tránh cho yên thân phải không? Cậu muốn lui vào trong bóng
tối có phải không? Người anh em ạ, cái trò ấy cũng không cứu được cậu đâu!
Trung đội trưởng hay tham mưu trưởng thì cũng một giuộc. Cậu tưởng nếu thế sau
nầy bị chúng nó bắt thì sẽ được nhẹ tội có phải không? Cứ chờ đấy mà xem.
- Mình không nghĩ gì về chuyện
ấy, cậu đoán già đoán non như thế không đúng đâu. - Grigori nói nhưng mắt cứ
dán xuống cái dây ngù của thanh gươm. - Còn việc gì mà mình không biết thì mình
không nhận làm.
- Cũng được thôi, cậu không muốn
cũng chẳng sao, không có cậu bọn mình vẫn có cách giải quyết. - Fomin bực bội
đồng ý.
Hồi nầy tình hình trong khu đã
thay đổi hẳn: trước kia Fomin đến nhà những tên Cô-dắc có của ăn của để thì ở
đâu hắn cũng được tiếp đón rất hậu hĩ, nhưng bây giờ bọn kia đã cài chặt then
cửa, và hễ thấy bầy thổ phỉ xuất hiện trong thôn là các chủ nhà đều bỏ chạy và
trốn trong các mảnh vườn hay các cánh rừng chung quanh thôn.
Toà án cách mạng lưu động dến
Vosenskaia lập phiên toà đã kết án nghiêm khắc nhiều tên Cô-dắc trước kia ân
cần tiếp đón Fomin. Tin ấy được truyền đi rộng rãi ra các trấn và đã có tác
động thích dáng tới đầu óc của những kẻ công khai tỏ thái độ đồng tình với bọn
thổ phỉ.
Trong hai tuần Fomin đã chu du
một vòng rất rộng qua tất cả các trấn của vùng Đông Thượng. Bầy thổ phỉ đã có
gần một trăm ba mươi tay gươm. Song đuổi sát gót chúng không còn là một nhóm kỵ
binh tổ chức vội vã mà là nhiều đại đội thuộc trung đoàn kỵ binh Mười ba điều
từ miền Nam lên.
Những ngày gần đây, những tên mới
chạy theo Fomin phần lớn đều có nguyên quán ở những nơi xa. Chúng đã mò tới
vùng sông Đông bằng nhiều con đường khác nhau: một số tên đã lẻ tẻ bỏ chạy
trong khi bị áp giải hoặc trốn khỏi những nhà tù, trại tập trung, nhưng phần
chủ yếu của nhóm nầy gồm những toán chừng vài chục tay gươm mới tách ra khỏi
bầy thổ phỉ Maxlak và cũng có những tên sống sót của toán thổ phỉ Kurotkin vừa
bị đánh tan. Những tên thuộc toán Maxlak cũ sẵn sàng chịu để phân tán và có mặt
ở tất cả các trung đội, còn những tên trước kia theo Kurotkin thì không muốn bị
xé lẻ. Cả bọn chúng đã được biên chế thành một trung đội riêng, có tổ chức rất
chặt chẽ và có phần tách biệt với tất cả những tên khác. Cả trong chiến đấu lẫn
trong lúc nghỉ ngơi, chúng đều hành động rất đoàn kết, đứa nọ dựa vào đứa kia.
Mỗi khỉ cướp một cửa hiệu của hợp tác xã cung tiêu thống nhất hay một cái kho
nào, chúng kiếm chác được gì đều đổ tất cả vào cái nồi chung của trung đội và
chia rất đều các của cướp được, hết sức giữ đúng nguyên tắc bình quân.
Vài tên Cô-dắc vùng sông Cherek
và sông Kôban với những chiếc áo trec-ket rách tả tơi, hai thằng Kalmys người
trấn Velikoniazirskaia, một gã Ladvia với đôi ủng thợ săn ống cao đến đùi và
năm thằng thuỷ binh vô Chính phủ mặc áo lót vằn và những cái áo vải buồm bạc
phếch vì dãi nắng càng tăng thêm cái vẻ linh tinh bát nháo của bầy thổ phỉ
Fomin vốn dĩ đã có một thành phần phức tạp, ăn mặc lung tung đủ mọi kiểu.
- Nào, bây giờ thì anh còn cãi
rằng những thằng theo anh không phải là những thằng cướp nữa hay thôi? Thế
những thằng nầy, chúng nó… là những chiến sỹ có lý tưởng phải không? - Một hôm
Trumakov nói với Fomin vừa đưa mắt chỉ các đội hình hành quân hàng dọc kéo dài
lê thê. - Chỉ còn thiếu một thằng thầy tu phá giới và một con lợn mặc quần là
đủ nhân vật cho một đoàn phường tuồng rồi còn gì…
Fomin lặng thinh. Nguyện vọng duy
nhất của hắn là tập hợp chung quanh hắn càng nhiều quân càng hay. Trong lúc
nhận những tên tình nguyện, hắn không cần tính toán một hai gì cả. Hễ có kẻ nào
tỏ ý muốn chịu quyền chỉ huy của hắn, hắn đều đích thân hỏi han rồi nói gọn
lỏn:
- Anh có đủ điều kiện đi lính
đấy. Tôi đồng ý nhận anh. Anh hãy đến gặp tham mưu trưởng của tôi là Trumakov.
Ông ấy sẽ cho anh biết anh được phân vào trung đội nào và sẽ phát vũ khí cho
anh.
Tại một thôn của trấn
Migulinskaia, bọn thổ phỉ dẫn tới trước mặt Fomin một thằng thanh niên tóc
xoăn, da ngăm ngăm, ăn vận rất diện. Tên nầy tỏ ý muốn đi theo bầy thổ phỉ. Sau
khi hỏi han, Fomin được biết rằng gã nầy là dân Rostov, gần đây bị kết án vì
tội ăn cướp có vũ khí, nhưng nó đã trốn khỏi nhà tù Rostov và sau khi nghe
tiếng Fomin nó đã mò đến vùng thượng lưu sông Đông.
- Anh là người dân tộc gì thế?
Armeni hay Bungari? - Fomin hỏi.
- Không, tôi là người Do thái. -
Thằng kia ngập ngừng một lát rồi trả lời.
Vấn đề nẩy ra quá đột ngột làm
Fomin luống cuống đứng đực ra giờ lâu, không hiểu trong trường hợp bất ngờ như
thế nầy thì nên giải quyết ra sao. Hắn nặn óc mãi rồi thở dài thườn thượn và
nói:
- Thôi cũng được, không sao cả.
Do thái thì Do thái. Chúng tôi không chê… Dù sao thêm một người cũng là đông
hơn một chút. Nhưng anh có biết cưỡi ngựa không? Không biết à? Tập thì sẽ biết?
Đầu tiên chúng tôi sẽ phát cho anh một con ngựa cái dễ cưỡi một chút, rồi anh
sẽ cưỡi được. Anh hãy lại chỗ Trumakov, ông ấy sẽ phân cho anh về đơn vị.
Chỉ vài phút sau Trumakov đã phi
ngựa tới chỗ Fomin. Hắn tức như điên:
- Anh đã biến thành một thằng dở
hơi hay muốn giở trò đùa đấy hử? - Hắn ghìm ngựa, quát lên. - Anh tống một
thằng Do thái đến chỗ tôi làm cái quái gì thế? Tôi không nhận đâu? Hãy tống cố
mẹ nó đi đâu thì đi!
- Cậu cứ nhận lấy, cứ nhận lấy
nó, dù sao cũng làm tăng quân số. - Fomin nói giọng thản nhiên.
Nhưng Trumakov gầm lên, sùi cả
bọt mép:
- Tôi không nhận! Tôi sẽ giết nó,
chứ không nhận đâu! Bọn Cô-dắc đã làm ầm lên rồi kia kìa, anh hãy ra mà lấy lại
trật tự cho chúng nó!
Trong lúc hai tên còn đang tranh
cãi giằng co với nhau, thì bên cạnh chiếc xe bốn bánh chở đồ, thằng thanh niên
Do thái đã bị lột mất cái áo sơ-mi thêu và chiếc quần nỉ ống loe. Một gã Cô-dắc
vừa ướm thử chiếc sơ-mi vừa nói:
- Kia kìa, mày có trông thấy bên
ngoài thôn có bụi ngải cứu già kia không? Mày hãy quàng chân lên cổ chạy ra đấy
và nằm xuống. Mày sẽ nằm đấy cho đến khi chúng ông rời khỏi chỗ nầy. Chúng ông
đi rồi thì mày sẽ được đứng dậy và xéo đi đâu thì xéo. Đừng bao giờ vác mặt đến
chỗ chúng ông nữa, chúng ông thì giết. Cút ngay về Rostov với mẹ thì tốt hơn.
Đánh đấm không phải là việc của bọn Do thái chúng mày. Đức Chúa trời chỉ dạy
chúng mầy buôn bán chứ chưa dạy chúng mầy đánh nhau. Không có chúng mầy, tự
chúng ông cũng làm xong mọi việc, cũng sẽ gỡ xong cái mớ bòng bong nầy.
Thằng Do thái không được nhận,
nhưng ngay hôm ấy trong những tiếng cười và những lời pha trò, bọn thổ phỉ đã
ghép thằng dở người Pasa nổi tiếng khắp các thôn của trấn Vosenskaia vào quân
số của trung đội hai. Bọn chúng bắt được nó trên đồng cỏ bèn giải về thôn rồi
long trọng mặc cho nó tất cả những thứ lột trên xác một chiến sỹ Hồng quân bị
giết, lại còn bày cho nó cách bắn súng trường và dạy nó rất lâu cách sử dụng
thanh gươm.
Grigori đang đi tới chỗ hai con
ngựa của chàng buộc ở cọc buộc ngựa thì thấy ngay cạnh đấy có một đám xúm đông
xúm đỏ bèn bước tới. Những tiếng cười rộ lên từng đợt bắt chàng phải rảo bước,
nhưng khi tất cả đã lặng đi, chàng nghe thấy cái giọng căn dặn cặn kẽ, từ tốn
của không biết tên nào:
- Không phải như thế đâu, Pasa ạ!
Ai lại chém như thế? Bổ củi thì có thể làm như thế được, chứ chém người thì không
thế được đâu.
Phải làm như thế nầy nầy, đã hiểu
chưa? Hễ cậu tóm cổ được đứa nào thì phải lập tức ra lệnh cho nó quì xuống, vì
để nó đứng mà chém thì không tiện… Khi nó đã quì xuống rồi, cậu sẽ đứng sau
lưng nó mà chém vào cổ nó như thế nầy nầy. Cố đừng chém thẳng, mà phải giật một
cái về phía mình, để lưỡi gươm chếch xuống.
Giữa những tên thổ phỉ vây vòng
trong vòng ngoài, thằng dở người đứng thẳng đườn đưỡn, hai tay nắm khư khư cái
cán thanh gươm tuốt trần. Nó mỉm cười nghe những lời chỉ bảo của gã Cô-dắc, cặp
mắt xám hum húp nheo lại sung sướng. Hai bên mép nó sủi trắng như mõm ngựa,
nước rớt nước rãi chảy ròng ròng từ bộ râu đỏ như màu đồng xuống ngực nó… Nó
liếm cặp môi nhớp nhúa rồi chít chớt nói ngọng nghịu:
- Tôi hiểu hết rồi, người anh em
thân mến ạ, hiểu tất cả rồi… Tôi sẽ làm đúng như thế… Tôi sẽ bắt thằng nô lệ
của Thượng đế quì xuống rồi thiến cổ nó đi… tức là sẽ thiến cổ nó đi! Các anh
đã cho tôi nào quần, nào áo sơ-mi, nào ủng. Nhưng tôi cần có áo bành-tô… Nếu
các anh cho tôi một cái áo bành-tô, tôi sẽ làm vừa ý các anh! Tôi sẽ đem hết
sức phục vụ!
- Cậu hãy khử một thằng chính uỷ
nào đó rồi sẽ có áo bành-tô. Nhưng bây giờ cậu hãy kể chuyện năm ngoái người ta
lấy vợ cho cậu như thế nào đã. - Một gã Cô-dắc bảo nó.
Một vẻ hoảng hốt như của loài thú
vật bỗng hiện lên trong cặp mắt của chàng dở hơi, hai con mắt mở trừng trừng
như phủ một lớp màng vẩn đục. Nó văng tục một thôi một hồi rồi bắt đầu nói
không biết những gì giữa tiếng cười rộ của cả bọn. Tất cả cái cảnh tượng ấy
đáng tởm đến nỗi Grigori run lên, vội vã bỏ đi.
"Mình đã đem vận mệnh của
mình gắn liền với những thằng như thế nầy đây!" - Chàng nghĩ thầm, trong
lòng tràn ngập một nỗi buồn bực, đau khổ và phẫn uất với chính mình, đối với
toàn bộ cuộc sống ô nhục nầy…
Chàng nằm xuống bên cạnh những
cái cọc buộc ngựa, cố tránh không muốn nghe những tiếng kêu của thằng ngớ ngẩn
và tiếng cười ầm ĩ của bọn Cô-dắc. "Ngày mai mình sẽ bỏ đi. Đã đến lúc
rồi?" - Chàng vừa quyết định như thế vừa ngắm hai con ngựa béo tốt, đã
hoàn toàn lại sức của mình. Chàng chuẩn bị rời bỏ bày thổ phỉ một cách tỉ mỉ,
có tính toán kỹ càng. Trên xác một người dân cảnh bị chém chết, chàng lấy được
những tờ giấy chứng minh mang cái tên là Usakov rồi đem khâu vào trong lần lót
áo ca-pốt. Từ hai tuần trước chàng đã bắt đầu sửa soạn cho hai con
ngựa chạy được một chặng ngắn hết sức nhanh. Chàng cho chúng uống nước đúng
giờ, tắm chải cho chúng cẩn thận hơn cả hồi đi lính trong quân đội thường trực,
và hễ đến chỗ nghỉ đêm là dùng đủ mọi cách chính đáng cũng như không chính đáng
để kiếm cho ra thóc. Vì thế cặp ngựa của chàng nom đẹp hơn tất cả những con
khác, đặc biệt là con ngựa xám đốm tròn giống Tavria. Toàn thân nó bóng nhẫy,
lông nó nhoáng lên dưới nắng như thứ bạc đen của vùng Kavkaz.
Cưỡi những con ngựa như thế nầy
thì có thể can đảm tháo chạy trước mọi cuộc truy bắt. Grigori đứng dậy bước tới
căn nhà gần đấy.
Chàng lễ phép hỏi bà già ngồi
trên ngưỡng cửa nhà thóc.
- Cụ có cái hái không thưa cụ?
- Cũng có đấy. Nhưng ôn dịch nào
biết được nó ở đâu rồi. Nhưng anh hỏi làm gì thế?
- Cháu muốn cắt ít cỏ trong vườn
quả nhà cụ cho hai con ngựa. Có được không cụ?
Bà già ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
- Thế bao giờ các anh mới thôi
không ngồi lên đầu lên cổ chúng tôi nữa? Lúc thì đòi cái nầy, lúc thì đòi cái
kia… Bọn nầy kéo đến đòi thóc, bọn kia kéo đến lại vơ vét tất cả những thứ gì
nhòm ngó thấy. Tôi không cho anh mượn cái hái đâu! Anh muốn thế nào thì muốn,
chứ tôi không cho mượn đâu.
- Sao lại thế, bà cụ của Thượng
đế chỉ có ít cỏ mà cụ cũng tiếc hay sao?
- Thế chẳng nhẽ theo anh thì cỏ
nó từ chỗ vô thiên vô địa mọc lên đấy chắc? Rồi tôi sẽ lấy gì cho bò ăn bây
giờ?
- Trên đồng cỏ thì thiếu gì cỏ?
- Vậy thì anh cứ ra ngoài ấy mà
lấy con chim ưng nầy. Ngoài đồng cỏ nhiều lắm.
Grigori nói giọng bực bội:
- Bà cụ ạ, tốt nhất cụ hãy cho tôi
mượn cái hái thì hơn. Tôi chỉ cắt một ít thôi, còn thì để cho cụ, nếu không tôi
mà cho mấy con ngựa vào thì chúng nó sẽ dẫm nát hết cho mà xem?
Bà già nhìn Grigori với ánh mắt
rất gay gắt rồi quay đi.
- Anh tự vào trong ấy mà lấy,
hình như dưới nhà kho ấy.
Grigori xuống nhà kho tìm thấy
dưới mái hiên một cái hái cũ đã hoen rỉ và đến khi qua chỗ bà lão ngồi, chàng
nghe rất rõ thấy cụ nói: "Cái bọn đáng nguyền rủa, sao chúng mày chẳng
chết tử chết tiệt cả đi!". Grigori vẫn chưa quen với những chuyện như thế
nầy. Từ lâu chàng đã nhận thấy rằng dân chúng các thôn đón tiếp bầy thổ phỉ của
chàng với tinh thần như thế nào: "Kể ra họ nghĩ cũng đúng. - Chàng vừa
nghĩ thầm vừa vung cái hái rất cẩn thận, cố cắt thật gọn không để sót chỗ nào.
- Họ cấn đến bọn mình làm quái gì? Chẳng có ai cần đến bọn mình. Bọn mình quấy
nhiễu tất cả mọi người, không để cho họ yên ổn sinh sống làm ăn. Phải chấm dứt
cái trò nầy thôi, đủ lắm rồi!"
Đầu óc chìm trong những ý nghĩ
của mình, chàng đứng bên cạnh hai con ngựa, nhìn chúng đưa những cặp môi đen
mịn như nhung ngốn lấy ngốn để những nắm cỏ non mịn màng. Một giọng trầm trầm
đang vỡ tiếng của một thằng chưa thành niên bỗng kéo chàng ra khỏi những phút
trầm ngâm.
- Con ngựa đẹp ra đẹp, thật y như
con thiên nga!
Grigori nhìn về phía có tiếng
nói. Một thằng Cô-dắc còn trẻ. Dân Alekseevkaia vừa đi theo bầy thổ phỉ chưa
được bao lâu đang ngắm con ngựa xám, đầu lắc lắc một cách thán phục. Nó chặc
chặc lưỡi đi quanh con ngựa như bị lấy hết hồn vía.
- Của bác đấy à?
- Nhưng việc gì đến mày? - Grigori
trả lời một cách thô bạo.
- Bác đổi cho cháu nhé! Cháu có
một con hạt dẻ, thuần giống sông Đông. Vật chướng ngại nào nó cũng vượt qua
được, mà chạy thì rất nhanh, nhanh ra nhanh! Cứ như tia chớp ấy.
- Cút mẹ mày đi! - Gìọng Grigori
lạnh như tiền.
Thằng kia nín lặng một lát, thở
dài đau khổ ra ngồi gần đấy. Nó ngắm con ngựa xám rất lâu rồi nói:
- Con ngựa của bác thở to quá.
Nghe cứ vương vướng thế nào đấy.
Grigori lặng thinh cầm một cuộng
cỏ xỉa răng. Chàng bắt đầu thấy thích thằng thiếu niên ngây thơ nầy.
- Bác không muốn đổi hả bác? - Nó
nhìn Grigori bằng cặp mắt van lơn, khẽ hỏi.
- Không đổi đâu. Đem cả mày ra
cược thêm tao cũng không đổi.
- Nhưng bác kiếm đâu ra con ngựa
nầy thế?
- Tự tao làm ra nó đấy.
- Không, nhất định không phải
thế!
- Tất cả mọi thứ đều chui từ cái
cửa ấy ra hết: ngựa mẹ lại đẻ ra ngựa con.
- Tự nhiên lại thừa hơi nói
chuyện với một thằng ngu xuẩn như thế nầy. - Thằng thiếu niên bực mình bỏ đi
chỗ khác.
Cái thôn nằm dài trước mặt
Grigori, vắng ngắt và như đã chết rét.
Ngoài bọn lâu la của Fomin, bốn
bề chẳng thấy một ma nào. Chiếc xe bò nằm chỏng gọng trong ngõ, cái bệ bổ củi
giữa sân với chiếc rìu cắm vội trên đó và vài tấm ván đẽo dở nằm dài bên cạnh,
vài con bò mộng không có người chăn lười nhác rứt những đám cỏ thấp lè tè mọc
giữa đường phố, chiếc thùng lật ngược bên cạnh khung thành giếng, tất cả đều
nói lên rằng cuộc sống hoà bình trong thôn đang trôi như một dòng nước thì bất
thần bị phá rối và những người chủ nhà đã vứt bỏ công việc đang làm dở để lẩn
trốn vào nơi nào đó.
Cái cảnh thê lương nầy, Grigori
đã từng thấy hồi các trung đoàn Cô-dắc tiến qua miền Đông Phổ. Nhưng bây giờ
chàng lại chứng kiến cái cảnh ấy ngay trên mảnh đất thân yêu… Hồi ấy người dân
Đức đã đón tiếp chàng với những cặp mắt âm thầm và căm hờn như thế nào thì dân
Cô-dắc vùng thượng lưu sông Đông cũng nhìn chàng với những cặp mắt như thế. Nhớ
lại chuyện vừa nói với bà già, Grigori cởi khuy cổ chiếc áo sơ-mi, buồn rầu đưa
mắt nhìn quanh. Và tim chàng lại bị một cơn đau nhói đáng nguyền rủa.
Mặt đất bị rang bỏng dưới nắng.
Trong ngõ nồng nặc mùi bụi nhạt thếch, mùi tân lê và mùi mồ hôi ngựa. Trong
những vườn quả bên cạnh thôn, có tiếng quạ kêu quang quác trên những cây liễu
cao đầy những tổ chim lờm xờm. Con sông nhỏ trên đồng cỏ được tiếp nhận những
luồng nước nguón ở nơi nào đó trên thượng lưu, từ từ chảy qua thôn, cắt cái
thôn làm hai. Những ngôi nhà Cô-dắc rộng thênh thang như trườn tới hai bên bờ,
nhà nào nhà nấy đều có những mảnh vườn rậm rạp với những cây anh đào che các
cửa sổ, những cây táo cành đâm ngang dọc, vươn lên ánh sáng những đám lá xanh
rờn và lớp quả non mới nhú.
Grigori đưa cặp mắt như phủ một
lớp mù nhìn cái sân mọc đầy cỏ dại loăn xoăn, căn nhà mái rơm với những cửa
chớp sơn vàng, cái cần kéo nước giếng cao ngất… Bên cạnh sân đập lúa có một cái
sọ ngựa cắm trên cái cọc của dãy hàng rào cũ. Cái sọ được nước mưa rửa trắng
bong, với hai hố con mắt sâu hoắm đen ngòm. Một dây bí ngô leo trôn ốc lên đúng
cái cọc ấy, cố vươn lên ánh sáng. Dây lá leo lên tới đầu cọc, vươn những cái
tay lồm xồm bám vào những chỗ xương lồi ra, vào những cái răng của con ngựa
chết, ngọn bí quá dài thòng xuống tìm chỗ bám và vươn tới một bụi tuyết cầu mọc
ở gần đấy.
Tất cả những cái ấy Grigori đã
từng nhìn thấy, trong giấc mơ hay hồi còn thơ ấu? Bất thần bị tràn ngập bởi một
cơn đau khổ buồn nhớ, chàng phải nằm sấp xuống dưới chân dãy hàng rào, đưa hai
tay úp lên mặt và chỉ đứng dậy khi từ xa có tiếng hô kéo dài: "Thắng
ngư-ư-ựa!". Đến đêm, trong khi hành quân, chàng ra khỏi hàng, dừng lại như
để sửa lại cái yên cho con ngựa. Chàng lắng nghe những tiếng vó ngựa rầm rập xa
dần, nhỏ dần rồi nhảy phắt lên yên cho con ngựa phóng nước đại sang bên cạnh
con đường.
Chàng thúc ngựa chạy một mạch
chừng năm vec-xta rồi cho nó chuyển sang bước một, lắng nghe xem phía sau có ai
đuổi theo không? Đồng cỏ vẫn lặng tờ. Chỉ có vài con dẽ giun gọi nhau ai oán
trên những cồn cát và ở chỗ nào xa lắm, xa lắm vẳng có tiếng chó sủa.
Bầu trời đen kịt lấm tấm những
ngôi sao nhấp nhánh vàng óng. Trên đồng cỏ chỉ có bầu không khí tĩnh mịch và làn
gió nặc mùi ngải cứu hắc hắc thân yêu… Grigori rướn người trên bàn đạp, hít một
hơi đầy lồng ngực, nhẹ nhõm cả người…

