13. Miền đất hoa vàng (Phần 2)

Yơng bảo: “Nguyên vô làng mời mọi người ra ủy ban làm việc”.
Nhà Yơng nghèo thật nghèo, quanh cái bếp cháy xém đen đúa chỉ một đôi cái nồi
sứt quai. Ông già vẫn không rời tẩu thuốc khỏi miệng, chỉ thấy từng hơi khói
mệt nhọc trôi qua phía đỉnh đầu. Yơng lặng lẽ ra ngoài, từ trong những ngôi nhà
bắt đầu tiếng chân lịch bịch, tiếng người í ới gọi nhau. Yơng về lại làng. Yơng
đem cán bộ đến giới thiệu với dân làng. Thế thì đàn ông phải đến, đàn bà phải
đến. Những ghè rượu được đặt giữa nhà Yơng. Tôi như lịm đi trong thứ nước cay
dịu, say dịu và ngọt mềm như những vòng tay người. Người ta hỏi han, chúc tụng
Yơng. Tôi nhìn thấy ánh mắt Yơng chợt như đờ dại, chợt như hằn lên những nỗi
buồn âm u như men rượu. Yơng uống rất nhiều, Yơng hát những bài ca mang mang
buồn, bài ca tình gần, bài ca tình xa. Yơng không say rượu. Giữa lơ mơ thức
tỉnh, giữa những lần vít cần và những khói thuốc chờn vờn, tôi vẫn thấy Yơng
ngồi hát. Hát mê mải. Nước mắt Yơng lặng lẽ chảy. Trong vắt. Không giống nước
sông Pôkô.

Tôi bắt đầu buổi nói chuyện, kế hoạch tuần đầu thực tập là
tôi phải gặp gỡ bà con, trò chuyện và lắng nghe ý kiến từ mỗi buôn làng. Tôi
nói chuyện, những kiến thức ngờ nghệch qua những lát cắt vụn vặt từ vài tài
liệu, vài đoạn báo khiến những câu nói khá rời rạc và ngập ngừng. Yơng đứng
dậy. Anh dịch ra tiếng Ja- rai, khiến những gương mặt ngơ ngác sáng bừng lên.
Rồi mọi người quay qua tôi, hỏi đủ thứ chuyện. Đại loại là những thắc mắc về
chế độ dây thép gai, tại sao nói cho để rào vườn trồng cà phê mà chưa có? Tại
sao nhà Puih Năm được hai chục ký gạo nhà tôi chỉ được mười lăm ký... Trong số
ấy có cả những kẻ vượt biên, bị nhốt thành tù binh trong cải ảo vọng của đất
lạ, rồi lại quay về. Khá mệt mỏi, mắt họ cắm cúi xuống sàn nhà. Tôi nói với
Yơng, cần phải nói cho họ hiểu tất cả. Yơng kêu mọi người im lặng. Lúc này tôi
nhìn thấy Yơng trong một trạng thái mê say kỳ lạ. Anh đã thành thục với cách
nói chuyện thế này từ rất lâu rồi. Mọi người ồ lên, có ai đó vít cổ Yơng xuống,
những cái ôm hôn rất chặt. Và lại uống. Trong góc nhà, vợ Yơng đang ôm con ngủ.
Chị nhìn Yơng, ánh mắt ấp ủ như lửa nhỏ. Tôi nhìn đứa bé trên tay chị, nó không
mang bóng dáng nỗi buồn Yơng.

***

Ngày…

Hôm nay lớp học về sớm. Mình biết bọn trẻ sẽ rất khó chịu
khi trong buôn đang có lễ Pơthi. Nghỉ sớm. Nói chung là mình cố hoàn thành bài
giảng cho tốt. Mình chẳng có kinh nghiệm gì, biết sao nói cho chúng dễ hiểu là
xong. Cô bé áo xám lớn nhất lớp nhưng học khá nhất lớp. Giá có một trường học ở
đây, giá như cô bé được đến trường sớm hơn. Hay là mai mình vào nhà mình vận
động. Biết đâu bố mẹ cô bé lại ưng bụng cho về huyện học tiếp. Mình biết cô bé
rất mê Toán. Nếu về đó, cô sẽ rất khá. Mình thương cô bé, cuộc sống vất vả khiến
cô bé già đi rất nhiều so với tuổi. Những đốt tay chai sần, những tuổi đời vụn
đi theo những mùa lên rẫy. Nhưng mình chẳng làm được gì. Chỉ một tháng nữa,
trường học sẽ mở ở đây. Mình sẽ về. Ra quân mình sẽ làm gì? Mẹ viết thư bảo, cứ
về với mẹ, mọi thứ đã xong xuôi cả. Xong xuôi – với mẹ thì mọi thứ đều có thể
dễ dàng xong xuôi.

Ngày…

Cô bé áo xám bảo, thầy ơi, có thể chị gái em sẽ chết trong
đêm nay. Làm sao mà chị lại chết? Thầy không biết được đâu. Ba tháng trước chị
ấy đã bị đuổi vô rừng rồi. Chị ấy mang bầu. Làng bảo đó là con ma lai. Làng
không có đất cho chị ấy nữa. Chị ấy chết thôi, sắp sinh rồi… Mình chạy theo cô
bé áo xám. Chạy gần hết chiều mới tới con suối ấy, con suối lạnh tanh không
người. Tiếng vo ve dài, tiếng trái rụng lẫn vào tiếng gió rớt qua những vòm lá.
Tràn vào đó là tiếng réo ma quái của rừng già. Hun hút, âm u và đầy bất trắc.
Cô bé hú dài, tiếng hú xa vời. Đáp lại là một tiếng hú gấp gáp nhưng yếu ớt ở
phía sau ghềnh đá. Mình lao đến. Dường như người phụ nữ ấy cực kỳ hoảng loạn.
Cô ta định vùng dậy chạy. Đúng lúc đó có tiếng trẻ nhỏ. Mình giật thót. Một cảm
giác quái lạ ập đến. Có cái gì như sự ớn lạnh. Mình đã nghe tiếng trẻ nhỏ bao
giờ nhỉ? Cái tiếng khóc rạch trời lảnh lót. Mình giật áo ra, bọc lấy cái mầm
sống đang quẫy đạp bên ghềnh đá, cắt riêng cho nó một cuộc đời. Oe oe khóc, nó
gợi nên trong ánh mắt người mẹ một nỗi thèm khát về một mái làng. Phải, giá mà
cô ta có một mái làng, một vuông sàn để sinh nở, một bầu nước để lau rửa cho
con. Mình hỏi cô bé áo xám: “Có cách gì đưa chị em về nhà được không”. Áo xám
khóc: “Em không biết. Làng đã đuổi đi rồi mà. Nó sẽ chết thôi”. Mình rất sợ,
mình chưa bao giờ phải trực diện với cái chết. Mình vốn được cuộc đời hào phóng
ban phát một đời sống bằng phẳng và lành sạch. Mẹ vẫn bảo mình, đi bộ đội cho
nó cứng cáp lên. Thì cứng cáp. Nhưng đối diện với những khoảnh khắc mong manh
thế này…

Ngày…

Từng đám lửa đỏ rực, cái màu hừng hực hằn lên trên mỗi ngọn
đuốc. Sân nhà rông như một vầng lửa khổng lồ, sẵn sàng thiêu rụi mọi ý chí phản
kháng. Mình nhìn những ánh mắt dò xét. Những đứa trẻ ngày ngày lên lớp gọi mình
trìu mến “thầy ơi” giờ đây đang chằm chằm chờ lời phán xét của già làng. Tiếng
chiêng gõ, tiếng trống dồn. Những đôi mắt mở lớn. Và những điếu thuốc sâu kèn
thật lớn.

Mình nhìn thấy cô ta với ánh mắt kinh hoảng và da mặt xanh
nhợt. Cô ta không dám ngẩng đầu, ôm khư khư đứa bé. Và tiếng khóc của nó đã bật
tung mọi ý nghĩ. Dân làng bắt đầu hỏi tội. Lại khóc. Lại cúi mặt. Và bỏ chạy.
Có ai đó hét lớn: “Giữ nó lại! Giữ lại”. Không thể chạy. Cô ta lại ngồi xụp
xuống gốc pơ lang ngập tràn màu hoa đỏ rớt. Một khoảng lặng nghẹt thở giữa hừng
hực kìm nén. “Ai?Đứa nào?” - có đôi tay thô bạo giật tung đứa bé trong tay
người mẹ yếu ớt đến thảm hại. Tiếng trẻ nhỏ la hét không ngớt. Và đầu óc mình
như bị sét đánh. Mình nhìn trân trối vào đám người đang huơ cao ngọn đuốc. Cô
ta đã ngất lịm. Bố cô ta cũng ngất lịm. Mình không thể nào làm khác được.

***

Tôi đã trở thành thân quen với các buôn làng. Những cụ già,
em nhỏ, những cô gái xà rông thổ cẩm ánh mắt như nắng lấp lánh cười. Cuộc sống
từ mỗi buôn làng phả lên cái mùi hoang sơ và dân dã. ở xứ này người ta chưa
nghĩ tới việc phải lao lư kiếm thật nhiều tiền và chờ đợi quá nhiều vào những
ước vọng xa xôi. Mỗi đứa trẻ ở đây sinh ra được gội dưới dọt nước nguồn, được
khóc giữa trời cao đất rộng, giữa bạt ngàn rừng đồi và được lớn lên bằng một
mạch nguồn của đất. Chúng mang màu da vàng au như mật và khoẻ mạnh như những
chàng Đam San với những cánh cung vút tên bạt gió.

Khương lên thăm tôi. Một tháng ròng với những món ăn đặc
quánh của mùa khô khiến tôi thèm một bữa cơm của mẹ với món canh dưa truyền
thống. Khương mang lên rất nhiều thứ, rau quả và những đồ vặt lỉnh kỉnh khác.
Vẫn là một tá dao cạo râu cho Yơng. Và Yơng lại lặng lẽ nhận lấy. Không vui và
không buồn. Khương ở lại ủy ban, bắc bếp nấu cơm. ủy ban ngày chủ nhật mọi
người rủ nhau vào rừng săn thú, chỉ còn tôi và Yơng đang ngập đầu trong những
con số mà phải mất khá nhiều ngày tôi mới tính toán lại được. Đó là một phần
công việc trong chuyến thực tập. Tôi hỏi Yơng: “Xưa anh học lớp bao nhiêu?”.
Yơng nhìn tôi, rồi lại hút thuốc: “Biết cộng trừ là được rồi, học nhiều cũng
chẳng làm được gì”. Tôi bảo: “Có bao giờ anh đi qua thành phố?”. “Ở đó chẳng có
gì vui. Tôi ở đây lâu, đã quen”. Người ta quen đi khi cuộc sống vốn được bắt
đầu như thế này, từ lúc đứa trẻ biết hình thành ý nghĩ.

***

Ngày…

Luôn là bộn bề những suy nghĩ trong những ngày tháng đầu
tiên ở lại với làng. Mình hoảng sợ khi nghe ai đó gọi tên mình, nghe tiếng bước
chân lạ bậm bịch nơi cầu thang. Mình ngồi đó, bây giờ thì mình có thể hút mấy
điều sâu kèn mà không choáng váng. Mình đã vậy rồi, bộn bề râu tóc. Tay áo mình rách toạc khi đi rẫy. Bàn chân mình chai mốc
khi đánh lưới ngoài sông. Thơ ấu của mình đi mất. Cuộc đời là cái gì mà mình
lại hậm hực sống thế này?

Lại một đêm mình không ngủ. Thành phố vẫn còn le lói trong
những nỗi nhớ không tắt được. Và những tháng ngày ồn ã đơn vị với bè bạn và
những lá thư. Cả bạn nữa. Từ khi rời quân đội mình không liên lạc với bạn. Phải
chi một phần trí nhớ được biến mất, mình sẽ sống trơn tru, sống như cây kơnia
yên lặng trên những lối về làng.

Mình gục đầu bên bếp. Những gốc lửa đã vạc dần, gió hắt lại
lay phay những đốm đỏ nhè nhẹ. Đêm trong làng tĩnh lặng, tiếng chim đêm tác
vọng nghe xa xăm buồn. Có tiếng trở mình khe khẽ. Và một cái gì rất nhẹ, ấm mềm
khẽ rủ xuống vai mình. Đừng khóc nữa. Phải sống, thế thôi. Từ sâu thẳm trong
lồng ngực, mình nén lặng một tiếng thở dài...

***

Trong tôi vẫn thường trực những ý nghĩ về Yơng, về cuộc sống
kỳ lạ của những đứa trẻ xứ này. Chúng được sinh ra, lăn lóc lớn lên, rồi lại
vội vã ngụp mặt vào đời sống vợ chồng và bề bộn sống, sinh đẻ trong lam lũ. Vậy
mà, khi họ hát, họ nhảy múa, cuộc sống bỗng trở nên rộn rã và đầy khát
khao…Yơng đã lặng lẽ bỏ đi từ khi nào. Khương đang quạt bếp, khói hoay hoả đỏ
gay con mắt. Khương bảo: “Trong này buồn lắm, phải không?” Tôi cười: “Dần dà
rồi cũng quen”. “Khi nào ra ngoài Bắc, anh cho Khương gửi chút quà về nhé. Hà
Nội mùa này có gì nhỉ? Em thèm được một buổi chiều đi xe đạp bên hồ Gươm. Ngày
xưa…”. Khương nói lửng vậy rồi thôi, khói làm cay xè con mắt. Tôi nhìn quanh,
thấy trên hiên nhà rông, Yơng im lặng làm việc, anh cộng trừ những con số một
cách tỉ mỉ và kỹ lưỡng. Không có chút gì đặc biệt từ Yơng. Tôi nhìn Khương. Cô
như đang bị một góc phố hay một con đường nào đó cuốn lấy. “Quà cho bồ à?” –
tôi hỏi. “Không, mẹ em vẫn còn ở đó. Nhà em ở tập thể Thanh Xuân Bắc”. “Ờ, cũng
gần”. “Ngày xưa Khương học trường nào?” “Quang Trung. Ông thầy em dạy Toán phát
buồn ngủ. Nhưng mà kể chuyện tiếu lâm lại vui. Ngày ấy buồn cười, em cứ nhất
mực thi vào trường anh đấy, trượt vỏ chuối, may lại đỗ vớt vào trung cấp cảnh
sát”. “Vào đây mình thấy Khương có vẻ hợp đấy”. Bỏ lại những con số, Yơng nằm
võng hút thuốc sâu kèn. Mùi thuốc khét lẹt. Tôi và Khương đi dạo. Đã bắt đầu
cạn mùa khô. Từng đám khói đốt rẫy bốc cao ngất. Khương bảo, anh thấy nơi này
thế nào? Tôi bảo, cũng chẳng có gì đặc biệt. Mình chỉ đi thực tập. Khương lại
hỏi, thế nếu vì một ai đó, một cô gái chẳng hạn, anh có định tình nguyện ở lại
không? Tôi chưa nghĩ tới tình huống này. Lũ chúng tôi bị thành thị cuốn hút đến
mức, mọi ngõ ngách của phố xá cũng đã là những kỷ niệm sâu đậm. Và tiện nghi.
Và những thói quen…

Nhưng Khương là một người can đảm. Có cảm tưởng như sức sống
của cô đã khuất phục được cái thời tiết nghiệt ngã mưa nắng của vùng đất này.
Nắng đỏ au. Mưa dầm dề. Cô vẫn phơi phới sống. Đi cùng tôi trong rừng bằng lăng
trắng, cảm giác như Khương đã thuộc về miền đất này. Cô say sưa nói về công
việc của mình, những dự định sẽ làm. Cái xã biên giới này làm cho cô phải lặn
lội khổ sở nhiều. Nhưng chính cô lại bị mê hoặc. Cô có thể say sưa hát những
bài dân ca mà cô đã nghe, đã thuộc. Cô lôi bọn trẻ trong làng ra suối, lột vỏ
bánh xà bông và chà sát tới thơm tho những cái đầu râu ngô cháy nắng… Khương
chỉ cho tôi một đỉnh rừng đầy những đốm hoa rất lạ, nở trong những ngày khốc
liệt của thần lửa. Những đốm hoa rực rỡ, càng nắng lớn càng khoe sắc tươi. Tôi
tìm lối bẻ hoa cho Khương. Những cánh hoa rất dày, thơm khắc khoải. Chúng tôi
ngồi lại trên một thảm cỏ nhỏ, giữa rừng. Ngồi rất gần Khương, tôi chợt nhận ra
cô có một vẻ đẹp kỳ lạ, lặng lẽ và nền nã. Tôi nhìn Khương. Chúng tôi nhìn
nhau. “Khương đẹp thật” – tôi buột miệng. Khương ngỡ ngàng: “Anh cũng biết tán
gái rồi đấy à?”. Tôi không nói được. Có một cảm giác lạ đột ngột xuất hiện.
Khương bối rối thực sự. Tôi cầm tay cô, rất nhẹ, kéo Khương về phía mình. Loài
hoa lạ lùng, khắc khoải thơm.

***

Ngày…

Biết nói với bạn thế nào nhỉ? Thành phố, đường về sao mà
dài. Mình có buồn không nhỉ? Bạn là bạn. Bạn đã sống khác mình. Rất khác.

Mình có khao khát bữa cơm của mẹ không nhỉ?Chắc mẹ vẫn ngồi
đó mất, nắng chiếu dài qua khung cửa. Phố chắc là vẫn dài như cũ. Anh em trong
đơn vị hầu như đã ra quân cả. Hôm khoác ba lô lên vai cho anh Trung, anh Trung
khóc mà bảo: “Tiếc cho mày lắm, nhưng mà thôi, cố lên”. Mình có tiếc không nhỉ?
Tiếc thì bỏ về đi, chẳng ai đi tìm được mình đâu. Mình chả đã từng vậy rồi sao?
Tại sao cô ấy lại im lặng? Tại sao nó lại oà khóc đúng lúc mình dợm bước xuống
cầu thang. Mình nhìn ông già vợ, ông ngồi trên nhà dài mái tóc bạc xóa và nỗi
buồn nêm kín cả khuôn mặt. Ông bảo, muốn đi phải không? Đi nhanh lên, không thì
làng sẽ phạt đấy. Mình đi ra đầu làng, thấy mái nhà rông cao vút. Mái nhà rông
mang khát vọng của những người đàn ông dũng mãnh, kiên cường. Mình bỏ cái nhà
này, nhà chỉ toàn đàn bà thôi. Mình quay lại, ngồi bệt trên cầu thang. Tại sao
mà mình lại khóc?…

***

Rồi thì cũng đên bữa cơm muộn màng. Tôi cảm thấy thật ngon
lành. Chúng tôi ngồi ăn, nói chuyện về những cơn mưa sắp tới. Khương bảo, cố
gắng ăn đi, bù đắp những ngày chịu cực và đói. Tôi cười, lúc nào cũng như thế
này thì thích thật. Yơng lầm lũi ăn, hệt mọi lần. Rất hiếm khi tôi thấy những
dấu ấn khác lạ trên mặt Yơng. Anh có một vẻ ngoài phẳng lặng đến mức, đôi khi
tôi ngỡ anh thờ ơ với tất cả. Và những gì anh làm, anh cần mẫn giống như một
thói quen. Đến chiều thì Khương xuôi. Tôi đưa cô ra ngoài ngã tư. Chiếc xe máy
vẫn lao nhanh và đường chưa hết bụi. Đến ngã tư, xe dừng lại. Khương đặt tay
lên vai tôi, cười: “Anh chẳng thể hiểu được đâu”.

Tối đến trời bức bối. Không một đọt gió thoảng. Chúng tôi
ngồi ngoài sân nhìn những đám sao dày đặc. Yơng hút thuốc liên tục. Rồi như
không kìm được, Yơng nói như quát lên: “Mày yêu Khương thật lòng không?”. Tôi
giật mình: “Thật ra là có chuyện gì vậy?”. “Mẹ kiếp! Chuyện gì? Mày yêu thật
không?”. Tôi không nói, dợm bước bỏ đi. Yơng là ai, là cái gì để can thiệp vào
chuyện của tôi, chuyện của những người con gái con trai chưa bị những vòng xoáy
hôn nhân ràng buộc? Yơng ở một khoảng rất xa kia mà. Yơng kéo giật tay tôi lại,
quỳ gục xuống: “Tao xin mày đấy, thằng khốn. Tao biết mày chỉ tạm bợ, thoáng
qua. Đồ tồi!”. Yơng khóc rống lên như một đứa trẻ. Còn tôi thấy mặt mình rát
lên như vừa bị táp lửa. Cũng không biết vì sao đến mãi về sau khi viết những
dòng này tôi vẫn trĩu buồn.

***

Ngày…

Mình đã thành cây của đất này. Mình sẽ chẳng ghi nhật ký
nữa. Buồn lắm. Mình biết, cần phải quên đi. Nhưng mình cũng biết, dẫu có thế
nào, thì đó cũng là tình yêu.

***

Mùa mưa đến thật bất ngờ. Sau khi đốt rẫy chừng nửa tháng,
trời vần vũ mây mang nặng trĩu hơi ẩm. Và đến khi không khí như đặc quánh đến
nghẹt thở thì ầm ào sấm mang đến những cơn mưa. Mưa vắt qua những triền rừng,
lấp đầy những kẽ đất nở toác vì khô hạn. Buôn làng nhìn mưa, vui như hội. Chờ
cho mưa thấm, người người đi rọn rẫy và bắt đầu vào vụ mới. Tôi vẫn phải hoay
hoả với những phần cuối của chương trình thực tập. Những đối tượng trốn chạy
qua biên giới lặng lẽ trở về, ra trình diện với chính quyền. Lại phát gạo, cho
muối, đưa thuốc diệt sốt rét vào làng. Lại tiếp tục đi vận động bà con dọn
làng, trồng rẫy mới. Yơng vẫn cùng tôi giải quyết mọi chuyện, lặng lẽ như người
giúp việc. Tôi im lặng rất nhiều và những cuộc viếng thăm của Khương cũng thưa
đi. Những dòng cuối cùng ấy tôi đọc vụng trộm khi sắp xếp tài liệu, chuẩn bị
rời Tây Nguyên, kết thúc đợt thực tập. Yơng có vẻ như hơi buồn khi tôi nói tôi
sắp trở ra. Anh đưa cho tôi bó thịt nai khô: “Có tính trở lại đây không?” Tôi
nhìn sững Yơng. Tôi giống như con chim trong lồng chuẩn bị được thả tung vào
trời gió, biết bao là ao ước, biết bao là dự định, mà nào đã dám chắc điều gì.
Tôi bảo: “Tôi sẽ rất nhớ nơi này”. Yơng nhìn tôi lâu lắm: “Cậu đã đọc tất cả,
nhưng tôi chẳng giận. Xứ này chẳng có gì vui thú. Những ngày qua thật buồn
chán, phải không?”…

Sau những cơn mưa đầu tiên, một sớm mai tỉnh dậy mới thấy sự
kì diệu mà thiên nhiên đã tạo dựng cho cuộc sống ở nơi này. Những vạt đất trơ
trọi hôm nào, chỉ mới sau vài ngày cỏ đã mọc xanh mướt mát. Và những loài cây
lớn bé như chỉ chờ đợi hết cơn khát là vội vã vươn lên. Mảnh đất này thật kỳ
lạ, đến khi sắp rời xa tôi mới chợt nhận ra nó vẫn là một khoảng bí mật. Lẫn
vào trong sự đẹp xinh của đất và cây là sự bạo liệt và giản đơn đến không ngờ.
Hệt như Khương…

Gia Lai 2001

Hà Nội 4/2003

Báo cáo nội dung xấu