Đời ảo - Chương 31 - 32 - 33
31
Bọn an ninh có thể tới bất cứ lúc nào. Có
lẽ lý do duy nhất họ còn chưa lên đây là vì vào cuối tuần, nhân lực ít
hơn ngày thường.
Tôi lao ra cửa, đâm sầm vai vào thanh chốt, và cửa không mở được. Cú va chạm đau thấu trời.
Tôi lại thử lại; cửa đã bị chốt khóa. Ôi Chúa ơi. Tôi thử một cửa khác, và cả nó cũng bị khóa từ bên trong.
Giờ
thì tôi nhận ra tiếng cạch kim loại vui tai một hai phút trước là gì -
khi mở ngăn hồ sơ, tôi hẳn đã làm khởi động một loại cơ chế nào đó khiến
tất cả cửa ra khỏi khu vực này đều tự động bị khóa lại. Tôi chạy tới
bên kia tầng, phía đó có một hệ thống cửa ra khác, nhưng chúng cũng
không mở được. Thậm chí ngay cả cửa thoát hiểm khẩn cấp phòng hỏa hoạn
dẫn ra cầu thang nhỏ phía sau cũng bị khóa, và điều này hẳn vi phạm nguyên tắc.
Tôi bị mắc kẹt như con chuột trong mê cung. Giờ thì bảo vệ hẳn sẽ có mặt bất cứ lúc nào, và họ sẽ lục soát khu vực.
Đầu
tôi quýnh quáng lên. Tôi có nên bịa ra gì đó với họ không? Stan, người
bảo vệ đã cho tôi vào - có lẽ tôi có thể thuyết phục hắn rằng tôi vô
tình bước vào nhầm khu vực, mở ra nhầm ngăn tủ. Hắn có lẽ có cảm tình
với tôi, có thể tôi sẽ làm được. Nhưng nếu như hắn lại thực sự thẳng tay
làm nhiệm vụ thì sao, đòi xem thẻ của tôi và thấy tôi chẳng thuộc về
nơi nào gần chỗ này?
Không, tôi không thể mạo hiểm. Tôi không còn lựa chọn, phải trốn thôi.
Tôi bị mắc kẹt bên trong.
“Mắc kẹt giữa bốn bức tường này,” nhóm Wings gào lên kinh tởm trong tôi. Chúa ơi!
Ánh
đèn xenon nhấp nháy chớp từng hồi, sáng chói mắt, và chuông báo động cứ
kêu hoét, hoét, cứ như thể chỗ này là lò phản ứng hạt nhân trong vụ tan
chảy lõi lò vậy.
Nhưng tôi biết trốn ở đâu bây giờ? Tôi
cho rằng điều đầu tiên nên làm là tạo ra cái gì đó làm chệch hướng, một
lời giải thích hợp lý và vô hại cho tiếng chuông báo động. Cứt thật,
không đủ thời gian!
Nếu tôi bị bắt ở đây, chuyện thế là xong. Mọi
thứ. Tôi không chỉ mất việc ở Trion. Tồi tệ hơn nhiều. Sẽ là một thảm
họa, một cơn ác mộng thực sự.
Tôi vớ lấy sọt rác bằng kim loại gần
nhất. Nó trống không, vì vậy tôi vớ lấy một mẩu giấy ở gàn bàn, vo tròn
lại, rút bật lửa ra đốt. Tôi chạy quay lại hốc tường chứa hồ sơ bí mật
và đặt nó ở gần tường. Rồi tôi rút một điếu thuốc lá trong bao thuốc của
mình ra và vứt chung vào trong sọt rác. Giấy bén lửa, cháy bùng lên,
tạo ra một đám khói lớn. Có lẽ nếu một phần mẩu thuốc lá được tìm thấy,
người ta sẽ đổ lỗi cho đầu thuốc còn cháy âm ỉ. Có lẽ.
Tôi nghe thấy tiếng những bước chân ồn ào, những giọng nói dường như phát ra từ cầu thang phía sau.
Không, xin Chúa. Hết cả rồi. Hết cả rồi.
Tôi
nhìn thấy cái gì đó như cửa buồng để đồ. Nó không bị khóa. Đằng sau là
kho vật phẩm, không rộng lắm, nhưng có lẽ sâu khoảng gần bốn mét, xếp
chật những giá cao toàn ram giấy và những thứ như thế.
Tôi không
dám bật đèn lên nên khó mà nhìn rõ, nhưng tôi thấy được một khoảng trống
giữa hai giá ở đằng sau, có lẽ tôi sẽ ép được mình vào trong.
Tôi chỉ vừa đóng được cửa lại sau lưng thì nghe thấy tiếng một cánh cửa khác bật mở, và rồi những tiếng la hét nghèn nghẹt.
Tôi cứng cả người. Chuông báo động vẫn reo. Người ta chạy tới chạy lui, hét càng to hơn, gần hơn.
“Đằng này!” ai đó gào lên.
Tim
tôi đập thình thịch. Tôi nín thở. Tôi chỉ vừa cử động một tí, giá đằng
sau đã kêu cót két rồi. Tôi cựa người, vai cọ vào cái hộp, tạo ra âm
thanh sột soạt. Tôi không nghĩ có ai đi qua lại nghe được những âm thanh
nhỏ xíu tôi gây nên, làm sao nghe nổi với tất cả những huyên náo ngoài
kia, những tiếng la hét, chuông báo động như thế chứ. Nhưng tôi buộc
mình phải bất động tuyệt đối.
“... mẩu thuốc chết tiệt!” Tôi nghe thấy, nhẹ cả người.
“... bình dập!” một người khác trả lời.
Lâu,
lâu lắm - có thể là mười phút, cũng có thể là nửa giờ, tôi không biết
nữa, tôi không cử động được tay để nhìn đồng hồ đeo tay - tôi cựa quậy
đứng đó khó chịu, đầm đìa mồ hôi, như đang giả chết, bàn chân tê đi vì
tư thế khôi hài tôi đang đứng.
Tôi đợi cửa buồng bị lôi mở, ánh sáng ập vào trong, đời tôi thế là hết.
Tôi
không biết lúc đó mình có thể nói gì nữa. Không gì cả, thật vậy. Tôi sẽ
bị bắt quả tang và tôi tuyệt nhiên không biết mình có thể biện giải
kiểu gì để thoát được. Chỉ bị đuổi việc là còn may mắn. Tôi có
thể sẽ phải đối mặt với các hành động pháp lý từ phía Trion - đơn giản
là chẳng có lời giải thích nào nghe hợp lý cho việc tôi ở đây. Tôi không
muốn nghĩ tới việc Wyatt sẽ làm gì với mình.
Và đổi lại cả đống rắc rối ấy, tôi ở đây làm gì chứ? Chẳng vì cái gì cả. Tất cả hồ sơ AURORA đằng nào cũng biến mất rồi.
Tôi
nghe thấy tiếng gì như vòi phun, rõ ràng là tiếng bình dập cháy, và giờ
thì những tiếng la hét đã giảm bớt. Tôi tự hỏi liệu bảo vệ có gọi nhân
viên cứu hỏa của riêng công ty không, hay là gọi đội cứu hỏa địa phương.
Và liệu đám lửa trong sọt rác có giải thích được cho tiếng chuông báo
động không. Hay họ sẽ tiếp tục lục soát nơi này?
Vì vậy tôi đứng
đó, đôi chân biến thành hai khối băng ngứa râm ran trong khi mồ hôi đổ
xuống mặt, và lưng cùng vai cứng cả lại vì chuột rút.
Và tôi đợi.
Thỉnh
thoảng tôi nghe thấy giọng nói, nhưng chúng bình tĩnh hơn, giống như đã
chấp nhận tình huống. Có tiếng bước chân, nhưng không còn hỗn loạn nữa.
Sau
một khoảng thời gian dường như vô tận, tất cả yên ắng trở lại. Tôi cố
giơ tay trái lên xem giờ, nhưng tay tôi tê dại. Tôi siết nó, cử động tay
phải qua để cấu véo tay tê cho tới khi có thể giơ lên kiểm tra mặt đồng
hồ dạ quang. Vừa qua mười giờ ít phút, dù tôi đã ở trong này lâu đến
mức cứ nghĩ hẳn đã phải quá nửa đêm rồi.
Tôi chậm chạp tự gỡ ra
khỏi tư thế uốn mình, di chuyển im lặng về phía cửa kho đồ. Rồi tôi đứng
đó vài phút, chăm chú lắng nghe. Tôi không nghe thấy âm thanh nào. Có
vẻ là một vụ cá cược an toàn khi cho rằng họ đã đi - họ đã dập lửa, đã
tự thấy hài lòng rằng rốt cuộc không có vụ đột nhập nào. Con người, đặc
biệt là bảo vệ - những người ít nhiều căm ghét tất cả máy tính làm được
mọi thứ nhưng lại khiến họ mất việc - họ không tin tưởng máy móc lắm. Họ
sẽ nhanh chóng đổ lỗi cho sai sót nào đó trong hệ thống báo động. Có
lẽ, nếu tôi thực sự may mắn, sẽ không ai tự hỏi tại sao chuông báo động chống xâm nhập lại reo trước khi chuông báo cháy reo.
Rồi tôi hít một hơi và chậm rãi mở cửa.
Tôi
nhìn hai bên và nhìn thẳng phía trước, khu vực có vẻ vắng lặng. Không
có ai ở đây. Tôi bước ra vài bước, dừng chân, lại nhìn quanh.
Không có ai.
Nơi này nồng nặc mùi khói, và mùi hóa chất gì đó nữa, có lẽ là từ bình dập lửa.
Tôi
đi nhẹ nhàng dọc theo tường, tránh tất cả cửa sổ trông ra ngoài hay cửa
bằng tấm kính cho tới khi đến một trong những cửa ra. Không phải cửa
dẫn tới khu tiếp tân chính, và không phải cửa ra cầu thang đằng sau, nơi
từ đó bảo vệ đã vào.
Và chúng bị khóa.
Vẫn bị khóa.
Chúa ơi, không.
Họ
không ngắt khóa tự động. Đi nhanh hơn một chút, khí huyết lại sôi sục,
tôi tới cửa khu tiếp tân và đẩy thanh chặn, và chúng cũng bị khóa.
Tôi vẫn bị khóa bên trong.
Giờ thì sao đây?
Tôi
không có lựa chọn nào. Không có cách mở khóa từ bên trong, ít nhất là
theo những gì tôi được dạy. Và tôi cũng không thể cứ gọi bảo vệ nhờ
giúp, đặc biệt là sau những gì vừa xảy ra.
Không. Tôi sẽ phải đợi ở
bên trong này cho tới khi có ai đó cho tôi ra ngoài. Cũng có nghĩa là
phải đợi tới trời sáng, khi đội lao công tới. Hay tồi tệ hơn, khi nhân
viên nhân sự đầu tiên tới. Và tôi sẽ phải giải thích ra trò.
Tôi
cũng mệt lả rồi. Tôi tìm một khoang cách xa cửa ra vào và cửa sổ, rồi
ngồi xuống. Tôi hoàn toàn kiệt sức. Tôi cần ngủ ghê gớm. Và thế là tôi
khoanh tay lại như một sinh viên mệt rã rời ở thư viện đại học, và lăn
ra ngủ ngay lập tức.
32
Khoảng
năm giờ sáng, tôi bị một tiếng động loảng xoảng đánh thức. Tôi giật
người dậy. Đội lao công đã tới, đẩy theo những cái xô nhựa màu vàng to
đùng, giẻ lau sàn và máy hút bụi loại vắt được qua vai. Có hai người đàn
ông và một phụ nữ, nói liến thoắng với nhau bằng tiếng Bồ Đào Nha. Tôi
biết một ít: nhiều người hàng xóm nơi tôi lớn lên là người Brazil.
Tôi
đã rỏ một chút nước dãi ra bàn của một ai đó, ai cũng được. Tôi lấy ống
tay áo lau đi, rồi đứng dậy và thong dong đi tới cửa ra, họ đã giữ nó
mở bằng một thanh đệm cao su.
“Bom dia, como vai?[12]” tôi nói. Tôi lắc đầu, tỏ ra ngượng ngùng, nhìn đồng hồ đeo tay một cách phô trương.
“Bem, obrigado e o senhor?[13]”
Người phụ nữ trả lời, để lộ vài cái răng vàng. Bà ta hẳn hiểu được -
tội nghiệp anh chàng viên chức, làm việc ở đây cả đêm, hay là ở đây sớm
không tưởng nổi, bà ta không biết hoặc cũng chẳng quan tâm.
Một người đàn ông nhìn sọt rác kim loại cháy sém và nói gì đó với người còn lại. Như là, cái quái gì đã xảy ra ở đây vậy?
“Cansado,” tôi nói với bà ta: Tôi mệt, thế đấy. “Bom, até logo.” Gặp lại sau nhé.
“Até logo, senhor,[14]” Người phụ nữ nói khi tôi bước ra cửa.
[12] Xin chào, anh chị có khỏe không? - Tiếng Bồ Đào Nha.
[13] Vâng, cảm ơn anh, còn anh? - Tiếng Bồ Đào Nha.
[14] Chào anh. - Tiếng Bồ Đào Nha.
Trong
thoáng chốc tôi nghĩ tới việc lái xe về nhà, thay quần áo rồi quay lại
ngay. Nhưng như thế vượt quá sức tôi, nên thay vì thế, tôi rời khỏi Cánh
E - lúc này mọi người đã bắt đầu lục đục tới - vào lại Cánh B, đi tới
khoang làm việc của mình. Được rồi, nếu ai đó có kiểm tra bản ghi lượt
vào cửa, họ sẽ thấy tôi tới đây vào khoảng bảy giờ tối Chủ nhật, rồi
quay lại vào khoảng năm giờ ba mươi sáng thứ Hai. Người tham việc. Tôi
chỉ mong không chạm trán ai đó mình biết trong bộ dạng như thế này, như
thể vẫn mặc nguyên quần áo mà ngủ, mà dĩ nhiên là đúng như thế. May mắn
thay, tôi không gặp ai. Tôi vớ lấy một lon Cô ca Vani ăn kiêng ở phòng
nghỉ và làm một ngụm to. Sớm như thế này thì vị nó thật là tệ, nên tôi
làm một bình cà phê ở máy pha Bunn-O-Matic và vào phòng vệ sinh nam để
rửa mặt. Áo tôi hơi nhăn, nhưng nhìn chung thì tôi trông tề chỉnh, thậm
chí dù tôi cảm thấy thật tệ hại. Ngày hôm nay là một ngày quan trọng, và
tôi phải làm hết sức.
Một giờ trước khi cuộc họp quan trọng với
Augustine Goddard diễn ra, chúng tôi tập hợp ở Packard, một trong các
phòng họp lớn, để tổng duyệt lại. Nora mặc một bộ đồ màu xanh đẹp mắt,
và trông như đã làm tóc đặc biệt cho dịp này. Mụ trông vô cùng lo lắng,
căng thẳng dâng tràn. Mụ đang cười, mắt mở to.
Chad và mụ đang
tổng duyệt lại trong phòng khi những người còn lại tập hợp. Chad đang
đóng vai Jock. Họ chơi trò đối đáp như một cặp vợ chồng già đang diễn
lại nhịp điệu của một cuộc tranh cãi đã quen thuộc từ lâu, rồi đột ngột
điện thoại cầm tay của Chad đổ chuông. Hắn có một chiếc điện thoại
Motorola nắp gập, tôi chắc chắn là hắn thích nó vì hắn có thể chấm dứt
một cuộc gọi bằng cách đóng nó lại.
“Chad đây,” hắn nói. Giọng hắn đột nhiên ấm lên. “Chào, Tony.” Hắn giơ ngón tay trỏ lên bảo Nora đợi, rồi đi tới một góc phòng.
“Chad,”
Nora bực bội gọi từ đằng sau. Hắn quay lại, gật đầu với mụ rồi lại giơ
ngón tay lên. Khoảng một phút sau, tôi nghe thấy hắn gấp điện thoại lại
và bước tới phía Nora, nói nhỏ và nhanh. Tất cả chúng tôi đều nhìn và
lắng nghe; họ ở vòng tròn trung tâm mà.
“Đấy là một người bạn của tôi ở phòng kiểm soát,” hắn nói nhỏ, mặt nghiêm trọng. “Quyết định về Maestro đã được lập rồi.”
“Làm sao cậu biết?” Nora hỏi.
“Phòng
kiểm soát vừa nhận được lệnh gạch sổ toàn bộ khoản tiền năm mươi triệu
đô cho Maestro. Quyết định đã được duyệt ở cấp Tổng. Buổi họp này với
Goddard chỉ là hình thức.”
Nora đỏ bừng mặt và quay đi. Mụ bước đến cửa sổ và nhìn ra ngoài, không nói gì cả phút đồng hồ.
33
Trung
tâm Chỉ thị Điều hành ở trên tầng bảy của Cánh A, ngay phía cuối hành
lang sau văn phòng của Goddard. Chúng tôi tập hợp ở đó thành nhóm. Tinh
thần khá thấp. Nora bảo vài phút nữa sẽ ra với chúng tôi.
“Người chết đang đi!” Chad vừa đi vừa hát lên với tôi. “Người chết đang đi!”
Tôi
gật đầu. Mordden liếc sang Chad đang đi bên cạnh tôi, và gã giữ khoảng
cách, chắc chắn đang nghĩ đủ thứ xấu xa về tôi, cố đoán tại sao tôi lại
không làm mặt lạnh với Chad, tôi đang giở trò gì vậy. Gã không còn dừng
lại khoang của tôi thường xuyên kể từ đêm tôi lẻn vào văn phòng của
Nora. Thật khó đoán được có phải gã đang cư xử lạ lùng không, vì lạ lùng
vốn là chế độ mặc định của gã. Và tôi cũng không muốn buông mình vào
trạng thái hoang tưởng - có phải gã đang nhìn mình khang khác không, hay
đại loại thế. Nhưng tôi không thể ngừng tự hỏi liệu mình có làm hỏng cả
nhiệm vụ này với một hành động bất cẩn, liệu Mordden có gây rắc rối cho
tôi không.
“Này, chỗ ngồi rất quan trọng đấy, cậu bạn,” Chad thì
thầm với tôi. “Goddard luôn ngồi ghế giữa ở phía bàn gần cửa. Nếu cậu
muốn biến thành vô hình, cậu ngồi bên phải ông ấy. Nếu cậu muốn ông ấy
chú ý đến mình, hoặc là ngồi bên trái hoặc ngồi chính diện ông ấy.”
“Bộ tớ muốn ông ta chú ý đến sao?”
“Tớ làm sao biết được, ông ấy là sếp mà.”
“Cậu đã tham gia nhiều buổi họp có ông ấy chưa?”
“Không nhiều lắm.” Hắn nhún vai. “Một vài buổi thôi.”
Tôi
ghi nhớ trong đầu hãy ngồi bất cứ đâu mà Chad khuyên tôi không ngồi,
như là bên phải Goddard chẳng hạn. Lừa tao một lần, thế là thôi nhé, đồ
tồi.
Trung tâm Chỉ thị Điều hành đúng là đáng kinh ngạc. Có một
bàn họp lớn bằng thứ gỗ gì đó giống ở vùng nhiệt đới, nó choán phần lớn
phòng. Cuối phòng toàn bộ là màn hình thuyết trình. Có mành che cách âm
dày thấy ngay được là sẽ kéo từ tràn xuống bằng điều khiển, có lẽ không
chỉ để ngăn ánh sáng vào phòng mà còn để không ai bên ngoài nghe được gì
từ trong này. Gắn vào bàn là tổ hợp ống nghe nói và những màn hình nhỏ
trước mỗi ghế, chúng sẽ trượt lên khi bạn bấm nút ở đâu đó.
Có
nhiều tiếng thì thầm, tiếng cười căng thẳng, tiếng thì thào hóm hỉnh.
Tôi có phần trông đợi được nhìn thấy Jock Goddard nổi tiếng tận mắt và ở
khoảng cách gần, dù tôi sẽ không bao giờ được bắt tay ông ta. Tôi không
phải nói gì hay có phần trong bài thuyết trình, nhưng tôi vẫn căng
thẳng.
Khoảng mười giờ kém năm, Nora vẫn chưa xuất hiện. Hay mụ đã
nhảy ra ngoài cửa sổ mất rồi? Có phải mụ đang gọi điện, cố vận động
hành lang, nỗ lực lần cuối cùng để cứu sản phẩm quý báu của mình, giật
bất cứ cái dây nào mình có thể?
“Có phải bà ta lạc đường rồi không?” Phil đùa.
Mười
giờ kém hai phút, Nora vào phòng, trông bình thản, rạng rỡ, dường như
lại hấp dẫn hơn. Mụ trông như thể vừa trang điểm lại, son môi và đại
loại thế. Có lẽ mụ thậm chí đã thiền hay gì đó, vì mụ trông hoàn toàn
thay đổi.
Rồi đúng mười giờ, Jock Goddard và Paul Camilletti bước
vào phòng, và tất cả mọi người yên lặng. Camilletti “Cắt Cổ”, mặc áo vét
ngắn tay đen và áo sơ mi lụa màu ô liu, tóc vuốt ngược về phía sau,
trông như Gordon Gekko ở phố Wall vậy. Hắn ngồi xuống ghế ở một
góc của cái bàn rộng. Goddard, vẫn mặc áo cổ cao đen dưới áo choàng thể
thao nâu bằng vải tuýt, đi tới gần Nora và thì thầm gì đó khiến mụ phá
lên cười. Ông đặt tay lên vai mụ; mụ đặt tay lên tay ông trong vài giây.
Mụ đang cư xử như thiếu nữ, có chút ve vãn; đó là một mặt của Nora mà
tôi chưa bao giờ thấy.
Rồi Goddard ngồi ngay xuống đầu bàn, đối
diện với màn hình, cảm ơn nhé, Chad. Tôi ngồi bên bàn đối diện và bên
phải ông ta. Tôi nhìn rõ ông và chắc chắn không có cảm giác mình
vô hình, ông có đôi vai tròn, hơi khom khom. Tóc bạc, hất về một bên,
hơi rối. Lông mày bạc rậm, mỗi bên trông giống một đỉnh núi tuyết. Trán
ông hằn sâu đầy nếp nhăn và mắt ông ánh lên vẻ tinh quái.
Vài giây
im lặng ngượng nghịu trôi qua, rồi ông nhìn quanh bàn lớn. “Các anh chị
ai cũng căng thẳng cả,” ông nói. “Thoải mái đi! Tôi không cắn đâu.”
Giọng ông dễ chịu, hơi lào khào, một giọng nam trung êm dịu. Ông liếc
sang Nora và nháy mắt. “Chí ít là không phải thường xuyên.” Mụ cười phá
lên; một vài người khác khẽ cười lịch sự. Tôi cũng mỉm cười, chủ yếu là
để nói, tôi đánh giá cao ông đã cố gắng cho chúng tôi thoải mái.
“Chỉ khi anh bị đe dọa thôi,” mụ nói. Ông cười, môi tạo thành hình chữ V. “Jock, anh không phiền nếu tôi bắt đầu bây giờ chứ.”
“Xin mời.”
“Jock,
chúng tôi đều đã làm việc cực kỳ vất vả để làm mới Maestro, đến mức đôi
lúc tôi nghĩ thật khó có thể vượt ra khỏi bản thân, để tìm lấy một góc
nhìn thực tế. Suốt ba mươi sáu giờ qua hầu như tôi không nghĩ về cái gì
khác. Và tôi thấy rõ là có vài cách quan trọng để chúng ta có thể cập
nhật, cải thiện Maestro, khiến nó hấp dẫn hơn, tăng thị phần, thậm chí
là tăng đáng kể.”
Goddard gật đầu, ngón tay xếp thành nóc tháp chuông, nhìn xuống ghi chép của mình.
Mụ
gõ lên cuốn sổ thuyết trình mỏng kẹp chặt. “Chúng tôi đã tìm ra một
chiến thuật, khá là tốt, thêm vào mười hai chức năng mới khiến Maestro
bắt kịp công nghệ. Nhưng tôi phải nói với anh một cách trung thực rằng
nếu tôi ở vào địa vị của anh, tôi sẽ rút dây cắm thôi.”
Goddard
đột ngột quay lại nhìn mụ, đôi lông mày rậm màu trắng nhướn lên. Tất cả
chúng tôi đều trân trối nhìn mụ, sửng sốt. Tôi không tin nổi là mình
đang nghe thấy điều này. Mụ đang đốt cả đội của mình.
“Jock,” mụ
nói tiếp, “nếu có điều gì anh đã dạy tôi, thì đó là đôi khi một người
lãnh đạo thực sự phải hy sinh thứ mà anh ta yêu quý nhất. Tôi rất đau
lòng phải nói thế này. Nhưng chỉ là tôi không thể bỏ qua sự thật được.
Maestro đã rất tuyệt vời trong thời của nó. Nhưng thời của nó đã đến -
và đi. Đó là Luật của Goddard - nếu sản phẩm của anh không có tiềm năng
chiếm được vị trí thứ nhất hoặc thứ hai trên thị trường, anh bỏ nó đi.”
Goddard
yên lặng một lúc. Ông trông ngạc nhiên, ấn tượng, và sau vài giây, gật
đầu với một nụ cười sắc sảo kiểu tôi-thích-điều-tôi-thấy. “Chúng ta -
tất cả mọi người đều đồng ý về điều này chứ?” ông kéo dài giọng.
Dần
dần mọi người đều gật đầu, nhảy lên con tàu đang đi khi nó rời ga. Chad
gật đầu, cắn môi theo kiểu mà Bill Clinton từng làm. Mordden gật đầu
lia lịa, như thể cuối cùng thì gã cũng thể hiện được quan điểm thực sự
của mình. Những kỹ sư khác lẩm bẩm, “Đúng vậy” và “Tôi đồng ý.”
“Tôi
phải nói là tôi ngạc nhiên khi nghe điều này,” Goddard nói. “Đây chắc
chắn không phải điều tôi nghĩ sẽ được nghe sáng nay. Tôi đã chờ Trận
chiến Gettysburg. Tôi rất ấn tượng.”
“Điều tạm thời tốt đẹp cho bất cứ cá nhân nào trong chúng tôi,” Nora bổ sung, “không hẳn đã là điều tốt nhất cho Trion.”
Tôi
không tin nổi cách Nora đang dẫn dắt vụ hiến tế này, nhưng tôi phải
khâm phục sự xảo quyệt của mụ, kỹ năng chính trị kiểu Machiavelli của
mụ.
“Được rồi,” Goddard nói, “trước khi chúng ta kéo cò súng, hãy
đợi một phút. Anh - tôi không thấy anh gật đầu.” Ông ta dường như nhìn
thẳng vào tôi.
Tôi liếc quanh, rồi quay lại ông ta. Chắc chắn ông ta đang nhìn thẳng vào tôi.
“Anh,” ông ta nói. “Anh bạn trẻ, tôi không thấy anh gật đầu cùng những người còn lại.”
“Cậu ta là người mới,” Nora vội vã chen vào. “Vừa mới bắt đầu thôi.”
“Tên anh là gì, anh bạn trẻ?”
“Adam,”
tôi nói. “Adam Cassidy.” Tim tôi bắt đầu đập thình thịch. Mẹ kiếp. Cứ
như là bị gọi trả bài ở trường vậy. Tôi cảm thấy như thằng bé học lớp
hai.
“Anh có vướng mắc gì với quyết định của chúng ta ở đây à, Adam?”
Goddard hỏi.
“Hả? Không.”
“Vậy anh đồng ý rút dây cắm.”
Tôi nhún vai.
“Anh đồng ý, không đồng ý - hay thế nào?”
“Tôi chắc chắn hiểu Nora tại sao nói như vậy,” tôi nói.
“Và nếu anh ngồi ở vị trí của tôi?” Goddard thúc.
Tôi thở sâu. “Nếu tôi ngồi ở vị trí của ông, tôi sẽ không rút dây cắm.”
“Không à?”
“Và tôi cũng sẽ không thêm vào mười hai chức năng mới đó.”
“Anh sẽ không à?”
“Phải. Chỉ một thôi.”
“Và nó là gì vậy?”
Tôi
liếc thoáng qua Nora, thấy mụ mặt đỏ tía tai. Mụ đang trân trối nhìn
tôi như thể một quái vật ngoài hành tinh đang bùng ra khỏi ngực tôi. Tôi
quay lại Goddard. “Giao thức bảo mật dữ liệu.”
Lông mày của Goddard cong cả xuống. “Bảo mật dữ liệu? Vì cái quái gì mà nó lại hấp dẫn được khách hàng chứ?”
Chad
hắng giọng và nói, “Thôi nào, Adam, nhìn vào nghiên cứu thị trường đi.
Bảo mật dữ liệu là cái gì chứ? Xếp thứ bảy mươi lăm trên danh sách chức
năng mà khách hàng muốn có.” Hắn cười khẩy. “Trừ phi anh nghĩ khách hàng
bình thường là Austin Powers, Người đàn ông Bí ẩn Tầm quốc tế.”
Có tiếng cười khúc khích từ phía đầu bên kia bàn.
Tôi
tử tế cười. “Không, Chad, anh nói đúng - khách hàng thông thường không
quan tâm tới bảo mật dữ liệu. Nhưng tôi không nói đến khách hàng thông
thường. Tôi đang nói về quân đội.”
“Quân đội.” Goddard nhướn một bên lông mày lên.
“Adam...” Nora chen ngang bằng giọng cảnh cáo thẳng thừng.
Goddard vẫy tay về phía Nora. “Không, tôi muốn nghe điều này. Anh nói là quân đội?”
Tôi
thở sâu, cố không tỏ ra hoảng hốt. “Nhìn xem, lục quân, không quân, của
Canada, của Anh - toàn bộ cơ sở quốc phòng của Mỹ, của Anh, của Canada -
gần đây vừa đại tu lại hệ thống thông tin toàn cầu của họ, đúng không?”
Tôi lôi ra vài mẩu tin cắt từ tờ Tin Phòng vệ, Tuần báo Tin học Liên bang -
dĩ nhiên là những tạp chí tôi luôn có một ít ở nhà mình - và giơ lên.
Tôi cảm thấy tay mình hơi run, và hy vọng không ai để ý. Wyatt đã chuẩn
bị cho tôi chuyện này và tôi hy vọng là thông tin chính xác. “Nó gọi là
Hệ thống Thông tin Quốc phòng, DMS - hệ thống tin nhắn bảo mật cho hàng
triệu quân nhân trên toàn thế giới. Nó được sử dụng thông qua máy tính
để bàn, và Lầu Năm Góc rất muốn đưa nó lên mạng không dây. Thử tưởng
tượng xem sự khác biệt sẽ đến thế nào - truy cập không dây từ xa một
cách an toàn vào dữ liệu và hệ thống liên lạc bảo mật, với người nhận và
người gửi được xác thực, mã hóa an toàn hai đầu, bảo vệ dữ liệu, toàn
vẹn thông tin. Chưa ai nắm được thị trường này cả!”
Goddard nghiêng đầu, chăm chú lắng nghe.
“Và
Maestro là sản phẩm hoàn hảo cho mảng thị trường này. Nó nhỏ, bền - gần
như không thể phá hủy - và hoàn toàn đáng tin cậy. Bằng cách này, chúng
ta biến điểm tiêu cực thành tích cực: công nghệ cũ và lạc hậu của
Maestro lại là điểm cộng đối với quân đội, vì nó hoàn toàn
tương thích với giao thức truyền mạng không dây năm năm tuổi của họ. Tất
cả những gì chúng ta cần là thêm vào bảo mật dữ liệu. Chi phí nhỏ nhất
và tiềm năng thị trường thì khổng lồ - tôi muốn nói là khổng lồ!”
Goddard đang trân trối nhìn tôi, dù tôi không đoán được ông thấy ấn tượng hay ông nghĩ tôi đã hóa điên.
Tôi
tiếp tục: “Vì vậy thay vì mông má lại sản phẩm già nua, rõ ràng thua
kém này, chúng ta phân lại thị trường cho nó. Thêm vào vỏ nhựa cứng và
mã hóa bảo mật, và chúng ta trở lại thời hoàng kim. Chúng ta sẽ thống lĩnh nhánh
thị trường này nếu nhanh tay. Quên chuyện gạch sổ năm mươi triệu đi -
giờ chúng ta đang nói về hàng trăm triệu cho doanh thu hàng năm.”
“Trời,” Camilletti nói từ đầu bàn bên kia. Hắn nguệch ngoạc ghi chép vào một tập giấy.
Goddard gật đầu, ban đầu chậm, rồi mạnh hơn. “Rất hấp dẫn,” ông nói và quay sang Nora. “Tên anh ta là gì nhỉ, Elijah?”
“Adam,” Nora trả lời ngắn gọn.
“Cảm ơn, Adam,” ông nói. “Không tệ chút nào.”
Đừng cảm ơn tôi, tôi nghĩ, cảm ơn Nick Wyatt ấy.
Và rồi tôi thấy Nora nhìn mình với biểu cảm căm thù thuần túy, không che đậy.

