Venise và những cuộc tình Gondola - Phần 04 chương 1 - 2 - 3
BỈ
Liège: Thành phố nhẹ nhất thế giới(1)
Lần
đầu tiên khi bước chân xuống ga Guillemins ở Liège, tôi buồn rầu nhận
ra thành phố… xấu quá. Từng đi Bruges và Bruxelles, những thành phố nổi
tiếng đẹp xinh của Bỉ, nên tôi thấy Liège trông như một con vịt nhỏ xấu
xí. Thế rồi trong suốt một năm du học ở đây, ngày ngày lấy bus số 48 lên
đồi Sart-Tilman nơi có ngôi trường Đại học Liège nằm ẩn trong rừng
xanh, tôi ngỡ ngàng nhận ra mình đã yêu thành phố này từ khi nào chẳng
rõ.
Hợp chủng quốc sinh viên
Liège
không có những công trình thế kỷ, không có kiến trúc cổ xưa độc đáo,
không có cả cái không khí thanh bình thường gặp ở một thành phố châu Âu.
Nhưng Liège là nơi tụ họp những bạn trẻ từ khắp nơi cùng đến tìm kiến
thức. Trường Đại học Liège là một trong những ngôi trường châu Âu danh
tiếng với các khoa, các ban, các nhánh học thật phong phú. Vì thế, ở
Liège tôi có thể gặp những sinh viên đủ mọi màu da và kết bạn với đủ mọi
quốc tịch: Masako đến từ Nhật để học ngành khảo cổ, Zineb người Maroc
học văn chương, Nadine từ Canada sang hoàn thành khóa kỹ sư hàng không,
Zita gốc châu Phi chọn học nuôi trồng thủy hải sản, Philippe từ nước
láng giềng Pháp sang học ngành thú y, rồi những cô cậu trẻ măng mãi tận
bên Mỹ cũng hăm hở đến Liège học về hàng hải, xây dựng và nông nghiệp.
Có thể nói Liège là thành phố “hợp chủng quốc” dành cho những người trẻ.
Đường phố nhún nhảy
Những
ngày cuối tuần, sinh viên lao vào khu phố cổ Carré đông nghịt để nhảy
nhót, đàn hát, ăn uống, tổ chức những trò chơi phong phú như hóa trang,
vũ hội, đố vui… Họ đùa giỡn ầm ĩ, kéo nhau rồng rắn diễu hành khắp thành
phố kể cả vào mùa đông lạnh giá. Khi người ta trẻ, dù nhiệt độ có xuống
đến mức âm cũng chẳng bận lòng. Rồi những tháng ngày xuân-hè, nam thanh
nữ tú lại hiện diện khắp nơi theo những lễ hội âm nhạc, ngày
Francophonie (ngày nói tiếng Pháp), ngày quốc khánh Bỉ, ngày nhà vua và
còn biết bao ngày lễ mà tôi không tài nào nhớ nổi. Chỉ biết rằng vào
những ngày đó, các sân khấu đặt ở ngoài trời, ca sĩ từ chuyên nghiệp đến
bán chuyên nghiệp và cả nghiệp dư cùng cống hiến nhiệt tình những bản
nhạc sôi động làm nức lòng giới trẻ. Chúng tôi cùng nhún nhảy bên nhau
dù chẳng hề quen biết. Cùng nắm tay ngước nhìn bầu trời đầy sao và chiêm
ngưỡng những đợt pháo hoa đẹp như những giấc mơ thời thơ ấu.
Chợ trời La Batte bên sông La Meuse
Vào
mỗi sáng chủ nhật, tiếng chuông các giáo đường đồng loạt từng hồi vang
lên đánh thức những cô cậu ham chơi đã trắng đêm hôm trước. Chúng tôi
mắt nhắm mắt mở động viên nhau cố gắng “lết” đến chợ trời La Batte trải
dài theo con sông La Meuse. Với túi tiền eo hẹp của giới sinh viên, chợ
trời chỉ họp một lần duy nhất trong tuần là vị cứu tinh cung cấp rau
xanh, trái cây, cá tươi và đủ thứ thực phẩm phong phú. Thường chúng tôi
cùng mua cả bao tải khoai tây, khệ nệ vác những túi táo chín mọng, đội
lên đầu vài ba ký củ hành. Phải mua sỉ giá mới rẻ, và cứ thế mà về chia
với nhau để tiết kiệm từng đồng sau khi vung tay quá trán vào những câu
lạc bộ đêm tối thứ bảy vừa qua.
Ẩm thực giá rẻ
Những
ngày không lên giảng đường hay đã quá rã rời sau những giờ học căng
thẳng trong thư viện, tôi thường một mình bách bộ lang thang
“window-shopping”. Liège có đầy đủ sản phẩm hàng hiệu của thế giới, từ
tột đỉnh xa xỉ đến giá “mềm ơi là mềm” dành cho giới trẻ. Về mặt ẩm
thực, Liège cũng không thua kém thủ đô Bruxelles với đầy đủ những nhà
hàng từ cao cấp đến bình dân giá bèo. Nào là “cuisine” Pháp, Ý, Hy Lạp,
Trung Hoa, Braxin, Maroc…, kể cả Việt Nam cũng có đến trên dưới mười nhà
hàng lớn nhỏ. Tôi vẫn thường làm khách hàng ruột của một nhà hàng Ý có
ghi bảng giảm giá mười phần trăm cho sinh viên. Với một pizza “to vật
vã” như cái mâm và một ly coca lạnh chỉ có năm euros, tôi tì tì ngồi
nhấm nháp vị thơm béo của phô-mai, vị mặn gắt của những lát thịt jambon
muối, và vị chát dịu của ô-liu. Đã thế, lần nào vào ra quán cũng được
những anh chàng người Ý dẻo miệng ồn ào ca tụng: “Cô đẹp quá! Chào người
đẹp của tôi! Đêm nay tôi sẽ mơ thấy người đẹp!”. Nghe riết cũng tưởng
mình đẹp thiệt, nhưng ăn pizza hoài sẽ phát phì. Khi đó chắc họ cũng
không dám nói “Cô mập quá!” kẻo mất khách như chơi. Thỉnh thoảng có
người thân từ Pháp sang thăm, tôi hào phóng dẫn họ đi vào những nhà hàng
Bỉ đãi món đặc sản “moule et frite” tức là một loại sò (ở Việt Nam
không có) ăn với khoa tây chiên. Người Bỉ rất ghét món khoai tây chiên
bị gọi là “French fries”, họ nói người Bỉ có công sáng chế kiểu ăn khoai
tây xắt cọng dài chiên dòn. Đáng lý phải gọi là “Belgian fries” mới
đúng.
Dù
Liège trẻ trung, sôi nổi và hoạt động không ngừng, thành phố này cũng
có những “khoảng lặng” đáng trân trọng. Tôi đã từng lang thang buồn rầu
vì bị… thi lại. Trên những bước chân vô định của mình, tình cờ tôi nhận
ra những con hẻm bình yên, những nấc thang xám khiêm nhường, những vách
tường đỏ phủ rêu phong. Và, tiếng chuông ngân lên đâu đó của một nhà
dòng ẩn mình trong phố cổ làm tôi bồi hồi. Liège, Liège giờ chia tay đã
điểm. Sẽ không bao giờ tôi thôi yêu thành phố nhẹ nhất thế giới này.
__________
1.
Liège trong tiếng Pháp có nghĩa là loại vật liệu để làm nút chai đóng
rượu, rất nhẹ, nên người dân thích chơi chữ, nói thành phố của mình nhẹ
nhất thế giới.)
Bruxelles: Thủ đô hóm hỉnh
Lần
đầu tôi đến Bruxelles năm 2000. Từ Paris tôi ngồi xe đò đêm thoáng gà
gật vài giấc thì đến. Dân Pháp hay trêu chọc người Bỉ, họ nói trên thế
giới này chỉ có Bỉ ban đêm trên xa lộ mới thắp đèn, vì nước Bỉ bé nhỏ
quá nên mới dám xài sang. Họ còn cười cợt bản tính ngây thơ, ngờ nghệch
đến mức khờ khạo của người Bỉ và có cả kho tàng truyện cười về dân tộc
chất phác này. Mặc kệ người láng giềng “xách mé”, thủ đô Bruxelles được
thế giới tin tưởng đặt hơn cả trăm trụ sở quốc tế quan trọng, một trăm
năm mươi chín sứ quán với hai ngàn rưỡi nhà ngoại giao và một ngàn bốn
trăm các tổ chức phi chính phủ (NGO). Sau này tôi đến Bỉ du học một năm,
dù không ở Bruxelles nhưng tôi cứ đi đi về về với nơi chốn thân tình
này. Chưa ở đâu người ta cởi mở với nhau đến thế. Chẳng có ai là người
xa lạ hay người nước ngoài, tát cả đều cười với nhau thân thiện vì “tôi
là anh mà anh cũng là tôi”.
Quảng Trường Lớn (mà hổng lớn)
Còn
nhớ lúc tôi tìm đường đến Quảng Trường Lớn, là địa điểm thu hút du
khách nhất ở Bruxelles, một người tận tình chỉ dẫn rồi hóm hỉnh: “Nhưng
báo trước nhé, quảng trường đó không lớn một tí nào đâu, có khi cô đứng
ngay đó rồi mà còn mãi tìm đó chứ!”. Quả thật quảng trường bé nhỏ vô
cùng so với thủ đô các nước khác, nhưng sự duyên dáng của nơi đây rất
xứng đáng được Victor Hugo cho là một trong những quảng trường đẹp nhất
châu Âu và UNESCO công nhận là di sản thế giới. Thật khó để chụp hình
Quảng Trường Lớn cho trọn vẹn vì đây là một cái sân hình chữ nhật với
lối kiến trúc độc đáo nên tôi cứ mãi loay hoay. Mỗi lần ghé lại thăm
Quảng Trường Lớn là mỗi lần nơi đây được trang trí khác nhau, mùa đông
là cây thông cao vút đèn đóm rực rỡ, mùa xuân là thảm hoa trải rộng đẹp
đến bất thần, mùa hè là những lễ hội ca hát linh đình, mùa thu là các
triển lãm nghệ thuật trầm tư cùng gió.
“Cái đó” của Manneken Pis
Từ
Quảng Trường Lớn, thường người ta hay tìm thăm Manneken Pis, bức tượng
thằng bé cầm chim đái. Ở Bruxelles dường như ai cũng hóm hỉnh, khi nghe
tôi nói đang tìm đến chỗ thằng bé đái, một người chỉ đường nháy mắt: “Cô
sẽ thất vọng, “cái đó” của nó chút xíu hà!”. Đã đến tận nơi mà tôi còn
ngó trước ngó sau, chịu không tìm ra Manneken Pis, một người khác thấy
vậy hỏi: “Tìm thằng nhỏ hả? Nó nhỏ đã đành, mà “vòi” của nó còn khó thấy
hơn!”. Thì ra bức tượng nổi tiếng đó chỉ cao có chừng năm mươi
centimet, được đặt khiêm tốn trên một cái gờ tường, từ chim nó chảy ra
một dòng nước.
Lần
đầu diện kiến thằng bé tôi thấy nó đang trần truồng, nhưng những lần
sau, lúc thì nó được mặc đồ ông già Noel chuẩn bị chào đón Giáng Sinh,
lúc hóa trang thành một chiến sĩ nhân dịp lễ quốc gia nào đó, lúc mặc đồ
cầu thủ cổ động World Cup, có khi còn làm… Dracula vào ngày Hallowen
nữa. Manneken Pis là một trong ba nơi được du khách đến Bruxelles mê
nhất. Chuyện rằng ngày xưa kia thằng bé cầm chim đái vào một ngòi nổ của
quân địch khi bao vây thành phố. Vì thế, mọi người dân nhớ ơn làm tượng
tưởng nhớ. Dân Bruxelles nói riêng và dân Bỉ nói chung mê Manneken Pis
đến nỗi cứ lễ hội nào cũng thấy các máy nước giải khát hình dạng giống
thằng bé, chim nó phun ra bia bọt, nước trái cây, rượu vang rào rào làm
mọi người bu đầy chờ đến lượt hứng uống.
Thủ đô của truyện tranh, Mini-Euro và Atomium
Mỗi
lần đến Bruxelles tôi đều thích ngắm các bức tường vẽ truyện tranh và
những bức tượng các nhân vật nổi tiếng như Tintin, Gaston, Lucky Luck,
Xì-trum… được đặt lung tung khắp nơi. Ở Bruxelles thậm chí còn có một
bảo tàng về truyện tranh và nhiều cửa hàng bán truyện tranh đủ mọi chủng
loại: truyện cho con nít, cho phụ nữ, cho người sồn sồn, cho người đồng
tính, truyện trinh thám, hài hước, sex… Một lần tôi còn giật mình khi
cầm trên tay một quyển truyện tranh với tựa đề Sự trả thù của Nguyễn,
đây là truyện thuộc loại “sex nhẹ đô” do một họa sĩ gốc Việt vẽ.
Bruxelles
không quá lớn để thăm thú, nhưng những nơi du khách đến đều để lại ấn
tượng tốt đẹp. Vì là thủ đô của châu Âu, ở Bruxelles có công viên
“Mini-Euro” với tất cả các công trình, địa điểm nổi tiếng của các nước
châu Âu được thu nhỏ lại một cách vô cùng tinh xảo. Nói chẳng ngoa, bạn
có thể chẳng cần du lịch đâu cho xa, chỉ vô công viên này một ngày là đã
thu vào tầm mắt cả châu Âu rồi. Sát bên “Mini-Euro” là Atomium, một bảo
tàng khoa học kỹ thuật. Atomium có hình dáng độc đáo của một nguyên tử
thủy tinh bằng sắt làm dân Bruxelles rất tự hào.
Hóm hỉnh Bruxelles
Tôi
đặc biệt thích Bruxelles còn vì nơi đây luôn làm tôi thư giãn. Có những
trò nghịch ngợm của dân Bruxelles làm du khách lắc đầu cười như tượng
một con chó đang đái vào cột điện với câu hỏi: “Bạn cũng dang chân
chứ?”, một bức tường được dán thông báo “Chú ý, tường có cài điện, đừng
tiểu bậy kẻo teo chim!”, một trái táo chín mọng bằng nhựa với dòng chữ
“Của Bạch Tuyết đấy, hãy ăn phẩm tẩm độc để cứu nàng!”. Ngoài ra, các
cửa hàng bán chocolate còn nghĩ ra nhiều trò tếu như làm các bánh
chocolat hình bộ ngực, hình cái mông, hình đồ lót… Bruxelles không chỉ
là thủ đô của nước Bỉ, của châu Âu, của truyện tranh, của sự thân thiện
mà với riêng tôi, đây còn là thủ đô của sự hóm hỉnh.
Hào sảng Antwerp
Bỉ
là một quốc gia bé nhỏ bên cạnh những nước láng giềng to lớn. Thế nhưng
tại đất nước có diện tích khiêm tốn 30.513km vuông này, có đến hai ngôn
ngữ chính thức được thừa nhận trên tất cả các giấy tờ hành chính. Đó là
tiếng Flamish (tiếng Hà Lan) và tiếng Pháp. Khi du học ở Liège, vùng
nói tiếng Pháp, thỉnh thoảng tôi gặp vài sinh viên vùng Flanders. Họ nói
tiếng Flamish với nhau và cũng bị “phân biệt” y như một người nước
ngoài xa lạ nào đó. Có lần khi tôi thắc mắc, họ nhún vai hiền lành
“Giống như người Canada hay người Thụy Sĩ, người Bỉ cũng thích co cụm
cộng đồng của mình dựa trên ngôn ngữ. Nhưng hãy đến một thành phố của
vùng Flanders, bạn sẽ thấy chúng tôi cởi mở hơn dân vùng Wallonia này”.
Và thế là tôi cố tìm một dịp để đến Antwerp, thủ phủ vùng Flanders phồn
thịnh.
Thành phố song ngữ
Antwerp
là thành phố rộng lớn nhất thuộc vùng Flanders, nằm ở miền Bắc nước Bỉ.
Có đến 60% dân số nước này là người Flamish và vùng này giàu có hơn hẳn
vùng Wallonia miền Nam. Có một điều hẳn làm mích lòng người nói tiếng
Pháp, vì dù ở Canada, Thụy Sĩ hay Bỉ, cộng đồng nói tiếng Pháp đều nghèo
hơn cộng đồng nói tiếng Đức hay tiếng Hà Lan. Chắc chắn một điều ngôn
ngữ xuất phát từ văn hóa, và dĩ nhiên văn hóa quyết định sự phồn thịnh
của cả cộng đồng. Ở Bỉ, tôi có thể thấy rõ ràng, người dân vùng Flanders
siêng năng và chịu khó hơn người ở vùng Wallonia. Điều dễ phát hiện
nhất là khi đến Antwerp, người dân ngoài tiếng Hà Lan còn biết thêm
tiếng Pháp. Trong khi người nói tiếng Pháp không bao giờ thèm học tiếng
Hà Lan. Vì lẽ đó, đương nhiên người Antwerp cũng cởi mở hơn, thân thiện
hơn và rộng rãi hơn. Năm 2011 khi tôi đang ở Antwerp, tôi được xem trực
tiếp trên truyền hình cuộc thi hoa hậu Bỉ. Các thí sinh phải nói trôi
chảy ba thứ tiếng: Pháp, Hà Lan và Anh. Ban giám khảo chia đều ra hai
vùng Flanders và Wallonia, ngoài ra còn mời thêm giám khảo quốc tế, đến
từ Mỹ. Cuối cùng, thí sinh vùng Flanders, đến từ thành phố Antwerp đã
chiến thắng, đoạt vương miện một cách ngoạn mục. Cô nói xuất sắc 3 ngoại
ngữ, thông minh thể hiện vai nàng Eva và đẹp một cách quyến rũ. Dân
Antwerp tự hào lắm. Tôi cũng vui lây niềm vui “sở hữu hoa hậu” của họ.
Một điều hơi khôi hài, đến Antwerp tôi lại ngụ trong nhà một gia đình
gốc Wallonia di cư đến.
Những gia đình đa ngôn ngữ
Gia
đình anh Hồng nói đủ thứ tiếng. Anh là Việt kiều, cưới vợ là Isabelle
người Wallonia, nói tiếng Pháp. Gia đình họ có ba đứa con. Hai vợ chồng
nói tiếng Pháp với nhau, ba đứa con nói tiếng Hà Lan. Cha mẹ trao đổi
với con cái khi thì tiếng Pháp, lúc tiếng Hà Lan, có khi chêm tiếng Việt
loạn xạ. Thỉnh thoảng họ lại dùng tiếng anh, như một cái mốt trong các
gia đình châu Âu thời thế giới phẳng. Tuy vậy, tất cả mọi người đều biết
tiếng Hà Lan. Và tuy xuất thân từ vùng Wallonia, Isabelle cho biết chị
hoàn toàn yêu quí người Flanders. Bởi đơn giản, có muốn ghét họ cũng
không tìm ra lý do. Hiện có rất nhiều gia đình giống anh Hồng-Isabelle.
Họ dùng nhiều thứ tiếng để giao tiếp trong nhà và xem như “đặc sản”
riêng của gia đình mình. Thành phố Antwerp giàu có, vui vẻ, siêng năng
và… chịu chơi tới bến. Vì sao tôi lại xếp yếu tố “giàu có” lên đầu tiên
khi nói về người Antwerp?
Trung tâm kim cương của thế giới
Vốn
không bao giờ đeo nữ trang kim cương (do không thích đeo và do… không
có tiền), tôi không biết rằng Antwerp là trung tâm kim cương thế giới.
Anh Linh, một Việt kiều sống ở Liège, ngày ngày chạy xe hơn một tiếng
đồng hồ đến Antwerp làm nghề cắt kim cương. Anh cho biết “Antwerp World
Diamond Centre” là một slogan được nhiều người biết đến. Kim cương được
mài giũa ở Antwerp sẽ có được “Antwerp quality”, một dấu hiệu chất lượng
uy tín toàn cầu. Tôi thích gọi kim cương là “hột xoàn” và đòi được dẫn
đi xem một công ty chuyên về chế tác món hàng cực kỳ xa xỉ này. Tiếc là
hôm tôi đến Antwerp, thành phố đang trong một đợt nghỉ lễ, không có công
ty nào đang làm việc. Mà nếu công ty có làm việc, trong số 1500 công ty
kim cương ở Antwerp cũng chẳng ai dám cho tôi vào xem. Anh Linh cho
biết qui trình để một công nhân vào nhận kim cương mài giũa rất chi li,
“không phải chuyện đùa” mà ai đòi vào xem cũng được. 1500 công ty kim
cương nằm ngay trung tâm thành phố, và sát bên nhà ga là chuỗi cửa hàng
bán các sản phẩm chế tác từ kim cương, các gian hàng triển lãm về kim
cương trưng bày lịch lãm, sang trọng, thu hút nhiều khách đến tham quan.
Nghề mài giũa và kinh doanh kim cương đã có từ lâu đời tại Antwerp từ
thế kỷ thứ mười lăm, đến nay ngành này ngày càng phát triển, giúp thành
phố cảng Antwerp trở thành một trong những nơi giàu có nhất thế giới.
Thành phố yêu nghệ thuật
Gia
đình anh Hồng-Isabelle xem ra không mấy quan tâm đến “hột xoàn”, họ tự
hào giới thiệu Antwerp với một khía cạnh khác. Đây là thành phố cảng
không những giàu có về mặt tiền bạc mà còn sở hữu nhiều nghệ sĩ tên tuổi
tài năng: Rubens, Van Dyck, Jordaens và Brueghel. Các bảo tàng nghệ
thuật, các phòng triển lãm, các cửa hàng tranh tượng có mặt dày đặt. Nếu
đi dạo thong thả ngoài phố, tôi sẽ mất vài tuần để dừng lại ngắm nhìn
những tác phẩm nghệ thuật rải rác khắp nơi. Thành phố khá trân trọng
bằng cách đặt những bức tranh tượng lên bệ, khắc bảng hiệu, rào lại kỹ
càng. Tòa Thị Chính của Antwerp nằm trong quảng trường hình chữ nhật,
xung quanh là các dãy nhà hình chóp nhọn, phía trước trồng hoa đẹp rực
rỡ. Bức tượng Bravo cầm một bàn tay bị cắt lìa đứng chót vót là một biểu
tượng của Antwerp. Tương truyền có một gã khổng lồ chuyên cắt bàn tay
của thủy thủ nào cập bến Antwerp mà quỵt tiền “phí cầu đường”. Thế rổi
một chiến binh tên Silvius Bravo xuất hiện, đánh bại gã khổng lồ và cắt
bàn tay hắn, trả thù cho mọi người. Isabelle giải thích trong tiếng Hà
Lan tên thành phố là Antwerp, có nghĩa là “ném bàn tay”. Bức tượng nằm
giữa quảng trường, trông hiên ngang mà “ngồ ngộ”, đúng chất thành phố
cảng.
Hào sảng Antwerp
Antwerp phồn
thịnh nhờ vào sông Scheldt nuôi dưỡng, trải qua hàng thế kỷ, thành phố
cảng phát triển chính là nhờ vào ngành hàng hải của mình. Kiến trúc
của Antwerp là loại kiến trúc dành cho thành phố nằm trên sông. Khi
hoàng hôn buông, ánh chiều ta soi bóng xuống dòng Scheldt làm nước đổi
màu, cộng thêm ánh đèn từ các tàu bè chiếu ra và các loại đèn hiệu trên
sông chớp tắt liên tục. Tất cả làm nên một bản hợp âm về ánh sáng rất
ngoạn mục.Antwerp là cảng lớn thứ hai ở châu Âu, là một trong mười cảng
quan trọng nhất của thế giới và cũng là cảng hoạt động hiệu quả nhất.
Với mật độ sông ngòi, kênh rạch cực kỳ chằng chịt, Antwerp sở hữu những
con đường huyết mạch nối liền các vùng trù phú nhất châu Âu. Không ỷ lại
vào thế mạnh sông ngòi của mình, dânAntwerp làm việc rất cật lực. Cô
bạn chung ký túc xá với tôi có chồng người Bénin (châu Phi), cô cho biết
cộng đồng dân nhập cư châu Phi thường thích bám những vùng nói tiếng
Pháp để sống (vì họ là thuộc địa cũ của Pháp). Tuy nhiên sau một thời
gian, mọi người đều cố gắng học tiếng Hà Lan để đến Antwerp tìm việc
làm. Nếu chịu khó, thành phố cảng sẽ cho họ nhiều cơ hội hơn, giúp họ
tiết kiệm được nhiều tiền gởi về quê hương cho người thân. Việt kiểu ở
Antwerp cũng cho tôi biết họ thích sống ở đây, tuy làm việc vất vả nhưng
“có dư”, người dân Antwerp cũng hào sảng và không kỳ thị chủng tộc.
Ở Antwerp chỉ
hai ngày ít ỏi, chưa kịp khám phá thành phố ở khía cạnh thời trang tôi
đã phải quay lại Liège. Anh Hồng hứa khi học xong, trước khi về
Việt Nam sẽ đón tôi quay lại Antwerp chơi nhiều hơn. Nhưng tiếc là khi
tôi trình luận văn xong, chưa kịp “relax” thì tổ chức cấp học bổng hối
tôi phải về nước liền. Vợ chồng anh Hồng-Isabelle lái xe từ Antwerp đến
Liège để đưa tôi ra phi trường ở Bruxelles. Thật là một hành trình ngoằn
nghèo. Dù tôi từ chối, nói mình có thể tự đi xe lửa, vợ chồng anh nhất
quyết dành thời giờ quý báu của mình cho tôi, một đứa em “ngang hông”
chẳng chút quan hệ họ hàng. Sau này tôi có dịp quay lại Bỉ, vợ chồng anh
cũng lái xe từ Antwerp đến Liège chỉ để kịp dắt tôi đi ăn tối. Tấm lòng
của anh chị, những người nhập cư chọn Antwerp làm quê hương luôn khiến
tôi cảm kích. Họ hay cười, những tràng cười thoải mái, ghét nghe cảm ơn
và sẽ hài lòng gật đầu nếu bạn nói “Antwerp tuyệt làm sao!”.