Vườn tình - Chương 18

Anh bạn thân mến của tôi. Ông anh đáng quý của tôi... Không.
Trong đầu tôi, tôi tự nhủ mọi chuyện đã kết thúc. Chúng tôi đang ở bên
vách đá và biển đang gầm gừ. Ariel lùi lại vài bước để tôi được thoải
mái. Tôi tiến lại gần vách núi. Tôi cúi xuống khoảng không.

Dưới
kia, có những cái răng khổng lồ, đen sì, xấu xí, có những hốc đá sùi bọt
mép, và có cả điểm sáng đó, như một hạt gạo trơ trọi ở giữa. Tôi nhận
ra cái áo sơmi trắng tinh của Walter Weiss. Ông bố.

- Không phải như cậu nghĩ đâu, Ariel nói.

Tôi
rùng mình khi nghe giọng nói của hắn. Tôi đứng thẳng người. Tôi nhắm
mắt lại, mím môi rất chặt để không phải gào lên hay nôn mửa. Một vài
giây sau, Ariel nói tiếp:

- Mình sẽ ra đi, Matthieu ạ. Mình sẽ rút lui. Mình biết như thế tốt hơn. Sau đó hắn nói:

- Mình có một mong ước cuối cùng có được không?

Lúc đó tôi mở mắt ra, hít thật sâu trước khi đối diện với hắn lần nữa.

- Cái gì? Tôi hỏi.

- Đi theo mình.

Hắn
quay lại ngôi nhà. Tôi lưỡng lự một lúc rồi theo bước chân hắn. Chúng
tôi vào trong. Hắn ra hiệu cho tôi chờ hắn trong khi hắn lên bậc thang.
Tôi đứng trong phòng khách. Một bóng đèn chao đang đỏ lửa trên bàn, gần
tràng kỷ. Cánh cửa sổ vẫn hé mở và tôi nghe tiếng thở của biển khơi. Tôi
như ở một mình trên một con tàu chở hàng trống rỗng sắp khởi hành. Đi
về phương nào đây? Ariel xuống. Hắn rinh xuống một cái hộp gỗ. Hộp đựng
xì gà. Hắn đặt lên cái bàn rồi lại ngồi trên tràng kỷ. Hắn ngước mắt
nhìn tôi. Không khách sáo. Hắn nhấc cái nắp hộp lên. Tôi phải xích lại
một chút để xem.

Lúc đầu, tôi chỉ thấy những tấm bìa cáctông của
những quyển sổ gáy xoắn. Chúng được để chồng lên nhau và dàn ra khắp bề
mặt của cái hộp. Ariel gom lại và để cả lên bàn. Chưa phải lúc đi vào
chủ đề, chưa. Có một điều khác ẩn chứa đằng sau.

Một bộ lông. Tôi
nghĩ ngay đến một con vật nhỏ bé đang thiu ngủ hay đã chết, nằm bẹp gí
dưới đáy hộp. Không đầu không đuôi. Một chiếc khăn quàng lông của phụ nữ
được xếp lại? Hay là chùm lông sóc? Bộ lông này có vẻ mềm mại. Nó có
màu hạt dẻ bóng mượt dưới ánh đèn. Ariel thò tay vào, hắn bốc lên một
nắm rồi để cho nó chảy xuống giữa các ngón tay. Tôi phải mất khoảng một
phút mới hiểu đó là tóc. Một đống tóc.

- Thời gian thong thả trôi đi... Ariel thì thầm.

Sau
đó, hắn bắt đầu kể cho tôi. Kể hết. Những chỗ bỏ trống trong câu
chuyện. Tuổi thơ. Ngôi nhà Thiên nga. Ngôi nhà trên cây. Cô em gái.
Jona. Bị chết đuối dưới bờ ao buốt giá. Do lỗi của hắn, hắn nói. Bởi vì
hắn đã không chờ em hắn. Em hắn chạy và kêu tên hắn nhưng hắn đã không
chờ. Hắn chạy nhanh hơn em hắn. Hắn không quay lại. Hắn đã phản bội em
hắn. Hắn đã kể cho tôi chuyện đó và chuyện tiếp theo đó. Bằng một giọng
không âm sắc. Tôi ngồi cả tiếng đồng hồ nghe hắn kể mà không ngắt lời
hắn. Tôi hoàn toàn nhận thức được rằng đó là cách hắn cố gắng trả lại tự
do của chúng tôi cho chúng tôi, một nỗ lực cuối cùng trong việc giải
phóng đầu óc tôi và đầu óc hắn. Từ đáy lòng, tôi hy vọng là sẽ được như
vậy. Vừa nói, hắn vừa vuốt ve mái tóc trong hộp như một cái máy. Hắn vốc
lên hai lọn, xoa xoa trong lòng bàn tay rồi thả xuống. Bọn đầu trộm
đuôi cướp mà hắn hay giao thiệp hồi còn học trung học - mấy thằng nhóc
mất dạy trong phố - đã cho hắn bộ tóc đó. Đó là vật trao đổi giữa bọn họ
với nhau. Ariel trả tiền cho những tên đó để chúng đem đến cho hắn
những nắm tóc mà hắn đã tả cho bọn chúng một cách tỉ mỉ kết cấu và màu
sắc. Mấy thằng nhóc đó lúc đầu cười bò ra, rồi bọn chúng đã câm họng
ngay khi Ariel rút ra xếp tiền đầu tiên. Hẳn bọn chúng coi hắn là một
thằng điên, nhưng quan trọng gì. Người ta không bắt chúng phải hiểu.
Người ta chỉ bảo chúng mang đến. Bọn chúng đã làm như thế. Có trời mới
biết làm thế nào bọn chúng lại có được, nhưng chúng đã mang về cả những
nắm tóc nguyên vẹn. Đó gần như là tóc của Jona khi hai anh em nằm kề bên
nhau trong cùng một giường, khi hắn úp mặt lên gáy Jona. Màu tóc gần
giống với màu tóc của Florence.

Gần như thế.

Ảo tưởng thường ru ngủ, chính vì thế mà đôi khi người ta buồn ngủ.

Cuối cùng, Ariel chỉ những quyển sổ trên bàn.

- Mình đã ghi chép một số thứ, hắn nói. Những kỷ niệm. Những giấc mơ. Dành cho Florence. Mình muốn cậu chuyển tất cả cho cô ấy.

Hắn bỏ những quyển sổ vào hộp rồi đậy nắp lại.

- Cậu mang về cả đi, hắn nói.

Rồi hắn ngả người xuống lưng ghế như đang mệt rã rời.

Tôi
không nói gì thêm. Tôi cảm thấy vừa buồn vừa nhẹ nhõm. Tôi cúi xuống bê
cái hộp. Nó nặng hơn là tôi tưởng. Di sản của Ariel. Gia tài của hắn.
Di chúc của hắn. Trước khi rời phòng, tôi ngoái lại lần cuối nhưng hắn
đã đi rồi, mắt hắn đang lang thang ở những nơi mà tôi không thể nhìn
tới.

*

*     *

Tôi mới vừa đẩy cổng thì con mèo nhà
láng giềng đã nhảy xuống giữa hai chân tôi. Tôi để cho nó cà lưng một
lúc. Tôi nghĩ mình không biết tên nó là gì và chưa bao giờ tìm cách làm
quen với nó. Tôi cúi xuống vuốt ve nó. Đó là lần đầu tiên. Tôi chỉ kịp
hơi chạm vào lông nó. Tôi không biết nó đã nghĩ gì nhưng chưa gì nó đã
phóng mất tiêu.

Trong nhà chưa có gì thay đổi cả.

Tôi mở cửa
sổ phòng khách, pha cà phê và uống một mạch, tai nghe nhạc của Fauré.
Khúc tưởng niệm. Thật lạ, đó là loại nhạc mà Hélène đã chọn để làm nền
cho hôm chúng tôi đi vào nhà thờ, ngày hôn lễ. Em mặc một cái váy màu vỏ
trứng giản dị. Không có đông người trong nhà thờ. Anna Doukas đã tiên
đoán là bầu trời sẽ không một gợn mây. Nụ cười của Marie sầu muộn hơn
bao giờ hết.

Như thường lệ, tôi cố gắng bưng bít càng nhiều càng
tốt về quá khứ. Buổi sáng hôm đó. Tôi đã để cho quá khứ tràn về. Có thể
là việc gặp lại Marie. Người bạn. Người em. Có thể là những bản hợp
xướng của Fauré. Kỷ niệm không ướt át như sương. Cũng không như hơi nước
đọng trên cửa kính. Nếu có thể trượt những ngón tay lên đó và vẽ những
đường viền thì thật là tốt.

Sau đó, có tiếng chuông điện thoại
reo. Đã lâu lắm rồi không có ai gọi điện, lâu đến nỗi tí nữa tôi đã
không lại nhấc máy. Tôi nhấc máy và chờ mà không nói lời nào.

- Alô!... Có ai đó nói. Alexandre à?

Tôi nhận ra anh bạn cảnh sát trưởng tên là Georges Hasbro.

- Mấy giờ rồi nhỉ? Tôi hỏi.

- Tám giờ một phút. Hy vọng là mình không đánh thức cậu dậy chứ?

- Không.

- Kệ. Này, bọn mình đã tìm ra khách hàng của cậu, đúng chỗ ấy. Không được đẹp mắt lắm.

- Mình biết.

-
Đúng là cậu biết, và cậu cũng phải biết thêm là có đến nửa tá vỏ đạn
còn hơi nóng ở cạnh xác chết. Calip 22 súng trường. Súng ngắn Beretta,
chắc thế. Cậu hiểu mình nói gì không? Mẹ kiếp, nhẽ ra cậu phải dọn dẹp
chứ? Cậu không giúp gì mình cả.

- Dù sao thì mình cũng có cảm giác là vẫn giúp cậu thời gian vừa rồi đấy chứ?

- Giúp gì? Sếp thở dài.

- Mình vẫn đang chờ lời giải thích của cậu, Alex.

Trong
tầm ngắm của tôi, qua cửa sổ, có một nhành cây trinh nữ. Khi chúng tôi
dọn tới đây, cây trinh nữ này cao bằng một thằng con nít mười hai tuổi.

-
Cậu sẽ có được những gì hơn cả một bản báo cáo, tôi nói. Sắp tới mình
sẽ viết hồi ký. Tất cả sẽ được ghi lại trong đó, cậu sẽ thấy. Đen trên
nền trắng. Hoặc trắng trên nền đen.

- Cậu còn kể lể gì nữa?

- Về mình thôi, Georges. Mình rút lui. Thật đấy. Các cậu sẽ có thể sơn lại tủ tường.

Tôi không chuẩn bị gì trước. Nói những lời này xong, tôi mới nghĩ đó là một quyết định hoàn toàn đúng đắn.

-
Tuyệt, viên cảnh sát trưởng đay nghiến. Thế cậu định làm gì ở tuổi này?
Làm bảo vệ ở siêu thị hay hưởng trợ cấp xã hội ngay lập tức?

-
Mình nghĩ là mình sẽ tiếp tục học đàn piano. Thậm chí học sáng tác nhạc,
sao lại không nhỉ? Có lúc mình nghe những giọng nói: Nếu tôi giải thoát
chúng ra khỏi con người tôi thì tốt biết mấy. Thể hiện chúng. Chia sẻ
chúng.

- Cậu đang làm mình bực mình đấy, Alex ạ.

- Không lâu nữa đâu, thật đấy.

- Cậu vẫn luôn làm mình bực mình, và cậu sẽ luôn làm mình bực mình.

- Đồng ý, nếu cậu muốn... Georges, mình muốn nhờ cậu một việc cuối cùng.

- Không được.

- Cậu không nợ gì mình, nhưng cứ xem đó là món quà tặng mình trước khi mình ra đi. Theo thông lệ mà, phải không?

- Mình đã nói rồi: Không được!

- Thôi đừng nói như một cảnh sát trên phim truyền hình nữa.

- Cậu nhờ mình giúp việc gì?

- Mình muốn biết Florence Mazeau còn sống hay không? Và nếu có thì cô ta đang ở đâu?

- Ai cơ?

- Florence Mazeau.

Tôi
đánh vần tên cô ta. Georges vừa ghi vào vừa càu nhàu. Tôi tin: Nếu cô
ta còn sống, anh ấy sẽ tìm ra cô ta. Thậm chí là khi cô ta đã chết. Anh
ta sẽ giúp tôi. Khi tôi gác máy, miệng anh ta vẫn còn càu nhàu. Suốt
ngày hôm đó, tôi ở một nơi không thể định vị. Ở đây cũng không phải, ở
kia cũng không phải. Giữa hai nơi. Tôi đã ngủ gà đôi chút. Tôi là quần
áo rồi chuẩn bị tinh thần.

Tôi đến Thời gian đã mất rất sớm. Bước
qua cửa, tôi có một chút ngập ngừng. Quán cà phê lúc ấy rất đông người.
Không có gương mặt thân quen nào quay lại nhìn tôi, không có cánh tay
nào giơ lên vẫy tôi. Tất nhiên, bàn của chúng tôi đã có người ngồi, tôi
phải chấp nhận ngồi chỗ khác ở tận sâu trong quán. Ghế dài hay ghế dựa?
Tôi chọn ghế dài, hướng về cửa ra vào để chờ Marie. Sau khoảng mười lăm
phút, một người bồi bàn đến chỗ tôi và tôi gọi một tách cà phê.

Quán
cà phê này là một trong những quán cổ nhất thành phố và một trong những
quán được yêu thích nhất. Quán được bài trí theo kiểu ngày xưa, vừa lạc
hậu vừa tân thời. Trên bức tường phía sau quầy, giữa những dãy rượu là
một khung ảnh lớn hình bầu dục. Trên đó, người ta thấy bức ảnh úa vàng
của một người có ánh mắt và bộ ria mép cá trê. Một số người bảo đó là
Marcel Proust. Người mở quán hẳn là một tay yêu văn chương và những cô
gái đương hoa mới đặt cái tên như thế. Nhưng Mafia Ý mà mua lại quán cà
phê này hẳn sẽ nghĩ đó là chân dung của một tay ma cô địa phương. Tôi tự
hỏi không biết sao mà hồi đó chúng tôi thích quán này đến thế. Có phải
chỉ vì lý do thời thượng? Giờ đây, tôi cảm thấy mình lạc lõng trong đó.
Một vị khách không mời mà đến. Một điều bất bình thường. Có quá nhiều
người, quá ồn và quá nóng, tất cả làm cho tôi mệt mỏi. Nếu không có hẹn
thì có lẽ tôi đã chuồn rồi.

Marie đã đứng ngay trước bàn tôi, tôi
không thấy em đi vào. Sự duyên dáng trong sự giản dị. Tôi thấy hình như
em đã thay đổi chút ít cách búi tóc của mình nhưng không thể biết chính
xác. Tôi cũng nhận ra em đã trang điểm đôi chút. Marie thuộc tuýp những
phụ nữ không dám công nhận vẻ đẹp của mình, làm tôn lên vẻ đẹp đó lại
càng không. Em cầm một túi xách và kẹp một chiếc áo sơmi, bản viết tay
nằm trong đó. Em nhìn tôi, vẻ đăm chiêu suy nghĩ, sau đó em đặt chiếc áo
sơmi lên bàn và bắt đầu cởi áo khoác. Tôi nghĩ mình nên đứng dậy và
giúp em cởi áo ngoài ra, nhưng tôi vẫn ngồi lì trên ghế. Có thể bởi vì
tôi hình dung mình có cử chỉ đó đối với hàng chục phụ nữ lẳng lơ, và
hạng người đó không đáng giá một phần trăm cái bóng của Marie.

Tôi rất vui khi gặp em.

Tôi ra hiệu ba lần cậu bồi bàn mới lại.

- Em dùng gì? Tôi hỏi Marie.

Trong tích tắc, tôi nghĩ em sẽ trả lời: “Nước chanh Gambatta.”

- Cho tôi ly trà, em nói. Trà chanh.

Tôi
gọi thêm cho mình một ly cà phê nữa. Chúng tôi im lặng một lúc. Hẳn vì
đang tỉnh táo hơn hôm qua, cho nên rụt rè hơn. Rồi Marie nói:

- Hao hao giống như hành hương vậy.

- Đó là tác động “mađơlen”, tôi vừa nói vừa chỉ khung ảnh hình bầu dục. Marie cười.

- Em đã từng đến đây à? Tôi hỏi.

- Chưa.

- Thế nào? Cảm tưởng của em thế nào? Em đảo mắt nhìn quanh. Rồi thở dài:

- Người ta không thể bước trên dấu chân của chính mình. Tôi gật đầu tỏ ý đồng tình.

- Anh phải mất nhiều thời gian mới hiểu ra mọi chuyện, em biết đấy.

- Không bao giờ hiểu có lẽ tốt hơn.

- Chưa chắc, tôi nói. Không hiểu biết cũng có thể che chở. Cuốn sổ ăn năn của anh cũng dày như Kinh thánh.

- Anh chỉ cần đọc những thứ khác, một ít thôi cũng được, để thay đổi.

Giọng điệu không nhượng bộ của Marie đã làm tôi ngạc nhiên. Tôi vốn quen với sự vuốt ve, mơn trớn của em.

- Chỉ có anh mới quyết định được, Alex ạ. Marie nói.

- Hãy tự giúp mình, rồi trời sẽ giúp ta...

-
Trời ư? Em không biết. Nhưng con người em thì em biết. Em không đòi hỏi
gì thêm, hy vọng anh không nghi ngờ gì. Nhưng em không thể làm gì nếu
anh không đồng tình. Nếu anh không muốn. Em đã cố gắng nhưng không được.
Không thể bắt người ta sống một cách gượng ép. Em cũng thế, anh thấy
đấy, anh đã mất nhiều thời gian để hiểu.

Cậu bồi bàn đưa đồ uống
đến cho chúng tôi. Tôi nhìn trà tan dần trong nước nóng. Như mực của con
mực. Marie thổi trà trước khi đưa lên miệng. Giữa hai ngụm trà, em nói:

- Và rồi, em nghĩ là anh đã tìm ra cho mình một đồng minh mới.

- Sao lại thế được? Tôi nói.

- Có ai đó khác đang tìm cách giúp anh.

- Ai?

Marie nhìn tôi qua cốc trà.

- Édouard Dayms, em nói.

Tôi
im lặng. Marie vẫn giữ nét mặt bình thản, kiên quyết, thậm chí có phần
nào đó lạnh lùng trong ánh mắt, tôi chưa từng thấy em như thế bao giờ.
Em đặt cốc xuống.

- Em đã suy nghĩ kĩ rồi, đó là lý do duy nhất để em có thể giải thích hành động của anh.

- Hành động nào?

-
Hành động tự gửi cho mình cái này, Marie vừa nói vừa vỗ vào cái áo
sơmi. Bằng chứng của hắn. Di chúc của hắn. Một thông điệp hòa bình, Alex
ạ.

- Một thông điệp hòa bình! Nhưng mà... Mẹ kiếp, Marie, em đang
nói với anh về cái gì vậy? Thằng chết tiệt đó đã gửi quả bom đó cho anh
để hủy hoại anh!

- Anh đã bị hủy hoại rồi. Không cần thế. Em muốn
thừa nhận là hắn đã góp phần làm cho anh mất hết tất cả, bằng cách này
hay cách khác. Lúc đầu ấy. Bàn tay cầm cái cọc, như anh nói. Nhưng sau
đó, hắn đã chìa ra cho anh một bàn tay không còn vũ khí. “Chúng ta hãy
giải hòa đi”. Anh hãy tự giải hòa với chính mình: hắn đề nghị anh điều
đó.

- Giải hòa trong khi hắn cướp con của anh à? Cướp vợ anh à?
Cướp cuộc đời anh à?... Hắn đã lấy của anh tất cả. Hắn đã nạo hết xương
anh và cả tâm hồn anh. Và em là người đã thay thế hắn, em quên điều đó
rồi à?

- Đúng thế, Marie công nhận. Phản ứng đầu tiên của em cũng giống như anh thôi. Nhưng em đã tranh thủ đọc lại bản viết tay...

- Anh cũng đã đọc lại.

- Và em nghĩ chúng ta có thể xem lại tất cả mọi chuyện dưới một góc độ khác.

- Dưới bất kỳ góc độ nào cũng trật lất hết. Anh không quen biết gì người này, Marie ạ. Đó là một tên giết người!

- Anh còn nhớ chuyện đó kết thúc như thế nào không?

- Tất nhiên rồi. Thế thì sao?

-
Matthieu đi gặp Ariel, lần cuối cùng. Anh ta muốn dứt điểm. Anh ta
không thể chịu nổi sự chi phối của con người kép này. Hay là một nửa của
anh ta, nếu em muốn. Bộ mặt thứ hai của chính trí não của anh ta, cái
bộ mặt đang ngấu nghiến cuộc sống của anh ta. Anh ta muốn thoát ra. Về
cơ bản mà nói, Matthieu là người tượng trưng cho những gì tốt nhất trong
con người chúng ta, còn Ariel là người đối lập. Đó là cuộc chiến vĩnh
cửu. Huynh đệ tương tàn. Can và Abel. Thế lực của cái thiện chống lại
thế lực của cái ác. Cuộc sống, tình yêu chống lại cái chết.

- Thế thì sao? Tôi hỏi tiếp.

- Thế thì khi đó, ai là người chiến thắng? Marie hỏi lại.

Quá ồn ào và quá nóng. Tôi mím chặt môi và bướng bỉnh lắc đầu để nói là không. Trong tiếng huyên náo đó, Marie tiếp tục.

-
“Mọi chuyện sẽ phải kết thúc như thế này, thưa ông Astrid. Phải hủy
diệt cái ác. Phải triệt tiêu nó, như người ta thường nói. Rồi phải tha
thứ cho nhau. Về phần tôi, tôi vẫn luôn thích bãi biển vào mùa đông và
vẫn tiếp tục đi dạo ở đó. Bây giờ, biển đã lặng. Có những dấu chân của
tôi trên cát. Có những dấu chân của Florence. Những dấu chân của những
đứa con của chúng tôi. Chúng tôi có thể lần theo những dấu chân đó cho
đến nơi nào mình muốn. Ông hãy tự mình nhìn ra điều đó.”

Những câu
cuối cùng trong bản viết tay. Marie đã đọc thuộc lòng. Tôi vẫn nghiến
răng và co tay thành nắm đấm, vẫn lắc đầu như một thằng nhóc thiểu năng
trí tuệ. Tôi nhắm mắt lại. Em không chịu buông tha tôi.

- Anh thử thay thế cái tên Florence bằng Hélène thì kết quả sẽ như thế nào?

- Em thôi đi, tôi nói. Marie tiếp tục:

-
Ariel làm gì khi đối diện với Matthieu? Hắn nghiêng mình kính cẩn. Hắn
tự hủy hoại mình còn Matthieu thì ra đi một mình. Cuối cùng lòng đã
thanh thản. Đó đúng là sự giải thoát của anh ta... Đối diện với anh,
Édouard đã làm gì, anh Alex?

Tôi kìm nén lắm mới không đấm tay lên bàn.

-
Anh chưa kể cho em nghe phần cuối của câu chuyện, Maria ạ. Em không
biết khả năng của hắn đâu. Em không biết những gì hắn đã bắt anh phải
hứng chịu đâu. Em không biết!

- “Phần tiếp theo” của câu chuyện,
Marie chỉnh lại. Đúng là em không biết, em hy vọng anh sắp cho em biết.
Nhưng chưa hết đâu. Câu chuyện tiếp tục hay không là tùy thuộc vào anh!

Tôi
không nghe rõ những lời nói đó lắm. Quán cà phê lúc đó ồn ào chói tai
kinh khủng. Tôi nhìn lên và thấy những cái miệng đang cười hớn hở ở
quầy. Tôi thấy những cái khay người ta đội trên đầu, thấy những cái
miệng đỏ hồng đang nhả khói, tôi thấy Marie, tôi thấy Léna, một phụ nữ
nhỏ nhắn ngồi bên cạnh tôi với một cái tẩu trên đôi môi đang cười, tôi
thấy Ed ma cà rồng đứng bất động bên một cái cột. Tôi đứng bật dậy, đẩy
bàn ra. Ly cà phê mà tôi chưa uống bị đổ.

- Chúng ta ra khỏi đây thôi! Tôi nói.

Ariel bặt vô âm tín trong gần chín năm.

Tôi
đã không thực hiện ước muốn cuối cùng của hắn, đã không biến điều ước
cuối cùng của hắn thành sự thật. Tôi đã đọc những cuốn sổ tay của hắn,
tôi đã ngồi hàng giờ để giải mã những chữ viết tượng hình của hắn. Tôi
đã không đưa lại những quyển sổ đó cho Florence. Em không biết gì về sự
tồn tại của những quyển sổ đó, em đã không biết gì hết.

Em cũng
không biết chính tôi là người đang giữ những quyển vở ghi chép của em -
những quyển vở màu xanh. Để làm gì? Như tôi đã nói, chúng tôi đi trên
một sợi dây và tôi đã đặt ra mục đích giữ được thăng bằng. Bằng mọi giá.

Một
vài tháng sau khi Ariel ra đi, Florence và tôi ngồi trên bờ biển đá
cuội. Hôm đó là một buổi sáng đầy nắng và gió. Khi em hỏi tôi có nhận
lời giữ mãi em bên mình hay không, tôi không đủ tự trọng để từ chối.
Hoặc vì yêu em quá nhiều.

Chẳng lẽ ông chưa bao giờ biết đến điều đó, thưa ông Astrid? Tình yêu.


chứ. Tất nhiên là có chứ! (Hãy nghĩ đến bức ảnh, hãy nghĩ đến những đứa
con làm quận trưởng với những cái mũ quá cỡ đội trên đầu). Hãy nhớ là
trong những khoảnh khắc đó, người được yêu, cho dù bất cứ ai, vẫn là một
người đặc biệt. Anh ta là trung tâm của thế giới, anh ta là cả thế giới
và là sự biện minh cho chính cuộc sống của các bạn. Lớn lao lắm. Xin
cảm ơn. Phải bấu víu vào đó. Hãy nhớ người đi yêu là một người không
đáng gì. Anh ta cô độc, cô độc và yếu ớt biết bao nhiêu. Dễ bị tổn
thương biết bao nhiêu. Anh ta có thể trở về với hư vô vào bất cứ lúc
nào.

Hiển nhiên rồi. Ông phải biết điều đó.

Báo cáo nội dung xấu