Ba tách trà - Chương 17 phần 1

CHƯƠNG 17

Cây anh đào trong cát

Nơi nguy hiểm nhất trên thế giới ngày nay, tôi nghĩ bạn có thể nêu ra, đó là Tiểu Lục Địa Ấn Độ và Đường Phân Giới ở Kashmir.

-
Tổng thống Bill Clinton, trước khi rời Washington trong chuyến viếng
thăm ngoại giao và thực hiện sứ mệnh hòa giải giữa Ấn Độ và Pakistan

Fatima
Batool nhớ lại tiếng “ùm” nghe rất rõ từ phía pháo binh Ấn Độ, chỉ cách
mười hai kilômét bên kia núi. Cô nhớ lại trái đạn pháo đầu tiên rít lên
một cách thanh nhã khi rơi xuống từ bầu trời không một gợn mây, và cách
mà cô và chị Aamina, đang cùng gieo kiều mạch, nhìn nhau ngay trước khi
trái đạn đầu tiên phát nổ.


Brolmo, ngôi làng của họ trong thung lũng Gultori, một địa điểm được
ghi trong những tấm bản đồ mà quân đội Ấn Độ ở bên kia đường biên giới
gần đó mang theo là “Kashmir bị Pakistan chiếm đóng”, chưa bao giờ có
chuyện gì mới xảy ra. Ít nhất là theo cách nhìn của Fatima, ở tuổi lên
mười. Cô nhớ mình đã nhìn vào mắt chị, khi bầu trời bắt đầu hát lên bài
ca xa lạ, và thấy chính vẻ sửng sốt của mình phản chiếu trong đôi mắt
đang mở to của Aamina, một cái nhìn như muốn nói, “Có chuyện gì mới ở
đây.”

Nhưng
sau trận bão lửa kim loại bay từ quả đạn pháo l55 milimet, Fatima muốn
nhớ lại càng ít càng tốt. Những hình ảnh, cứ như những hòn đá vùi chung
với than để nướng những lát bánh kurba quá nóng để có thể chạm vào. Có
những thân thể, cùng những phần thân thể trong cánh đồng lúa mì, khi
những tiếng ùm, tiếng rít và những tiếng nổ đến nhanh, rất gần nhau,
khiến cho chúng trở thành một tiếng thét duy nhất.

Aamina
nắm tay Fatima, và cùng nhau nhập vào đoàn dân làng hoảng hốt, tán
loạn, chạy nhanh hết sức mình, nhưng tất cả đều quá chậm như nhau, về
phía những hang đá nơi họ có thể trốn thoát khỏi bầu trời.

Từ
nơi trú ẩn trong bóng tối của lo âu, Fatima không thể hoặc không muốn
nhớ là Aamina đã quay trở lại trong cơn bão âm thanh đó như thế nào. Cô
nghĩ, có lẽ chị mình đang dẫn dắt những đứa trẻ nhỏ hơn vào. Đó là tính
cách của Aamina, Fatima nói. Về viên đạn pháo rơi ngay miệng hang sau
đó, Fatima không nhớ gì cả. Cô chỉ có thể nói là sau khi nó nổ, hayaat,
có nghĩa là linh hồn của chị cô đã tan vỡ và cuộc sống của họ không còn
có thể trở lại như xưa.

Vào
ngày 27 tháng 5 năm 1999, trong văn phòng dưới tầng hầm ở Montana lúc
nửa đêm, Mortenson lướt tìm trên mạng những chi tiết của vụ giao tranh
vừa đột ngột bùng nổ ở Kashmir. Anh chưa bao giờ nghe điều gì tương tự.

Kể
từ khi vụ chia cắt bạo lực tách rời Ấn Độ và Pakistan,Kashmir đã trở
nên dễ bùng cháy. Ấn Độ, với binh lực vượt trội có thể chiếm phần lớn
công quốc ngày xưa này. Và mặc dù Ấn Độ hứa tổ chức bầu cử và để cho
người Kashmir tự quyết định tương lai của họ, nhưng đại đa số dân Hồi
giáo ở Kashmir chưa bao giờ được sử dụng cơ hội đó.

Đối
với người dân Pakistan, Kashmir đã trở thành biểu tượng của mọi sự đàn
áp mà họ cho là người Hồi giáo phải chịu khi vùng thuộc địa Ấn-Anh tách
ra. Và đối với người Ấn, Kashmir tượng trưng cho một đường được vẽ ra,
nếu không phải là trên cát, thì đi qua một dãy các đỉnh núi cao năm
nghìn năm trăm mét. Nó đã trở thành lãnh thổ quý báu của các chiến binh
Mặt trận Giải phóng Jammu-Kashmir (JKLF) mà người Ấn Độ xem là những kẻ
khủng bố không được phép tranh giành từ lãnh thổ Ấn Độ. Và ở cả hai
phía, vùng đất được vẽ ra trên những sông băng hoang vu theo lệnh của
Lord Mounbatten, người Anh, vẫn còn là một vết thương gợi nhớ những ô
nhục thời thuộc địa.

Năm
1971, sau nhiều thập niên giao tranh lẻ tẻ, cả hai nước nhất trí một
Đường Phân Giới (LOC) được vẽ ngang qua một vùng đất quá hiểm trở và
hoang vu, vốn đã tạo thành rào cản hữu hiệu đối với việc tấn công quân
sự. “Các báo cáo về số thương vong nặng nề làm tôi bị sốc.” Mortenson
nhớ lại. “Phần lớn thời gian trong sáu năm đầu tôi ở Pakistan, giao
tranh dọc theo LOC được tiến hành giống như một thỏa thuận của quý ông
thuở xưa.”

“Quân
đội Ấn Độ và Pakistan đều xây dựng những chốt quan sát và những khẩu
đội pháo trên những dòng sông băng. Ngay sau tuần trà buổi sáng, người
Ấn Độ sẽ câu một hay hai trái pháo về phía các chốt của Pakistan bằng
những khẩu pháo cao xạ Bofors được sản xuất tại Thụy Điển. Và quân đội
Pakistan sẽ đáp trả bằng cách bắn vài phát sau khi hoàn tất việc cầu
nguyện buổi sáng. Chỉ có một ít thương vong, và cứ đến tháng chín, khi
thời tiết lạnh bắt đầu hoành hành như một ám hiệu, hai bên sẽ rời bỏ các
chốt của mình cho đến mùa xuân.”

Nhưng
vào tháng 4 năm 1999, trong một mùa băng tan chảy sớm bất thường, thủ
tướng Pakistan, Nawaz Sharif, quyết định kiểm tra ý chí chiến đấu của Ấn
Độ. Một năm trước đó, Pakistan đã làm cả thế giới sửng sốt bằng cách
tiến hành liên tiếp năm vụ thử vũ khí hạt nhân thành công. Việc đạt được
thành tích hủy diệt ngang bằng với người láng giềng Hindu đã kích động
đợt bùng phát mạnh mẽ lòng tự hào dân tộc - và với sự tán thành chính
phủ Pakistan - đến mức Sharif cho xây dựng một mô hình dựng đứng quy mô ở
đồi Chagai, nơi “Quả bom Hồi giáo” phát nổ, kế bên đường cao tốc đi qua
Điểm Số Không, địa điểm mà Pindi và Islamabad giao cắt nhau.

Trong
tháng đó, khoảng tám trăm chiến binh Hồi giáo được trang bị vũ khí hạng
nặng vượt LOC qua Gultori và chiếm những vị trí dọc theo các sườn núi
bên trong Kashmir thuộc Ấn Độ. Theo người Ấn Độ thì các thành viên của
Lữ đoàn Bộ binh Nhẹ phương Bắc, lực lượng tinh nhuệ được phân công để
bảo vệ phần lớn lãnh thổ phía bắc Pakistan, đã mặc quần áo dân sự và
xoay xở để xâm nhập sát cánh với quân mujahadeen không chính quy. Những
toán quân hỗn hợp do di chuyển vào vị trí quá bí mật nên đã không bị
phát hiện cho đến gần một tháng sau, khi các trinh sát viên của quân đội
Ấn Độ biết được những sườn núi cao khống chế các vị trí của họ trong và
xung quanh thị trấn Kargil đều đã bị Pakistan và các đồng minh chiếm
giữ.

Thủ
tướng Ấn Độ, Atal Bihari Vajpayee, lên án Sharif về việc xâm chiếm Ấn
Độ. Sharif đáp lại rằng kẻ xâm nhập là “những chiến binh tự do” hoạt
động độc lập với quân đội Pakistan, những người đã tự phát quyết định
tham gia cuộc chiến giải phóng người Hồi giáo Kashmir khỏi những kẻ áp
bức Hindu. Những phiếu lương và thẻ căn cước của Lữ đoàn Bộ binh Nhẹ
phương Bắc mà sau đó người Ấn khẳng định là đã tìm thấy trên các binh sĩ
bị giết chết lại cho thấy một câu chuyện khác.

Ngày
26 tháng 5 năm 1999, Vajpayee ra lệnh cho không quân Ấn Độ tiến hành
đánh trả lại Pakistan lần đầu tiên sau hơn hai mươi năm. Những chiếc máy
bay phản lực chiến đấu MiG và Mirage của Ấn Độ đánh bom các vị trí
chiến hào từ đợt này sang đợt khác. Và các chiến binh chiếm giữ các đỉnh
đồi, được vũ trang bằng tên lửa Stinger mà người Mỹ đã cung cấp cho các
chỉ huy mujahadeen ở Afghanistan để bắn hạ máy bay Liên Xô, đã loại một
chiếc MiG và một trực thăng vũ trang MI-17 ra khỏi bầu trời trong ngày
đầu tiên của cái mà thế giới sẽ gọi là “Xung đột Kargil”.

Những
cuộc chiến tranh không tuyên bố, kiểu “hoạt động cảnh sát” của người Mỹ
ở Việt Nam, như nó chính thức được gọi trong những năm đầu, rất thường
được giảm nhẹ bằng tên gọi chính thức. “Xung đột” không mô tả được khối
lượng lớn chất nổ mà các lực lượng Pakistan và Ấn Độ đã bắn vào nhau
trong năm 1999. Các lực lượng Pakistan đã giết chết hàng trăm binh lính
Ấn Độ, và theo phía Ấn Độ, rất nhiều thường dân đã bị kẹt trong hỏa lực.
Quân đội Ấn Độ hùng mạnh hơn nhiều đã bắn năm nghìn quả đạn pháo, đạn
cối và tên lửa mỗi ngày.

Theo
trang GlobalSecurity.org, suốt mùa xuân và mùa hè năm 1999, hơn 250.000
đạn pháo, bom và tên lửa của Ấn Độ đã bắn xuống Pakistan. Chưa có nơi
nào chịu mức độ hỏa lực cao như vậy kể từ cuộc Chiến tranh Thế giới lần
II. Và mặc dù quân đội Ấn Độ vẫn tiếp tục phủ nhận, nhưng theo những
nguồn tin dân sự thì nhiều trong số đạn pháo đó đã được bắn không phân
biệt vào những ngôi làng kém may mắn nằm dọc theo đường phân giới, những
ngôi làng như làng của Fatima Batool.

Mortenson
cảm thấy bất lực, đi tới đi lui trong tầng hầm giữa những cuộc điện
thoại gọi cho các mối liên lạc của mình trong quân đội Pakistan. Và
những báo cáo anh nghe được đã lấy đi của anh thêm vài giờ mà anh thường
sắp xếp để ngủ. Những dòng người tị nạn từ chiến sự đang vượt qua những
đèo cao bằng đôi chân và đang đến gần Skardu, kiệt sức, bị thương tích
và hết sức cần những dịch vụ mà không một ai ở Baltistan đã được trang
bị để cung ứng. Các giải pháp không nằm trong những chồng sách xếp cao
dựa tường, tràn ra trên các ngăn kệ rơi xuống sàn nhà. Các giải pháp nằm
ở Pakistan.

Mortenson đăng kí chuyến bay của mình.

Cao
nguyên Deosai vào giữa tháng sáu là một trong những khu vực hoang dã
đẹp nhất trên hành tinh, Mortenson nghĩ như vậy khi chiếc Land Cruiser
của anh leo về hướng Baltistan. Những mảng màu đỏ tía của đậu lupin được
quét lên trên những đồng cỏ cao giữa những ngọn núi bằng những nét cọ
lớn. Từng đàn bharal(19)sừng lớn, sống xa nơi con người cư trú, dõi theo
chiếc xe đang chạy không chút sợ hãi. Và ở phía tây, Rupal Face của
Nanga Parbat, dốc đá nguyên không đứt gãy lớn nhất trên trái đất mê hoặc
cái nhìn của Mortenson từ góc nhìn xa lạ này.

19. Cừu xanh

Hussein,
Apo và Faisal đã đến Islamabad để đón Mortenson, và Apo đã thuyết phục
anh cố gắng lái xe ba mươi sáu giờ đến Skardu trên những con đường
thường không thể vượt qua của Deosai, vì xa lộ Karakoram đã kẹt cứng với
những đoàn xe quân sự vận chuyển tiếp liệu cho vùng chiến sự và vận
chuyển binh lính chết trận trở về nhà an táng.

Mortenson
cho là mình sẽ đơn độc ở Deosai, vì những đèo cao của cao nguyên bốn
nghìn ba trăm mét tiếp giáp Ấn Độ này vẫn còn bị phủ tuyết. Nhưng từ cả
hai chiều: hướng về vùng xung đột Kargil hay rút lui từ đó, những đoàn
xe Toyota mui trần thùng đôi, những rơmooc quân sự của Taliban nêm đầy
những chiến binh để râu quấn khăn xếp đen. Những chiến binh trong những
chiếc xe thùng trên đường tiến về đông bắc vẫy những khẩu tiểu liên
Kalasnikov và ống phóng tên lửa khi xe họ đi qua. Những người bị thương
hướng về phía tây nam khua bông băng của họ một cách tự hào.

“Apo!”
Mortenson la lên qua tiếng động cơ, sau khi bốn tiếng còi của đoàn xe
quân sự buộc chiếc Land Cruiser phải tấp vào lề đường trong nhiều phút,
“Anh có bao giờ thấy nhiều Taliban như vậy chưa?”

“Bọn
Kabul cứ đến mãi.” Apo nói, sử dụng một từ địa phương để chỉ những
người ngoài cuộc mà mình khinh ghét vì đã đem bạo lực đến Baltistan.
“Nhưng chưa bao giờ với số lượng nhiều như thế này.” Apo lắc đầu buồn
bã. “Chúng phải rất vội vàng,” anh nói, nhổ qua cửa xe một vệt dài thuốc
lá nhai Copenhagen mà Mortenson đã đem từ Montanna sang cho anh, “để
trở thành liệt sĩ.”

Khi
họ đến nơi, Skardu đã bị kẹt trong cơn sốt chiến tranh. Những chiếc
Bedford gầm rú trở về từ chiến tuyến, chở đầy những quan tài phủ cờ
Pakistan trang trọng. Những chiếc trực thăng màu lục xỉn bay ù ù trên
đầu với số lượng mà Mortenson chưa từng thấy. Và những người chăn cừu
Gojar du mục, những người gypsy của Pakistan, đang dỗ dành những bầy dê
bất kham đi qua luồng xe quân sự đang lưu thông dày đặc, lùa chúng dọc
theo đường hành quân về phía Ấn Độ, nơi mà chúng cung cấp thực phẩm cho
quân đội Pakistan.

Bên
ngoài khách sạn Indus, hai chiếc Toyota thùng đôi màu đen với biển số
xe màu xanh nhạt dễ nhận biết của Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập và dòng chữ
SURF được in một cách khó hiểu trên cửa quay nghiêng ngay lối vào, đuôi
xe thò ra và chặn dòng tiến của các tài xế xe jeep không dám bóp còi. Và
trong sảnh khách sạn, khi Mortenson ôm chào Ghulam - người quản lí, và
em trai ông là Nazir, qua đôi vai Ghulam anh thấy hai người đàn ông râu
ria to lớn đang uống trà ở một chiếc bàn gỗ. Áo quần của họ cũng đầy bụi
như Mortenson.

“Người
đàn ông to con ngước nhìn lên từ tách trà và nói, ‘Chai!’ ngoắc tôi
lại.” Mortenson nói. “Tôi đoán ông ta ở độ tuổi năm mươi và phải cao đến
hai mét, tôi nhớ rõ vì tôi thường là người to con nhất ở Baltistan. Ông
ta có,... gọi là gì nhỉ? Cằm xị. Và một cái bụng to. Tôi biết không
phải ngẫu nhiên mà ông ta lên đến đây qua những con đèo năm nghìn năm
trăm mét, do đó tôi hình dung ông ta phải là một người chỉ huy.”

Quay lưng về phía những người đàn ông, Ghulam, nhướng đôi lông mày với Mortenson, cảnh báo anh.

“Tôi biết.” Mortenson nói, bước lại để gặp họ.

Anh
bắt tay với cả người đàn ông to con và người đi cùng ông ta, người này
có bộ râu thưa dài gần đến thắt lưng và hai cánh tay nổi sọc như củi
phơi mưa nắng. Khi Mortenson ngồi với hai người đàn ông, anh thấy một
cặp AK-47 được tra dầu cẩn thận trên sàn giữa chân họ.

“Pe khayr raghie.” người đàn ông nói bằng tiếng Pashto, “Xin chào.”

“Khayr ose.” Mortenson đáp, bày tỏ sự kính trọng bằng tiếng Pashto mà mình đã học sau tám ngày bị giam giữ ở Waziristan.

“Kenastel!” người chỉ huy ra lệnh, “Ngồi xuống đi.”

Mortenson
ngồi xuống, rồi chuyển sang tiếng Urdu, để có thể cẩn thận không nói
sai. Anh quấn chiếc khăn kaffiyeh carô đen trắng quanh đầu, kiểu khăn
giống với chiếc khăn của Yasir Arafat. Anh đội khăn để tránh bụi bay vào
miệng, nhưng hai người đàn ông này xem đó là một sự thể hiện quan điểm
chính trị và mời anh dùng trà.

“Người
đàn ông to con tự giới thiệu mình là Gul Mohammed. Rồi ông ta hỏi tôi
có phải là người Mỹ hay không. Tôi nghĩ nếu không nói thì họ cũng biết,
nên tôi nói tôi là người Mỹ.” Mortenson bí mật gật đầu với Faisal Baig,
đứng cách bàn vài tấc, hoàn toàn cảnh giác và người cận vệ lùi ra, ngồi
cùng Apo và Parvi.

“Bill
Clinton, tốt!” Gul Mohammed nói bằng tiếng Anh, đưa ngón cái lên một
cách nhiệt tình, rốt cuộc Clinton có thể thất bại trong việc củng cố hòa
bình giữa Israel và Palestin, nhưng dẫu muộn màng, ông ta đã đưa quân
đến Bosnia vào năm 1994 để dừng cuộc thảm sát người Hồi giáo của người
Serbia Thiên Chúa giáo, một thực tế mà mujahadeen như Gul sẽ không bao
giờ quên.

Người
đàn ông to con đặt tay mình lên vai anh chàng người Mỹ một cách tán
thành. Mortenson ngửi thấy mùi cơ thể và mùi thịt cừu nướng. “Anh là một
người lính.” ông ta nói thay vì hỏi.

“Tôi từng là một người lính.” Mortenson trả lời. “Cách đây nhiều năm. Nhưng giờ tôi xây trường học cho trẻ em.”

“Anh
có biết trung tá Samuel Smith, từ Fort Wort, Texaskhông?” người đàn ông
gầy hơn hỏi. “ông ta cũng là lính Mỹ. Chúng tôi đã cùng nhau đè bẹp bọn
Xô Viết như những con bọ ở Spin Boldak.” ông ta nói và miết gót đôi ủng
trận xuống sàn.

“Tôi lấy làm tiếc.” Mortenson nói. “Nước Mỹ rất rộng lớn.”

“Rộng
lớn và hùng mạnh. Ở Afghanistan chúng tôi có Thánh Allah ở phe mình.”
Gul cười tươi nói. “Lại có cả tên lửa Stinger của Mỹ nữa.”

Mortenson
hỏi hai người đàn ông có phải họ vừa trở về từ mặt trận không, và Gul
Mohammed có vẻ gần như nhẹ nhõm khi mô tả mình đã thấy gì ở đó. Ông ta
nói mujahadeen đã chiến đấu anh dũng, nhưng không quân Ấn Độ tàn sát
khủng khiếp những người đang cố giữ các vị trí đỉnh đồi kể từ khi họ
biết cách thả bom từ trên cao, ngoài tầm tên lửa của mujahadeen. Gul
giải thích, “Pháo cao xạ Bofors của chúng cũng rất mạnh. Thụy Điển nói
mình là một quốc gia hòa bình nhưng lại bán những khẩu pháo chết tiệt.”

Hai
người đàn ông hỏi kĩ Mortenson về công việc của anh và gật đầu tán đồng
khi biết anh đang giáo dục bốn nghìn người Sunni Afghanistan tị nạn ở
Peshawar, cũng như trẻ em Shia ở Baltistan. Gul bảo mình sống ở thung
lũng Daryle, không xa cây cầu mà mujahadeen đã phong tỏa năm năm trước
khi Mortenson đang chở ngôi trường Korphe trên xa lộ Karakoram trên mui
chiếcBedford thuê. “Chúng tôi rất cần những ngôi trường trong thung lũng
của mình.” Gul nói. “Sao anh không về với chúng tôi và xây dựng mười
hay hai mươi ngôi trường ở đó? Ngay cả cho con gái, không có vấn đề gì.”

Mortenson
giải thích rằng CAI hoạt động với ngân sách nhỏ và mọi dự án trường học
đều phải được ban giám đốc chấp thuận. Anh nén cười khi nghĩ đến việc
ông ta đưa ra một yêu cầu đặc biệt như vậy, rồi hứa sẽ đưa vấn đề này ra
trong buổi họp ban giám đốc lần tới.

Đến
9 giờ tối, mặc cho không khí trong sảnh Indus ngột ngạt, Mortenson thấy
mí mắt mình sụp xuống. Anh đã ngủ quá ít trong hành trình bụi bặm qua
Deosai. Với sự hiếu khách của người Pashtunwali, hai người chỉ huy hỏi
Mortenson có muốn chia sẻ chung chỗ ở của họ đêm đó hay không. Ghulam và
Nazir đã đặt riêng một phòng nhỏ yên tĩnh ở phía sau khách sạn, bao giờ
cũng thế, dành cho Mortenson. Anh cảm ơn hai người đàn ông, và cúi
người, đặt bàn tay lên tim mình, cáo từ.

Nửa
đường trong hành lang đến phòng mình, một anh chàng gầy còm tóc đỏ với
đôi mắt lồi màu xanh ló ra từ cánh cửa lò xo phòng bếp và kéo tay áo
Mortenson. Agha Ahmed, anh chàng phụ bếp và khuân vác hành lí không bình
thường của khách sạn Indus đã chăm chú theo dõi sảnh khách sạn từ khe
cửa.

“Bác
sĩ Greg!” anh ta la lên cảnh báo, đủ lớn để cả khách sạn nghe thấy, một
bọt nước bọt hình thành ở khóe miệng anh ta như mọi khi. “Taliban!”

“Tôi biết.” Mortenson cười nói và lê bước dọc theo hành lang về phòng.

Syed
Abbas tự gọi điện thoại cho Mortenson vào buổi sáng. Mortenson chưa bao
giờ thấy ông ta lo lắng như vậy. Thông thường, vị giáo sĩ giữ phong
cách trang nghiêm và nhả ra từng chữ đều đều như nhịp ngón tay lần trên
tasbih(20). Nhưng sáng hôm đó, lời của Syed Abbas tuôn ra như một dòng
thác. Cuộc chiến là một tai họa đối với thường dân Gultori, Abbas nói.
Không một ai biết có bao nhiêu dân làng đã chết và bị thương tật bởi bom
đạn Ấn Độ, nhưng đã có hai nghìn người tị nạn đến Skardu, và hàng nghìn
người khác đang chờ đợi điều tồi tệ nhất của cuộc chiến trong các hang
đá, trước khi gia nhập vào dòng người tị nạn.

 

20. Chuỗi hạt cầu nguyện

 

Syed
Abbas nói rằng ông đã liên hệ với chính quyền các vùng phía bắc và Cao
ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc, và cả hai đã từ chối lời yêu cầu giúp đỡ của
ông. Chính quyền địa phương nói họ không có nguồn lực để đối phó với
khủng hoảng. Và Liên Hiệp Quốc cho biết không thể giúp các gia đình
Gultori chạy tránh giao tranh vì họ là những người tị nạn trong nước,
không được chạy qua các đường biên giới quốc tế.

“Người dân cần gì?” Mortenson hỏi.

“Mọi thứ.” Abbas nói. “Nhưng trên hết là nước.”


phía tây Skardu, Syed Abbas lái xe đưa Mortenson, Apo và Parvi đến xem
thành phố lều bạt mới với những tấm nhựa bạc màu được căng trên những
đụn cát bao quanh sân bay. Họ rời khỏi đường, cởi giày và trong lúc
những chiếc máy bay chiến đấu Mirage sản xuất tại Pháp của không quân
Pakistan gầm rú phía trên đầu trên đường tuần tra, họ đi bộ qua hàng
chục đụn cát về phía những người tị nạn. Quanh sân bay, những tay súng
cao xạ ngồi trong ụ súng bằng bao cát, cảnh giác cao độ, vạch nòng súng
theo những đường cong uốn lượn trên bầu trời phía Ấn Độ.

Báo cáo nội dung xấu