Con trai thần Neptune - Phần 10-P1

FRANK CHẲNG NHỚ GÌ NHIỀU VỀ tang lễ. Nhưng cậu vẫn còn nhớ những giờ trước đó –
khi bà ngoại đi ra sân sau và tìm thấy cậu đang bắn tên vào bộ sưu tập gốm sứ của
bà.

Nhà bà ngoại là một biệt thự buồn tẻ xây bằng đá xám
rộng mười hai mẫu ở Bắc Vancouver. Sân sau của bà chạy thẳng vào Công viên Lynn
Canyon.

Buổi sáng hôm đó lạnh và có mưa phùn, nhưng Frank chẳng
cảm nhận được sự lạnh giá. Cậu mặc một bộ vest len đen và áo bành-tô đen từng
thuộc về ông ngoại cậu. Trước đấy, Frank đã giật mình và buồn rầu vì nhận ra rằng
chúng vừa vặn với mình. Bộ quần áo có mùi như mùi băng phiến ướt và hoa nhài. Lớp
vải hơi ngứa nhưng ấm áp. Với cung tên và ống đựng tên, chắc cậu không khác một
người quản gia cực kỳ lợi hại là mấy.

Cậu chất ít đồ gốm của bà ngoại vào xe đẩy và bê nó
ra sân sau, nơi cậu xếp chúng thành bia bắn trên các cột gỗ cũ ở rìa khu đất. Cậu
đã bắn tên được một lúc lâu, các ngón tay đã bắt đầu mất cảm giác. Cứ mỗi mũi
tên, Frank lại tưởng tượng rằng cậu đang giải quyết các rắc rối của chính mình.

Những tên bắn tỉa ở Afghanistan. Bụp. Một bình trà vỡ
tan tành khi một mũi tên xuyên qua giữa bình.

Huân chương anh dũng hy sinh, một miếng bạc tròn dẹt
gắn vào một dải ruy băng đỏ-đen, được truy tặng vì đã tử trận trong lúc làm nhiệm
vụ và trao lại cho Frank như thể đó là một vật quan trọng, vật khiến mọi việc đều
trở nên đâu vào đấy. Thụp. Một tách trà ghim chặt vào mặt gỗ.

Viên sĩ quan đã đến để nói với cậu rằng: “Mẹ cậu là
một anh hùng. Đại úy Emily Trương đã hy sinh khi đang cố giải cứu đồng đội.” Rắc.
Một cái đĩa xanh-trắng vỡ thành từng mảnh.

Hình phạt của bà ngoại cậu: Đàn ông không được khóc.
Đặc biệt là những người đàn ông họ Trương. Fai à, cháu sẽ phải chịu đựng.

Chỉ có bà ngoại gọi cậu là Fai

Frank là cái kiểu tên gì mới được? bà sẽ rầy la như
thế. Đó không phải là tên Trung Quốc.

Cháu có phải là người Trung Quốc đâu, nghĩ vậy nhưng
Frank không dám nói ra. Nhiều năm trước, mẹ cậu từng nói: Đừng cãi lời bà ngoại
con. Việc đó sau này chỉ làm cho con đau khổ hơn thôi. Mẹ đã đúng. Và giờ Frank
không còn người thân nào khác ngoài bà.

Thịch. Mũi tên thứ tư cắm vào hàng rào gỗ và cắm chặt
ở đó, rung rung.

“Fai,” bà ngoại gọi cậu.

Frank quay người lại.

Bà đang nắm chặt một cái hộp gỗ gụ to cỡ hộp đựng
giày mà Frank chưa nhìn thấy bao giờ. Với bộ váy đen cổ cao và búi tóc bạc giản
dị, bà trông giống một cô giáo của thập niên 80.

Bà quan sát bãi chiến trường: đồ gốm sứ trong xe đẩy,
mảnh vỡ của bộ đồ trà mà bà yêu thích nằm tán loạn khắp mặt cỏ, những mũi tên của
Frank cắm lỗ chỗ dưới đất, trên các thân cây, các cột hàng rào, và một mũi tên
cắm vào đầu tượng thần lùn giữ của đang mỉm cười.

Frank nghĩ rằng bà sẽ la mắng hoặc dùng cái hộp đánh
mình. Câu chưa bao giờ gây ra chuyện gì tệ hại như lần này, cũng chưa một lần
giận quá mất khôn.

Vẻ mặt bà cậu đầy đau khổ lẫn chê trách. Bà chẳng giống
mẹ Frank chút nào. Cậu tự hỏi làm sao tính tình mẹ mình lại có thể trở nên dễ
chịu như thế – luôn cười vui vẻ, luôn dịu dàng. Frank không tưởng tượng ra được
cảnh mẹ lớn lên cùng bà ngoại nhiều hơn cảnh bà xông pha trên chiến trường là mấy
– mặc dù hai tình huống chắc là hoàn toàn khác nhau.

Cậu chờ đợi bà ngoại nổi giận. Có thể cậu sẽ bị cấm
túc và không đến được lễ tang. Cậu muốn làm bà đau khổ vì lúc nào cũng quá xấu
tính, vì đã để mẹ cậu tử trận, vì đã la rầy buộc cậu phải vượt qua chuyện này.
Tất cả những gì bà quan tâm là bộ sưu tập ngớ ngẩn của bà.

“Ngừng ngay hành vi lố bịch này đi,” bà nói. Giọng
bà nghe chẳng tức tối chút nào. “Việc đó hạ thấp phẩm giá của cháu.”

Với sự ngạc nhiên của Frank, bà đá một trong số những
tách trà yêu thích của mình sang bên.

“Xe sẽ sớm đến đây,” bà nói. “Chúng ta cần nói chuyện.”

Frank ngẩn người. Cậu nhìn kỹ cái hộp gỗ gụ hơn.
Trong khoảnh khắc kinh sợ, cậu tự hỏi có phải trong đấy chứa tro của mẹ mình
không, nhưng đó là điều không thể nào. Ngoại đã nói với cậu rằng sẽ có nghi thức
an táng theo kiểu quân đội. Vậy thì sao bà ngoại lại cầm cái hộp cẩn thận thế
kia, như thể thứ được chứa bên trong khiến bà đau buồn?

“Vào nhà đi cháu,” bà nói. Rồi chẳng cần đợi xem cậu
có đi theo hay không, bà quay người và đi về phía ngôi nhà.

Trong phòng khách, Frank ngồi trên ghế sofa nhung,
xung quanh là các bức ảnh gia đình kiểu cũ, các bình sứ còn to hơn xe đẩy của cậu
và các bức tranh thư pháp màu đỏ. Frank không biết nghĩa những từ thư pháp đó.
Cậu chưa bao giờ có hứng thú học chúng lắm. Cậu cũng chẳng biết hết mọi người
trong các bức ảnh.

Bất cứ khi nào bà ngoại bắt đầu thuyết giảng về tổ
tiên cho cậu nghe – chuyện họ đã đi khỏi Trung Quốc, sau đó kinh doanh xuất nhập
khẩu thành công và trở thành một trong số các gia tộc người Hoa giàu có nhất
Vancouver như thế nào – ừm, chuyện đó khá nhàm. Frank là thế hệ người Canada thứ
tư. Cậu không quan tâm đến cố hương và mớ đồ cổ mốc meo cũ kỹ đó. Từ tiếng Hoa
duy nhất cậu nhận biết được là họ của mình: Trương. Bậc thầy cung thủ. Chỉ vì
nghĩa của nó thật bảnh.

Bà ngoại ngồi kế bên cậu, dáng ngồi của bà cứng nhắc,
hai tay chắp lại phía trên cái hộp.

“Mẹ cháu muốn cháu nhận cái này,” bà miễn cưỡng nói.
“Mẹ cháu đã giữ nó từ khi cháu hãy còn đỏ hỏn. Khi con bé lên đường đi chiến đấu,
nó đã tin tưởng trao nó cho ta. Nhưng giờ nó đã mất rồi. Và cháu sẽ sớm ra đi
thôi.”

Dạ dày Frank nhói đau. “Ra đi? Đi đâu ạ?”

“Ta già rồi,” bà ngoại nói, cứ như đây là một thông
báo gây ngạc nhiên. “Không sớm thì muộn rồi ta cũng về với tổ tiên thôi. Ta
không thể dạy cho cháu các kỹ năng mà sau này cháu sẽ cần, và ta không đảm
trách gánh nặng này mãi được. Nếu có chuyện gì đó với nó, ta sẽ không bao giờ
tha thứ cho mình. Cháu sẽ chết.”

Frank không chắc là mình có nghe rõ lời bà không. Bà
ngoại nói cứ như thể cuộc đời cậu phụ thuộc vào cái hộp này ấy. Cậu băn khoăn
vì sao trước đây mình chưa từng thấy nó. Bà ắt đã khoá nó lại trên gác mái –
căn phòng duy nhất mà Frank bị cấm đến gần. Bà thường nói bà cất giữ những vật
quý giá nhất của mình ở trên đó.

Bà đưa cái hộp cho cậu. Tay run run, cậu mở nắp hộp
ra. Bên trong, được đặt trong lớp vải lót bằng nhung, là một thứ gây kinh hãi,
thay đổi cuộc đời, vô cùng quan trọng... một mẩu gỗ.

Nó trông giống một mẩu gỗ dạt – cứng và nhẵn nhụi,
được chạm trổ thành một vật có hình gợn sóng. Nó to bằng một cái điều khiển
tivi. Phần đầu ám đen. Frank chạm vào phần đã bị đốt cháy. Vẫn còn cảm giác âm ấm.
Tàn tro để lại một vết nhọ đen trên ngón tay cậu.

“Nó là một que củi,” cậu nói. Cậu không thể đoán ra
vì sao bà ngoại lại tỏ ra căng thẳng và nghiêm trọng đến vậy.

Hai mắt bà bừng sáng. “Fai, cháu biết các lời tiên
tri chứ? Cháu có biết gì về các vị thần không?”

Các câu hỏi làm cậu thấy không thoải mái. Cậu nghĩ đến
những tượng thần bất tử Trung Quốc bằng vàng ngớ ngẩn của bà ngoại, sự mê tín của
bà về việc đặt đồ đạc trong nhà ở những nơi cụ thể nào đó và việc tránh những
con số xui xẻo. Các lời tiên tri khiến cậu liên tưởng đến món bánh may mắn, mặc
dù món ấy không phải là của người Hoa – không hẳn – nhưng đám trẻ hay bắt nạt ở
trường đã trêu chọc cậu về những thứ ngu ngốc đại loại như: Khổng Tử nói rằng...
hết thảy cái mớ vớ vẩn đó. Thậm chí Frank còn chưa đặt chân đến Trung Quốc lần
nào. Cậu chẳng muốn dính líu gì đến xứ sở đó. Nhưng dĩ nhiên, bà ngoại không muốn
nghe cậu nói vậy.

“Một ít thôi ngoại à,” cậu nói. “Không nhiều lắm.”

“Phần lớn mọi người đều đã chế giễu câu chuyện của mẹ
cháu,” bà nói. “Nhưng ta thì không. Ta biết các lời tiên tri và các vị thần.
Các vị thần Hy Lạp, La Mã, Trung Quốc – họ có liên quan mật thiết đến gia tộc
chúng ta. Ta không chút nghi ngờ những gì mẹ cháu đã nói với ta về cha cháu.”

“Khoan đã... chuyện gì

“Cha cháu là một vị thần,” bà thẳng thắn nói.

Nếu bà ngoại là người có khiếu hài hước, Frank hẳn
đã nghĩ bà đang nói đùa. Nhưng bà ngoại chưa bao giờ biết đùa. Liệu bà có mắc
chứng lão suy không nhỉ?

“Đừng có há hốc miệng nhìn ta!” bà gắt. “Ta chưa lẫn
đâu. Đã bao giờ cháu thắc mắc sao cha cháu không về đây lấy một lần chưa?”

“Ông ấy...” Frank ngập ngừng. Việc mẹ mất đã đủ đau
khổ rồi. Cậu không muốn nghĩ thêm về cha mình nữa. “Ông ấy là quân nhân, như mẹ
vậy. Ông đã mất tích trong lúc chiến đấu. Ở Iraq.”

“Hừ. Ông ấy là một vị thần. Ông ấy yêu mẹ cháu vì mẹ
cháu là một chiến binh bẩm sinh. Mẹ cháu cũng giống như ta – mạnh mẽ, dũng cảm,
tốt bụng, xinh đẹp.”

Mạnh mẽ và dũng cảm, Frank có thể tin điều đó. Việc
hình dung ra bà ngoại tốt bụng hay xinh đẹp thì có khó hơn.

Tuy vẫn nghi ngờ điều này là do bà bị mất bộ sưu tập
đồ bằng cẩm thạch nhưng cậu vẫn hỏi, “Là vị thần nào ạ?”

“La Mã,” bà nói. “Ngoài ra ta không biết gì hơn. Mẹ
con không nói gì cả, hoặc có thể bản thân nó cũng không biết. Căn cứ vào gia tộc
chúng ta, chẳng có gì ngạc nhiên khi một vị thần yêu mẹ con. Ông ấy ắt biết mẹ
con có dòng máu cổ xưa.”

“Khoan đã bà... chúng ta là người Hoa cơ mà. Sao các
vị thần La Mã lại muốn hẹn hò với những người Canada gốc Hoa cơ chứ?”

Hai lỗ mũi bà ngoại phồng lên. “Nếu cháu thấy phiền
khi học lịch sử gia tộc, thì Fai, cháu phải biết điều này. Trung Quốc và La Mã
không khác nhau nhiều lắm, cũng không tách biệt như cháu hằng tin. Gia tộc
chúng ta phát xuất từ tỉnh Cam Túc, một thị trấn từng được gọi là Li-Jien. Và
trước đó... như ta đã nói, dòng máu cổ xưa. Dòng dõi của các hoàng tử và các
anh hùng.”

Frank chỉ biết trân mắt nhìn bà.

Bà bực bội thở dài. “Những lời của ta cứ như nước đổ
đầu vịt ấy! Cháu sẽ biết được sự thật khi cháu đến trại. Có thể cha cháu sẽ thừa
nhận cháu. Nhưng hiện tại, ta phải giải thích vụ mẩu củi này cho cháu.”

Bà chỉ về phía lò sưởi lớn bằng đá. “Không lâu sau
khi cháu được sinh ra, một vị khách đã xuất hiện trong lò sưởi của chúng ta.
Lúc ấy mẹ cháu và ta đang ngồi trên chiếc ghế đi-văng ở đây, ngay nơi cháu và
ta ngồi bây giờ. Cháu thì nhỏ xíu, được bọc trong mền màu xanh dương, và mẹ
cháu đang bế cháu trên tay.”

Chuyện đó nghe như một ký ức ngọt ngào, nhưng bà ngoại
cậu lại kể bằng giọng cay đắng, như thể bà đã biết, ngay từ lúc đó, rằng Frank
sẽ trở thành một đứa ngốc lớn xác vụng về.

“Một phụ nữ hiện ra trong ngọn lửa,” bà nói tiếp.
“Bà ta là một người đàn bà da trắng – mặc trang phục bằng lụa màu xanh dương và
khoác một chiếc áo choàng kỳ lạ giống da một con dê.”

“Một con dê,” Frank lặng người.

Bà ngoại cậu cau có. “Đúng thế, rửa tai cháu mà nghe
đây, Fai Trương! Ta quá già để kể lại từng chuyện đến hai lần! Người đàn bà với
tấm da dê đó là một nữ thần. Ta có thể nói đi nói lại những điều này. Bà ta mỉm
cười với đứa bé – với cháu đấy – và bà ta bảo với mẹ cháu, bằng một giọng Quan
Thoại thật chuẩn, không hơn không kém: ‘Nó sẽ là người khép lại vòng tròn. Nó sẽ
đưa gia tộc các ngươi trở về với nguồn cội và mang đến cho các ngươi vinh dự to
lớn.’”

Bà ngoại khịt mũi. “Ta không tranh cãi với các nữ thần,
nhưng có lẽ người đó đã không nhìn thấy tương lai rõ ràng cho lắm. Dù có là gì
thì bà ta cũng đã nói thế này, ‘Đứa bé sẽ đến trại và khôi phục danh tiếng của
các ngươi ở đó. Nó sẽ giải thoát Thanatos ra khỏi xiềng xích băng giá...”

“Khoan đã ngoại, ai ạ?”

“Thanatos,” bà ngoại cậu kiên nhẫn lặp lại. “Tên Hy
Lạp của Tử Thần. Giờ liệu ta có thể tiếp tục mà không bị ngắt lời nữa không? Nữ
thần nói, ‘Dòng máu của Pylos chảy mạnh mẽ hơn trong đứa trẻ này từ phía người
mẹ. Đứa bé sẽ có được món quà của dòng họ Trương, đồng thời cũng sẽ kế thừa các
sức mạnh từ cha nó.’”

Bỗng nhiên lịch sử gia tộc của Frank dường như không
còn nhàm chán nữa. Cậu vô cùng muốn hỏi câu đó có nghĩa là gì – sức mạnh, món
quà, dòng máu của Pylos. Cái trại kia là thế nào, và cha cậu là ai? Nhưng cậu
không đị cắt ngang lời bà ngoại lần nữa. Cậu muốn bà tiếp tục kể.

“Không có sức mạnh nào xuất hiện mà không phải trả
giá, Fai à,” bà nói. “Trước khi nữ thần đó biến mất, bà ta đã chỉ vào ngọn lửa
và nói, ‘Thằng bé sẽ là người mạnh nhất trong gia tộc các ngươi, và là người vĩ
đại nhất. Nhưng Ba nữ Thần Mệnh cũng đã vạch rõ rằng nó cũng sẽ là người dễ gặp
nguy hiểm nhất. Cuộc đời nó sẽ chói sáng và ngắn ngủi. Ngay khi mẩu gỗ đó cháy
hết – cái que củi ở rìa ngọn lửa kia kìa – con trai ngươi được định là sẽ chết.’”

Frank gần như không thể thở nổi. Cậu nhìn cái hộp
trong lòng mình và vết tro trên ngón tay cậu. Câu chuyện nghe khá buồn cười, nhưng
đột nhiên mẩu gỗ dạt trong tay cậu dường như đáng sợ hơn, lạnh lẽo hơn và nặng
nề hơn. “Đây... đây...”

“Đúng thế, thằng cháu ngốc của ta,” bà ngoại nói. “Vật
này chính là mẩu gỗ đó. Khi nữ thần biến mất, ta đã chộp ngay lấy nó đem ra khỏi
lò lửa. Từ bấy đến nay, chúng ta đã cất giữ nó.”

“Nếu nó cháy hết, cháu sẽ chết sao?”

“Điều đó chẳng lạ lẫm gì cho lắm,” bà ngoại nói tiếp.
“La Mã, Trung Quốc là như thế – nơi số phận của con người thường được dự báo
trước và đôi khi còn có thể ngăn ngừa được kiếp nạn. Ít nhất là trong một thời
gian. Giờ mẩu củi này thuộc về cháu. Hãy giữ nó cẩn thận. Chừng nào nó còn an
toàn thì cháu sẽ vẫn bình an vô sự.”

Frank lắc đầu. Cậu muốn cãi lại rằng đó chỉ là một
truyền thuyết ngớ ngẩn. Có khi bà ngoại đang cố hù cậu sợ vì tội làm vỡ đồ sứ của
bà.

Nhưng ánh mắt bà có vẻ ngang ngạnh. Dường như bà
đang thách thức Frank: Nếu cháu không tin, đốt nó đi.

Frank đóng nắp hộp lại. “Nếu dễ gặp rủi ro như vậy,
sao không đóng kín nó lại bằng thứ gì đó không cháy như nhựa hoặc thép ạ? Sao
không đặt nó vào trong két ký gửi an toàn hả bà?”

“Chuyện gì sẽ xảy ra,” bà ngoại băn khoăn, “nếu
chúng ta bao bọc mẩu gỗ bằng một loại vật chất nào đó. Cả cháu nữa, liệu cháu
có bị ngạt thở không? Ta không biết. Mẹ cháu sẽ không mạo hiểm. Con bé không
dám rời xa cái que, vì sợ sẽ có chuyện xấu xảy ra. Cướp ngân hàng. Cháy nhà. Những
việc kỳ lạ sẽ phát sinh khi một người nào đó cố lừa gạt số mệnhon cho rằng cái
que đó sẽ an toàn hơn trong sự bảo vệ của nó, cho đến khi nó lên đường đi chiến
đấu. Rồi nó trao nó cho ta.”

Bà ngoại cáu kỉnh thở dài. “Emily thật dại dột khi
đi ra chiến trận, mặc dù ta vẫn đinh ninh mình luôn biết đó là định mệnh của
con bé. Nó hy vọng được gặp lại cha con lần nữa.”

“Mẹ nghĩ... mẹ nghĩ là ông ấy sẽ ở Afghanistan sao?”

Bà ngoại dang hai tay ra, như thể điều đó vượt quá sự
hiểu biết của bà. “Nó cứ vậy mà đi. Và đã hy sinh thật anh dũng. Nó đã nghĩ rằng
món quà của gia tộc sẽ bảo vệ nó. Chắc chắn nhờ thế nó đã cứu được những người
lính đó. Nhưng món quà ấy sẽ không bao giờ bảo hộ cho gia tộc chúng ta. Nó đã
chẳng giúp gì cho cha ta, hay cha ông ấy. Cả với ta nữa. Giờ thì cháu sắp sửa
trưởng thành rồi. Cháu phải đi theo con đường đó.”

“Nhưng... là con đường nào ạ? Món quà của chúng ta
là gì – thuật bắn cung sao?”

“Cháu và cái thuật bắn cung của cháu! Thằng nhóc ngốc
nghếch này. Cháu sẽ sớm tìm ra thôi. Tối nay, sau lễ tang, cháu sẽ phải đi về
phía nam. Mẹ cháu đã nói nếu như nó không trở về, Lupa sẽ phái người đưa tin đến.
Họ sẽ hộ tống cháu đến nơi mà con cái của các vị thần được huấn luyện cho số phận
của chúng.”

Frank có cảm giác như thể mình đang bị tên bắn vào
người, trái tim cậu tan thành những mảnh sứ nhỏ. Cậu vẫn chưa tỏ lời của ngoại
lắm, nhưng có một điều rõ ràng là: bà đang đá cậu ra khỏi nhà.

“Bà cứ thế để cháu đi sao?” cậu hỏi. “Người cuối
cùng trong gia đình bà ấy?”

Miệng bà ngoại cậu run run. Đôi mắt bà trông rơm rớm.
Frank choáng váng khi nhận ra bà mình suýt bật khóc. Nhiều năm trước đây, bà đã
mất đi chồng mình, rồi đến con gái, và giờ bà sắp phải đuổi đứa cháu trai độc
nhất của mình rời đi. Nhưng bà đứng dậy khỏi đi-văng và đứng thẳng người, dáng
điệu của bà cứng nhắc và đúng tư thế như mọi khi.

“Khi đến trại,” bà dặn dò, “cháu phải nói chuyện
riêng với pháp quan. Nói với cô ta rằng ông cố của cháu là Shen Lun. Chuyện ở
San Francisco cũng đã qua lâu rồi. Hy vọng họ sẽ không lấy mạng cháu vì những
gì ông cháu đã làm, nhưng cháu phải cầu xin họ tha thứ cho những hành vi của
ông ấy.

“Chuyện này càng nghe càng hấp dẫn đây,” Frank lầm bầm.

“Nữ thần từng nói cháu sẽ mang gia tộc chúng ta quay
trở lại điểm xuất phát.” Giọng bà ngoại cậu chẳng có lấy chút thương cảm nào.
“Bà ta đã chọn sẵn đường đi cho cháu nhiều năm rồi, và nó sẽ không dễ dàng gì
đâu. Nhưng giờ là thời gian dành cho tang lễ. Chúng ta còn có các nghĩa vụ. Đi
nào. Hẳn là xe đang đợi.”

Tang lễ đối với Frank mà nói là một ký ức mờ nhạt:
những khuôn mặt nghiêm nghị, tiếng mưa rơi tí tách trên tấm vải bạt che phủ khoảng
trống bao quanh ngôi mộ, tiếng kêu răng rắc từ súng trường của hàng lính danh dự,
hình ảnh quan tài chìm dần vào trong lòng đất.

Đêm đó, những con sói đến. Chúng tru lên ở mái hiên
trước. Frank đi ra ngoài để gặp chúng. Cậu cầm lấy túi du lịch, những bộ quần
áo ấm nhất, cung và ống tên của mình. Huân chương anh dũng hy sinh của mẹ được
nhét vào túi du lịch. Mẩu củi than được bọc cẩn thận bằng ba lớp vải trong túi
áo khoác, liền kề với tim cậu.

Cuộc hành trình đi về phía nam của cậu bắt đầu – đến
Nhà Sói ở Sonoma, và cuối cùng là đến Trại Jupiter, nơi cậu nói chuyện riêng với
Reyna như bà ngoại đã căn dặn. Cậu cầu xin sự tha thứ cho người cố mà cậu chẳng
hề biết chút gì về người đó. Reyna đã cho phép cậu gia nhập quân đoàn. Cô chưa
bao giờ kể cho cậu nghe về việc mà ông cố cậu đã làm, nhưng chắc chắn cô biết
rõ ngọn ngành câu chuyện. Frank có thể khẳng định đó là một việc chẳng hay ho
gì.

“Tôi đánh giá mọi người dựa trên công lao,” Reyna đã
nói với cậu như thế. “Nhưng không được nhắc đến cái tên Shen Lun với bất cứ người
nào khác. Nó phải là bí mật của chúng ta, nếu không cậu sẽ bị đối xử tệ bạc đấy.”

 

Báo cáo nội dung xấu