Đức Phật và Nàng - Hoa sen xanh (Tập 2) - Chương 51

CHƯƠNG 51

Thế tử duy nhất

“Lòng nhân từ của bậc
hiền nhân,

Có thể khuất phục kẻ địch;

Ai ban ân đức cho muôn
dân,

Người đó sẽ được tôn
làm vua.”

( Cách ngôn Sakya )

- Thế tử hôm nay thế nào?

Bát Tư Ba giấu tôi trong áo, quay sang hỏi một vú em có
gương mặt đôn hậu, chất phác. Người đó cung kính thưa:

- Bẩm, Thế tử rất yếu, đêm nào cũng khóc hoài không dứt, cứ
bón thuốc là lại nhè ra, nhưng thuốc đắng dã tật, không thể không uống. Mấy
ngày qua, chúng tôi thay phiên nhau túc trực bên Thế tử nên Thế tử cũng đã khá
hơn.

Lòng tôi thắt lại, tôi sốt ruột thò đầu ra khỏi ngực áo Bát
Tư Ba. Tội nghiệp thằng bé, còn đỏ hỏn mà đã phải thuốc thang, đắng ngắt như vậy
làm sao bé chịu nổi? Chàng khẽấn vào người tôi, ra hiệu cho tôi không được nóng
nảy, sau đó quay sang nói với tất cả các vú em và thị nữ:

- Các cô đã vất vả chăm sóc Thế tử, ngày sau Thế tử lớn lên
mạnh khỏe, phái Sakya sẽ không để các cô thiệt đâu. Nhưng ta cũng nhắc để các cô
nhớ, nếu kẻ nào lười biếng, dối trá hoặc vì tham lam đồđút lót của kẻ xấu, đang
tâm hãm hại Thế tử, ta quyết không tha!

Bọn họ nhất loạt quỳ xuống, dập đầu, không dám ho he. Bát Tư
Ba lệnh cho họ lui ra ngoài rồi đưa tôi lại gần chiếc nôi. Đôi mắt tôi như bị
thôi miên.

Đứa bé non nớt, đỏ hỏn trong nôi kia là Dharmapala của tôi
sao? Trong trí óc tôi chỉ lưu lại ấn tượng rất mơ hồ lúc bé vừa chào đời. Còn
lúc này, gương mặt của bé đã dài hơn, cái mũi bé xíu, đôi má xinh xắn, có thể
thấy rõ từng đường nét của Kháp Na, rất đẹp! Chỉ có điều, cơ thể của bé không mập
mạp bằng những đứa trẻ cùng tháng khác. Những âm thanh phát ra từ cái miệng nhỏ
xinh của bé yếu ớt như tiếng mèo con. Sống mũi cay sè, tôi trào nước mắt.
Dharma, mẹ xin lỗi vì đã không chăm con thật tốt lúc mang thai.

Chàng cúi xuống sát vành nôi, thò ngón tay vào, khẽđùa với với
chiếc cằm đáng yêu của Dharma, giọng nói êm ái, ánh mắt dịu hiền:

- Nó rất giống Kháp Na, đúng không?

Tôi gật đầu đồng tình rồi nhẹ nhàng đặt móng vuốt lên đôi má
măng sữa của bé. Dharma chợt mở mắt, đôi đồng tửđen láy đảo qua đảo lại, bàn
tay nhỏ xíu của bé túm chặt lấy móng vuốt của tôi, cái miệng phát ra những tiếng
“a… a…” rất dễ thương. Đột nhiên, tôi bật khóc.

- Lam Kha, ta phải nói cho em biết về nguồn gốc của căn nhà
gỗ này.

Chàng đặt tôi cạnh Dharma rồi ngồi xuống bên nôi.

- Trong một tháng em hôn mê bất tỉnh, đã xảy ra một chuyện.

Thì ra hôm đó, sau khi truyền linh khí cho Dharma, tôi đã ngất
đi và trở lại nguyên hình, Bát Tư Ba lập tức ra lệnh cho mọi người rời khỏi căn
phòng. Bé Dharma đã chào đời, tin tức Kangtsoban đẻ non sớm muộn cũng truyền đến
tai Jichoi ở Shalu. Vì là ông ngoại nên chắc chắn Jichoi sẽđôn đáo chạy đến
thăm con gái và cháu ngoại. Đến lúc ấy, phải ăn nói làm sao với Jichoi về
Kangtsoban?

Bát Tư Ba đã suy nghĩ rất nhiều, đột nhiên nhớ ra thi thểđã
đóng băng của Kangtsoban trong sơn động trên núi Benbo. Tối hôm đó, cậu dẫn
theo Senge và Dampa lên núi đưa Kangtsoban xuống, ngay hôm sau đã tuyên bố
Vương phi của Bạch Lan Vương qua đời vì đẻ khó. Thế nên đội ngũ báo tin vui vừa
đến Shalu thì đoàn người báo tin dữ cũng tới. Jichoi khóc sưng mắt trên đường đến
Sakya.

Jichoi đề nghị chôn cất Kangtsoban cùng với Kháp Na nhưng
Bát Tư Ba không đồng ý. Kháp Na được hỏa táng vì chàng là bậc cao tăng đại đức
của nhà Phật. Trong khi đó, theo tập tục ởđất Tạng, phụ nữ không được hưởng
nghi lễ hỏa táng trang trọng kia. Thế nên, Bát Tư Ba đã tổ chức tang lễ trọng
thể cho Kangtsoban theo nghi thức thiên táng, gửi gắm linh hồn Kangtsoban cho
thần Chim ưng.

Giờđây, sợi dây kết nối duy nhất giữa Shalu và Sakya là nhóc
Dharmapala đang nằm trong nôi. Jichoi rất mực cưng nựng cháu ngoại, ông ta đề
nghịđưa Dharma về Shalu nuôi dưỡng để tránh bầu không khí chết chóc nặng nềở
Sakya, nhưng Bát Tư Ba kiên quyết phản đối. Và để Jichoi được yên lòng, chàng
đã đề nghị hai bên cùng hợp sức, trong vòng một tháng, xây dựng xong căn nhà bằng
gỗ kiên cốđể bảo vệ sự an toàn của Dharma. Nếu Jichoi không tin tưởng đội thị vệ
của Sakya, ông ta hoàn toàn có thể cử vệ sĩ trung thành nhất của Shalu đến canh
gác ngày đêm tại nơi ở của Dharma.

Lính canh ngoài kia đều là hộ vệ mà Jichoi cửđến.

Chàng thở dài, nhìn quanh một lượt.

- Tất cảđồđạc và đồ chơi mà Kháp Na và em chuẩn bị cho bé,
ta đều cho chuyển hết tới đây.

Tôi đưa mắt nhìn theo cánh tay chàng, hầu hết những đồđạc
trong phòng như: thùng tròn tập đứng, ngựa gỗ,… đều là đồ chơi của Bát Tư Ba và
Kháp Na lúc còn nhỏ, Kháp Na đã sai người đóng lại cho chắc chắn và sơn màu bắt
mắt. Những món đồ thấm đượm tình phụ tửấy khiến tôi nhớđến gương mặt tràn đầy
niềm hy vọng và ngóng đợi ngày con chào đời của Kháp Na, lòng tôi chùng xuống.

Bát Tư Ba tiếp tục câu chuyện:

- Vú em nuôi dưỡng Dharma đều được tuyển chọn kĩ càng từ những
gia đình tử tế. Người nào được mời làm vú nuôi của Dharma thì cả gia đình sẽ dọn
đến sinh sống ở Sakya. Như thế, một là để vú nuôi yên tâm phục vụ Thế tử,

hai là đểđề phòng nguy cơ có kẻ bắt bớ, khống chế người thân
của vú nuôi và ép cô ta hãm hại Dharma.

Chàng chậm rãi cất bước, nền nhà vang lên những tiếng cọt kẹt.

- Nền nhà được xây cao thế này để nếu kẻ xấu đột nhập thì dù
hắn đi lại nhẹ nhàng cỡ nào, cũng sẽ phát ra tiếng kêu. Nếu hắn có ý định lợi dụng
đêm tối bắt cóc thằng bé, cũng khó mà đạt được mục đích.

Tôi băn khoăn nhìn chàng. Vật liệu gỗ kỵ nhất là lửa, nếu là
kẻ thù, chắc chắn tôi sẽ phóng hỏa. Nhưđọc được suy nghĩ của tôi, chàng mỉm cười
đầy tự tin.

- Em đừng xem thường độ chịu lửa của căn nhà gỗ này, nó còn
tốt hơn những căn nhà thông thường khác rất nhiều bởi nó được dựng lên bằng gỗ
thông, bốn mặt trát than chì. Gỗ thông gặp nóng thì nở ra, có thể ngăn chặn kẻ
xấu đút lửa vào khe hở. Còn than chì có tác dụng chịu lửa rất tốt, cho dù ngoài
kia có xảy ra hỏa hoạn, lửa cháy ngùn ngụt thì căn phòng này vẫn có thể chống đỡ
trong một khoảng thời gian rất dài.

Tôi thở phào nhẹ nhõm, mê mải ngắm nghía đứa bé xinh xắn
trong nôi. Bé đang ngủ rất say, đôi mắt khép lại, toàn thân căng tràn mùi sữa
non, chốc chốc cái miệng xinh xinh lại tóp tép. Tôi sững sờ, lúc mơ ngủ Kháp Na
cũng có thói quen đó. Hai cha con giống nhau quá!

Chàng nhấc tôi ra khỏi chiếc nôi, thở than:

- Ta biết em rất khổ tâm vì mặc dù là mẹđẻ của Dharma nhưng
em không thể nhận con.

Lòng tôi chợt ảm đạm. Với bộ dạng thế này, tôi nhận con làm
sao được? Vả lại, Dharma cũng không thể chấp nhận điều này! Tôi không có ý định
nói cho nó biết. Nó phải sống với thân phận là cháu ngoại của Vạn hộ hầu Shalu
suốt đời.

Giỗ bốn mươi chín ngày của Kháp Na, Bát Tư Ba tổ chức một
pháp hội cầu siêu long trọng tại đền Qiong Ke ở Qumi. Chàng và các nhà sư làm lễ
dâng hương, chắp tay quỳ lạy ba lần, vẻ mặt đau buồn, u uất. Người ta thắp lửa
sáng cả ngôi đền, trên tay mỗi nhà sư là một ngọn đèn dầu, cảđại điện trở nên
lung linh bởi những đốm lửa bập bùng cháy sáng. Bát Tư Ba, mắt nhòe lệ, nhấc tấm
thẻ gỗ ghi tên Kháp Na trên bàn thờ xuống, bỏ vào đống lửa. Âm thanh tụng niệm
lầm rầm vang lên, vọng khắp ngôi đền. Nước mắt đầm đìa ngực áo Bát Tư Ba, tôi
không rõ đó là nước mắt của chàng hay của chính mình nữa.

Sau buổi pháp hội, Bát Tư Ba tháo băng quấn vết thương trên
tay chàng. Từng lớp vải rơi xuống, bàn tay chàng lộ ra. Tuy vết thương đã lành
nhưng lòng bàn tay có một vết sẹo kỳ lạ, như thể bị bỏng vậy. Vết sẹo nổi lên
nhức nhối, khiến cho bàn tay với những ngón thuôn dài, đẹp đẽ của chàng trở nên
thô ráp, xấu xí.

Tôi nhìn trân trân vào vết sẹo trong lòng bàn tay Bát Tư Ba
rồi ngẩng lên, dùng ánh mắt dò hỏi. Chàng chỉ giải thích qua loa: Đêm túc trực
bên linh cữu của Kháp Na, cây nến đổ vào lòng bàn tay từ lúc nào mà chàng không
hay biết nên mới bị bỏng như vậy.

Thấy tôi đau lòng, cứ liếm mãi lòng bàn tay chàng, Bát Tư Ba
vội rụt tay lại, giấu sau lưng.

- Không sao đâu, ta khỏi rồi.

Chàng dõi nhìn khoảng không xa tít tắp, ánh mắt u buồn:

- Nay mọi việc đã tạm ổn, chúng ta phải về Trung Nguyên
thôi.

Đầu tháng Chín năm đó, khi ngựa xe đã sẵn sàng lên đường,
chàng cho gọi những nhân vật chủ chốt của giáo phái vào phòng riêng để căn dặn
từng việc.

Chàng nói với Zhuoma và Kunga Zangpo:

- Ta giao Dharma cho hai người. Hãy tận tâm chăm sóc để thằng
bé được lớn lên khỏe mạnh. Ngày sau, ta hứa sẽ tổ chức hôn lễ cho Dharma và con
gái Jumodaban của hai người.

Vợ chồng Zhuoma bất ngờ, không tin vào tai mình. Kunga
Zangpo lập tức quỳ xuống, lắp ba lắp bắp:

- Dạ bẩm… tôi xuất thân hèn mọn, đâu dám nhận vinh hạnh
này... Làm vậy thật thiệt thòi cho Thế tử!

Bát Tư Ba gật đầu hài lòng:

- Jumodaban chỉ hơn Dharma một tuổi, dung mạo xinh xắn, dễ
thương, ta thấy chúng rất xứng đôi.

Ngập ngừng một lát, giọng nói của chàng trở nên bi thương lạ
thường:

- Vả lại, khi còn sống, Kháp Na đã rất tin tưởng cậu. Ta hy
vọng hai người sẽ bảo vệ giọt máu duy nhất của đệấy bằng mọi giá, kể cả phải hy
sinh tính mạng.

Kunga Zangpo dập đầu quả quyết, giọng nói nghẹn ngào:

- Xin pháp vương yên tâm, mạng sống của Kunga Zangpo trước
kia thuộc về cậu chủ Kháp Na, bây giờ sẽ thuộc về Thế tử!

Bát Tư Ba đỡ Kunga Zangpo đứng dậy, quay sang phía bản khâm
Shakya Zangpo, nắm chặt bàn tay đồi mồi của đại sư, xúc động nói:

- Bản khâm, công việc xây dựng đền Nam Sakya phải trông cậy
vào thầy rồi!

Shakya Zangpo xúc động hứa rằng:

- Thưa pháp vương, tuy đã có tuổi nhưng tôi nhất định sẽ
dành trọn thời gian còn lại của đời mình cho công trình này, nhất định sẽ xây dựng
thành trì khang trang, đẹp đẽ nhất cho phái Sakya.

Bát Tư Ba gật đầu mãn nguyện:

- Sau khi trở về Trung Đô và xử lý xong xuôi mọi việc, ta sẽ
lập tức quay lại Sakya.

Shakya Zangpo do dự một lát, thưa rằng:

- Thưa pháp vương, hiện thế hệ sau của phái Sakya có hai người
con trai. Cậu chủ Dani, con trai ngài Yeshe, lớn hơn Thế tử Dharma sáu tuổi. Đã
đến lúc phải đón cậu ấy vềđây để học tập các pháp môn của giáo phái, theo ngài…
Sắc mặt Bát Tư Ba bỗng thay đổi:

- Không cần đi đón. Pháp thống và gia tộc sẽ do một mình
Dharma kế thừa.

Tất cả những người có mặt lúc đó đều bàng hoàng, sửng sốt,
ngay cả tôi đang trong tâm trạng buồn bã, ủ rũ cũng giật mình ngẩng lên. Shakya
Zangpo lên tiếng:

- Nhưng theo truyền thống của giáo phái, con trai lớn kế thừa
pháp thống, con út kế thừa huyết thống. Nếu Bạch Lan Vương còn con trai khác nữa
thì không có gì phải lo lắng, nhưng…

Nhận thấy sắc mặt của Bát Tư Ba càng lúc càng tối sầm, ông ấy
bèn lùi lại phía sau, giọng nói lí nhí khi cố gắng trình bày nốt:

- Dani là anh, kế thừa pháp thống, Dharma là em, kế thừa huyết
thống, như vậy là hợp lý.

Bát Tư Ba nghiêm mặt nói:

- Không cần bàn luận thêm nữa. Đối với ta, Dharma là đứa
cháu trai duy nhất. Để nó kế thừa pháp thống và huyết thống của giáo phái cũng
không có gì bất ổn. Ngày sau, nó sinh được hai con trai, sẽ lại phân chia quyền
thừa kế theo truyền thống của giáo phái.

Shakya Zangpo không dám nhiều lời, đành gật đầu vâng dạ. Vợ
chồng Zhuoma tất nhiên hoàn toàn ủng hộ quyết định của Bát Tư Ba. Senge và
Dampa chỉ là đệ tử, không dám can thiệp vào chuyện nhà của phái Sakya. Mọi người
đều cung kính rời khỏi phòng của Bát Tư Ba.

- Em trách ta vì quyết định chuyện hôn nhân của Dharma quá sớm
phải không?

Thấy tôi mặt ủ mày chau, đi đi lại lại trên đệm trải, chàng
ôm tôi lên, ghì chặt vào lòng.

- Chuyến đi này, nhanh cũng phải mất ba năm. Ta phải bảo đảm
rằng, lúc ta không có mặt ởđây, Dharma vẫn được an toàn. Ta không còn cách nào
khác ngoài việc nhờ cậy những người ta có thể tin tưởng tuyệt đối. Cũng mừng là
hai đứa trẻ sẽđược sống với nhau từ nhỏ, lớn lên chúng sẽ là thanh mai trúc mã,
như vậy sẽ tốt hơn việc phải kết hôn với những người hoàn toàn không quen biết,
đúng không?

Tôi lắc đầu. Đó không phải là điều khiến tôi lo lắng, bởi vì
thực lòng, tôi rất yêu mến Jumodaban. Tôi chỉ sợ rằng, khi tin tức này lan truyền
tới Vân Nam, Yeshe chắc chắn không chịu để yên. Dù Bát Tư Ba đã bố trí canh gác
cẩn mật nhưng tôi vẫn bồn chồn, lo lắng. Thằng bé còn non nớt như vậy mà đã phải
đối mặt với dông bão, với hằn thù và giết chóc. Tôi không muốn xa Dharma, cho
dù tôi chỉ là một hồ ly nhỏ bé, đã mất hết linh khí, tôi cũng muốn ở bên, bảo vệ
con trai tôi.

Nên khi Bát Tư Ba đưa tôi đến gặp Dharma lần cuối trước lúc
lên đường, tôi đã thừa dịp chàng không để ý, lẻn trốn đi. Bát Tư Ba huy động rất
nhiều người hầu đi tìm tôi khắp nơi. Tôi vốn thông thạo địa hình, địa thếở
Sakya, ban ngày tôi trốn trên cây để không ai có thể tìm thấy. Tôi định sẽđến
thăm con trai sau khi Bát Tư Ba rời khỏi Sakya. Nhưng trời vừa sẩm tối, lòng
tôi lại cồn cào không yên. Tôi đành mạo hiểm lẻn vào phòng Dharma. Cơ thể nhỏ
bé của tôi không gây ra tiếng động lớn khi bước đi trên sàn gỗ nên tôi vô cùng
mừng rỡ trèo vào trong nôi, ngắm nghía gương mặt đáng yêu của Dharma khi con
đang say ngủ, cái miệng chốc chốc lại tóp ta tóp tép. Thằng bé đáng yêu đến nỗi
khiến trái tim tôi tan chảy. Tôi nhìn bé không chán, nhưng không hiểu sao thị lực
của tôi càng ngày càng kém đi. Chợt sàn gỗ vang lên âm thanh cọt kẹt, tôi chưa
kịp quay đầu lại đã bị Bát Tư Ba bế xốc lên, giọng chàng nhè nhẹ vang bên tai
tôi:

- Ta đoán không sai, chỉ cần chờởđây là sẽ tìm được em.

Tôi bực tức đá vào người chàng, giãy giụa vùng thoát. Giờđây,
khi không còn linh khí, cả khứu giác, thính giác nhạy bén của tôi cũng mất hết,
bằng không, chàng đừng hòng tóm được tôi dễ dàng như vậy. Thì ra chàng đã chờ sẵn
ởđây, chẳng trách, không có vú em nào ở bên cạnh Dharma. Tôi buồn bực vì đã
“trúng kế” của Bát Tư Ba, cắn vào tay chàng. Chàng khẽ kêu lên nhưng kiên quyết
không chịu thả tay ra.

- Lam Kha, đừng trốn nữa! Đưa em rời xa Dharma, ta biết em sẽ
giận ta, nhưng ta buộc lòng phải làm vậy. Ta phải đưa em đi tìm Hoàng hậu
Khabi, cô ấy là người duy nhất có thể cứu em.

Chàng gắng chịu đau, ánh mắt lấp lánh dưới ánh trăng vằng vặc.

- Có thể em không bận tâm đến việc có khôi phục được linh
khí hay không, không bận tâm đến việc bản thân đã trở nên nhỏ bé, yếu ớt, nhưng
nếu không mang hình hài con người, làm sao em nhận con trai được? Lẽ nào em muốn
suốt đời phải trốn trong góc khuất, lén lút nhìn ngắm nó? Em không muốn được ôm
nó vào lòng sao?

Tôi nhìn chú bé con trong nôi, nước mắt đầm đìa. Từ khi bé
ra đời đến nay, tôi chưa lần nào được ôm nó vào lòng. Tôi đã thèm muốn điều đó
biết bao! Lòng xót xa vô hạn, tôi há miệng, bàn tay chàng vẫn còn nguyên vết
răng của tôi. Tôi ân hận liếm láp vết thương ấy, không biết nước bọt của tôi có
còn phát huy tác dụng chữa bệnh như trước không.

Chàng thở dài, vuốt ve tôi, chẳng hề bận tâm đến vết thương
kia.

- Lam Kha, đừng cố chấp nữa. Ta hứa, sau khi em lấy lại được
hình hài con người, ta sẽ lập tức đưa em về Sakya!

Ngước nhìn gương mặt đôn hậu, hiền từ, tràn ngập tình yêu
thương của Bát Tư Ba dưới ánh trăng, nước mắt tôi rơi lã chã, tôi đã gật đầu.
Tôi ngoảnh lại nhìn con thêm một lát, thầm an ủi: “Dharma, nhất định con sẽ
bình an, nhất định con sẽ trưởng thành mạnh khỏe. Hãy chờ ngày mẹ con ta đoàn tụ!

Tháng 9 năm 1267, sau khi lo liệu chu tất hậu sự của em trai
Kháp Na Đa Cát, Bát Tư Ba lên đường trở lại Trung Đô. Trước ngày khởi hành, Bát
Tư Ba phát thông cáo mời các cao tăng đại đức của tất cả các giáo phái lớn tập
trung tại Damxung, phía Bắc đất Tạng, để tiễn chàng lên đường.

- Em biết vì sao ta làm vậy không? - Khi chúng tôi yên vị
trên xe ngựa, chàng hỏi tôi. - Chắc em biết, ta vốn không thích phô trương
thanh thế.

Càng ngày Bát Tư Ba càng thích trò chuyện với tôi, chàng kể
cho tôi nghe mọi chuyện, từ những việc vụn vặt thường ngày đến những việc chính
sự khiến chàng bận lòng, dù chàng biết rằng tôi không thể trả lời. Người ngoài
nhìn vào, sẽ thấy hành động của chàng thật kỳ quặc, vì chàng quá mức cưng nựng,
yêu chiều một tiểu hồ ly lông lá xơ xác, đi đến đâu cũng ôm nó trên tay, ngay cả
lúc ngủ, cũng không rời, còn thường lẩm nhẩm trò chuyện với tiểu hồ ly nữa. Điệu
bộấy khiến người ta cảm thấy lạ lùng và nực cười. Nhưng Bát Tư Ba hoàn toàn
không để tâm đến ánh mắt của người đời.

- Ta làm vậy là vì Dharma. - Chàng cúi xuống, dịu dàng vuốt
ve sống lưng tôi. - Lần này về Trung Nguyên, không rõ khi nào mới có thể trở lại
Sakya. Ta buộc phải cảnh cáo tất cả các giáo phái, để họ biết rằng ta và phái
Sakya là thủ lĩnh của đất Tạng. Thanh thế của phái Sakya càng lớn, Dharma
càngđược an toàn, yên ổn.

Tôi nằm yên lặng trên đùi chàng. Dharma thật may mắn, vừa
chào đời đã được cha chú mở sẵn một khoảng trời rộng mở, hoạch định sẵn một
tương lai tươi sáng. Nhưng nếu được lựa chọn, tôi tin rằng, Kháp Na sẽ mong con
trai mình được sống bình yên, vui vẻ, hơn là sống cuộc sống giàu sang, quyền
quý mà bao người ước mơ này.

Giữa tháng Mười một năm đó, dãy núi tuyết trùng điệp, sừng sững
xuất hiện trước mắt chúng tôi. Tám tòa tháp (bát tháp) của miền Bắc nổi bật
trên hồ nước xanh như ngọc khiến lòng người chợt dấy lên cảm xúc kính ngưỡng vô
hạn. Tám tòa tháp này được xây dựng để tưởng niệm viên đại tướng Shagkha, bề
tôi trung thành của Đức vua Gelsall vĩđại. Nơi đây chính là cửa ngõ đầu tiên của
đất Tạng - Damxung.

Damxung nằm dưới chân ngọn núi chính thuộc dãy
Nyainqentanglha, độ cao tương đương vùng Sakya. Theo kế hoạch trước đó, Bát Tư
Ba đã cho lập một trạm nghỉ tại đây. Hồ nước thiêng lớn nhất Tây Tạng - Namtso
- nằm dưới chân ngọn núi tuyết vĩnh cửu Nyainqentanglha này. Đang là tháng mùa
đông rét đậm, tuyết lớn ào ạt trút xuống, băng tuyết phủ trắng phân nửa diện
tích hồ thiêng Namtso. Tất cả các pháp vương (kể cả pháp vương Chung Dorje của
phái Drikung) và cao tăng đại đức của các giáo phái đều đã có mặt tại Damxung từ
rất sớm, trừ pháp vương Chongni của phái Phaktru, hiện đang ở Trung Đô.

Bát Tư Ba dừng chân tại trạm nghỉ Damxung hơn mười ngày.
Trong suốt thời gian này, chàng đã tận dụng cơ hội để giao lưu, đàm đạo với các
giáo phái. Hơn hai năm sau khi trở vềđất Tạng, sau bao vất vả, cực nhọc, thành
tựu mà Bát Tư Ba gặt hái được là phần lớn các giáo phái và quan lại địa phương
đã chịu thần phục phái Sakya, tôn Bát Tư Ba làm thủ lĩnh của đất Tạng. Ngay cả
pháp vương Chung Dorje của phái Drikung cũng phải tỏ ra rất mực cung kính, ứng
xử nhã nhặn với Bát Tư Ba. Đáp lại, Bát Tư Ba cũng rất mực ôn tồn, lịch duyệt,
người khác chẳng thể nhận ra, giữa Drikung và Sakya từ lâu đã tồn tại một mối hận
thù sâu sắc, không thể hóa giải.

Nhưng tôi không thể kìm lòng, chỉ muốn xé xác tên Chung
Dorje đó ra thành trăm nghìn mảnh. Một ngày nọ, trong buổi gặp mặt riêng giữa
Bát Tư Ba và Chung Dorje, tôi đã xông ra, ngoạm vào đùi hắn.

Chung Dorje kêu lên đau điếng, cúi xuống, túm lấy đuôi tôi,
giật mạnh ra khỏi người hắn. Tôi đau đớn kêu gào nhưng kiên quyết không chịu nhả
hắn ra. Hắn tức tối kẹp chặt cổ tôi. Bát Tư Ba vội vàng lao đến, vừa ra sức đẩy
tay hắn vừa nạt nộ tôi:

- Lam Kha, buông ra!

Tôi đã ngoạm được một miếng thịt trên đùi hắn! Tôi quắc mắt
nhìn, nhai rau ráu miếng thịt đẫm máu, nuốt ừng ực. Chung Dorje ôm vết thương
nhầy nhụa máu, rên la thảm thiết:

- Đồ súc sinh đáng chết! Để rồi xem, tao sẽ phanh thây mày!

Bát Tư Ba ôm tôi vào lòng, ném ánh mắt hình mũi tên về phía
hắn:

- Pháp vương Chung Dorje, đây là hồ ly của ta. Ta không cho
phép bất cứ kẻ nào đụng vào nó!

Người hầu của Chung Dorje vội vàng kéo đến, bọn chúng tròn
xoe mắt và hoảng hốt khi thấy hắn quỳ dưới nền tuyết, máu tươi trào ra, ướt đẫm
một bên đùi. Bát Tư Ba cúi xuống ngó Chung Dorje, khóe môi treo một nụ cười lạnh
lùng, giọng nói như băng giá:

- Đây mới chỉ là sựcảnh cáo. Rồi sẽ có một ngày, cái ác phải
đền tội!

Dứt lời, Bát Tư Ba phất tay áo, ôm tôi bỏđi. Tôi ngoảnh lại
nhìn, thấy hắn ngồi phịch trên đất, vẻ mặt bàng hoàng, khiếp sợ.

Khi chúng tôi về phòng, Bát Tư Ba đặt tôi lên giường, nhìn
tôi nghiêm nghị:

- Lam Kha, bây giờ em đã không còn linh khí, ta không cho
phép em mạo hiểm như vậy nữa đâu!

Tôi xấu hổ quay mặt đi, nhưng chàng kiên quyết xoay tôi lại,
đối diện với chàng, tôi đọc thấy trong giọng nói của chàng vẻ bực bội:

- Em cho rằng ta không muốn trả thù cho Kháp Na ư? Ta muốn lắm
chứ, nhưng bây giờ chưa phải lúc. Hôm đó, ta không tận mắt chứng kiến bọn chúng
phục kích ta trên núi Kiewu, tất cả dấu vết đều đã được xóa sạch, chỉ có duy nhất
một người làm chứng là dì năm, nhưng bà ta đã chết. Tuy ta đã ra sức kìm hãm
nhưng phái Drikung vẫn rất mạnh. Ta không thể nôn nóng, cần phải kiên nhẫn thu
thập mọi bằng chứng.

Tôi lặng lẽ cúi đầu. Chàng thở dài, ôm tôi vào lòng, dùng
khăn tay lau vết máu vương bên mép tôi, dịu dàng nói:

- Trước kia em đã bảo vệ ta và Kháp Na, bây giờ, hãy để ta bảo
vệ em.

Cuối tháng Mười một, sau hơn mười ngày dừng chân tại
Damxung, Bát Tư Ba tiếp tục lên đường. Hôm đó, tất cả pháp vương và cao tăng đại
đức của các giáo phái đều tập trung hai bên đường đểđưa tiễn Bát Tư Ba. Màu áo
tăng ni đỏ sẫm của hàng vạn nhà sư nổi bật trên nền núi tuyết trắng xóa và hồ
thiêng xanh như ngọc. Đó là cảnh tượng trang nghiêm, long trọng chưa từng có.

Xe ngựa lộc cộc lăn bánh, Bát Tư Ba vén rèm cửa, ngoảnh lại
nhìn. Ngọn núi cao nhất trên dãy Nyainqentanglha khuất dần, đất Tạng ngày một
cách xa chúng tôi. Trên bàn tay đang bóp chặt thành cửa xe của chàng nổi lên những
đường gân xanh.

- Lam Kha, nhất định sẽ có ngày ta trả thù cho Kháp Na. Ta sẽ
tìm ra từng kẻ một và bắt chúng phải đền tội.

*

Chàng trai trẻđổi tư thế, chọn cho mình kiểu ngồi dễ chịu nhất
trên thảm trải.

- Chừng ấy giáo phái đến đưa tiễn Bát Tư Ba nhưng có lẽ
không phải ai trong số họ cũng có thiện chí, đúng không? Nhất là phái Phaktru
và phái Drikung.

- Điều đó cũng dễ hiểu thôi. Nhưng ngoài mặt thì họ vẫn phải
tỏ ra tuân lệnh pháp vương.

Tôi cời than hồng để ngọn lửa bập bùng cháy sáng.

- Lãnh tụ tôn giáo lên đường đến triều đình nhà Nguyên ở
Trung Nguyên, các giáo phái khác tập trung tại một nơi đểđưa tiễn lãnh tụ của
mình. Có thể nói, đây là lần đầu tiên trong chuỗi lịch sử cát cứ, phân lập của
Tây Tạng diễn ra một sự kiện trọng đại như vậy.

Chàng trai trẻ mỉm cười:

- Chắc chắn đó là ngày lễ vô cùng long trọng.

- Đúng vậy. Thủ lĩnh của tất cả các giáo phái đều phải cúi đầu
trước Bát Tư Ba. Cậu biết không, các giáo phái Phật giáo Tây Tạng rất coi trọng
vai vế, thân phận nên nghi thức chào hỏi của họ cũng đặc biệt phức tạp và
nghiêm khắc, thậm thí, ngay cả việc ngồi khoanh tròn trên đệm trải cũng phải
phân biệt lớn bé, cao thấp rõ ràng, nếu không sẽ xảy ra tranh cãi kịch liệt.

- Vậy mà thủ lĩnh của các giáo phái đều phải răm rắp nghe
theo hiệu lệnh của Bát Tư Ba, lập tức đến Damxung tập trung. - Chàng trai trẻ tỏ
ra rất mực già dặn khi kết luận. - Điều này đủđể minh chứng cho vị thế và uy thế
vô cùng to lớn và quan trọng của Bát Tư Ba ở Tây Tạng khi đó.

Tôi cười:

- Vào đời nhà Thanh, phái Gelug nắm quyền cai trị Tây Tạng,
cũng đã học theo Bát Tư Ba. VịĐạt Lai Lạt Ma đời thứ năm của giáo phái này, trước
khi lên đường đến Bắc Kinh yết kiến Thuận Trị, cũng lệnh cho thủ lĩnh của tất cả
các giáo phái tập trung ở Damxung đểđưa tiễn. Hơn một trăm năm sau, Ban Thiền đời
thứ sáu đi Bắc Kinh yết kiến Càn Long, cũng yêu cầu các thủ lĩnh tập trung ở
Damxung.

Chàng trai trẻ bật cười:

- Tức là nghi thức này đã trở thành thông lệ!

Báo cáo nội dung xấu