Tử Thư Tây Tạng - Chương 02
Sự yên lặng, lắng nghe là bước đầu tiên trong việc giúp đỡ
người sắp qua đời, nhưng nếu đã thành công trên phương diện này, người ta có
thể đi vào bước thứ hai là việc làm khơi dậy các chủng tử thiện. Cuốn Tử Thư
ghi nhận: "Trong tàng thức con người có đầy đủ mọi hạt giống thiện ác, xấu
tốt và nếu biết khéo léo khơi dậy các chủng tử thiện, sẽ giúp cho người sắp
chết tránh được các Cận tử nghiệp xấu xa". Khi người sắp chết thố lộ tâm
sự, đừng chú ý tới những điều tội lỗi, xấu xa người đó đã làm mà chỉ nên đặc
biệt chú trọng đến những điều người đó hãnh diện, thích thú, tự hào. Lúc lâm
chung, ai cũng cảm thấy sợ hãi, lo sợ, hối hận hay tuyệt vọng, nhưng đôi khi họ
cũng vô tình đề cập đến một điều gì tốt đẹp mà họ đã làm. Hãy khuyến khích hay
nhắc nhở người đó khai triển đề tài này để cho thần thức của họ bớt mặc cảm sợ
hãi, để họ thấy rằng cuộc đời của họ cũng có những lúc tốt đẹp, tươi sáng đem
lại cho họ một hy vọng. Nếu họ chuyển qua những viêc vừa ý hơn điều bất như ý
thì các chủng tử xấu xa, tội lỗi không có dịp phát động, nhường chỗ cho các
chủng tử thiện và điều này có thể đem lại những kết quả tốt đẹp bất ngờ.
Trong khóa huấn luyện các bác sĩ y khoa, bác sĩ Elizabeth
Kubler Ross đã dạy: "Thật không có gì tốt đẹp hơn là làm cho người sắp
chết trút được nỗi lo sợ, đem lại cho họ một niềm hy vọng. Nếu một người đặt
câu hỏi: 'Tôi là kẻ tội lỗi, liệu Thượng Đế có tha thứ cho tôi hay không?' thì
các bạn phải biết trả lời: 'Thượng Đế chính là tình thương. Trong tình thương
luôn luôn có sự tha thứ. Chúng ta đều là con của ngài thì lẽ nào ngài lại có
thể không tha thứ cho con của ngài được?' Hiển nhiên không phải người nào cũng
có đức tin tôn giáo, nhiều người nghĩ rằng nếu đem đức tin đến cho người sắp
chết thì họ sẽ được thoải mái hơn. Bác sĩ Rubler Ross khuyên: "Chúng ta
cần thận trọng trong việc này. Nếu người đó yêu cầu, dĩ nhiên chúng ta nên làm,
còn nếu không, đừng nên quan trọng hóa nó. Biết đâu trong đời người đó đã có ác
cảm với một tôn giáo nào đó và việc khơi dậy nhữnh điều này có thể mang lại
những hậu quả tai hại bất ngờ".
Phần lớn mọi người đều sợ chết vì không ai biết chết sẽ đưa
họ đến đâu! Cái quan niệm chết là hết, là mất tất cả, nhà cửa, tài sản, vợ con,
thân quyến, và ngay cả chính mình nữa là một điều hết sức ghê gớm không mấy ai
muốn nghĩ đến. Đó là chưa kể sự sợ hãi về một nơi gọi là "địa ngục"
nên hiển nhiên chẳng ai muốn giáp mặt với sự chết hay có thể chấp nhận nó dễ
dàng.
Bác sĩ Elizabeth Kubler Ross đã phân tích tâm trạng con
người khi phải giáp mặt với sự kiện này qua năm trạng thái tâm lý như sau: Phủ
nhận, giận dữ, lý luận, buồn nản, và chấp nhận. Hiển nhiên thoạt biết mình bị
bệnh nặng có thể chết, trạng thái tâm lý tự nhiên của con người là phủ nhận nó.
Nhiều bệnh nhân đã từ chối không chịu uống thuốc hay chấp nhận việc chữa trị.
Họ tự đánh lừa mình rằng họ không làm sao hết, họ đổ lỗi cho bác sĩ chẩn bệnh
sai, rồi tìm một bác sĩ nào đó có thể nói khác hơn. Giai đoạn này thường kéo
dài rất lâu, gây khó khăn cho việc chữa trị. Nhiều người đã không vượt qua được
trạng thái này và đến khi chết vẫn tin rằng mình không hề làm sao cả. Nếu vượt
qua giai đoạn phủ nhận này thì đa số thường trở nên giận dữ, than thân trách
phận, tìm cách trách móc, đổ lỗi cho những người chung quanh. Họ dễ nổi giận vô
cớ, hay gây gổ và có những lời nói hay cử chỉ nóng giận bất thường. Có người
đến khi trút hơi thở cuối cùng vẫn còn chỉ trích, trách móc người khác. Vượt
được giai đoạn này, phần lớn người bệnh rơi vào trạng thái tâm lý phức tạp với
những lập luận, tin tưởng lạ thường như có một "phép lạ" xảy ra, một
phát minh mới mẻ được khám phá, một loại thần dược có thể chữa lành mọi thứ
bệnh, rồi bám lấy hy vọng viển vông, hão huyền này. Đây là lúc các bệnh nhân đi
tìm những phương pháp chữa bệnh khác với lối chữa trị thông thường, đi tìm an
ủi qua những điều huyền hoặc hay có những lập luận rất lạ lùng về tình trạng
của họ. Nếu qua được giai đoạn này, đa số bệnh nhân sẽ cảm thấy tuyệt vọng, lúc
nào cũng buồn chán, không biết làm gì nữa. Đây là lúc họ buông xuôi, mặc cho số
phận an bài. Họ thường tủi thân, khóc lóc và hơi một chút bất như ý là động
lòng, cho rằng không ai thông cảm hay hiểu họ hết. Cuối cùng là giai đoạn chấp
nhận. Đây là trạng thái quan trọng có thể giúp người sắp chết được thảnh thơi,
ung dung tự tại bước qua thế giới bên kia. Nếu biết rõ người sắp chết đang ở
trong trạng thái tâm lý nào, người ta có thể giải thích cho họ hiểu để giúp họ
vượt qua các khó khăn trở ngại và chấp nhận sự chết một cách dễ dàng hơn.
Bác sĩ Ross kết luận: "Người sắp chết không ao ước gì
hơn là sự cảm thông và lòng thương yêu của những người chung quanh. Chúng ta
không cần phải khuyên giải hay nói với họ những điều cao siêu to lớn mà hãy tự
nhiên thành thật và biết chia sẻ những giây phút cuối cùng với họ là đủ".
Theo cuốn Tử Thư, giây phút lâm chung hết sức quan trọng, có
thể quyết định số phận và tương lai của người chết. Vào lúc đó, tất cả mọi
chủng tử của nghiệp lực chất chứa trong tàng thức đều sẵn sàng phát động. Nếu
ra đi với một tâm trạng an lành thoải mái, người quá cố sẽ dễ siêu thoát và
tránh được ba đường ác (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh), và ngược lại, bất cứ một
biến cố gì xảy ra trong lúc đó khiến họ xúc động, phát động các tư tưởng quyến
luyến, giận hờn thì hậu quả thật không biết đâu mà lường.
Cuốn Tử Thư ghi rõ: "Tâm trạng của con người lúc chết
sẽ quyết định nơi chốn hay cảnh giới mà họ sẽ đến". Đó là một lý do người
Tây Tạng chuẩn bị rất kỷ cho lúc lâm chung trong khi người u Mỹ, vì thiếu hiểu
biết, đã hết sức bất cẩn vào những giờ phút quan trọng nhất. Đa số người hấp
hối đều được đưa vào bệnh viện. Người ta cố gắng dùng những dụng cụ y khoa,
những liều thuốc kích thích thật mạnh như một giải pháp cuối cùng để kéo dài
thêm sự sống thay vì chấp nhận rằng đã đến lúc phải để người đó ra đi một cách
an lành, thoải mái. Bác sĩ Melvin ghi nhận: "Người ta đã lạm dụng khoa học
và kỷ thuật một cách vô ý thức, dường như việc kéo dài đời sống thêm dài giờ,
vài phút là một điều mà người y sĩ phải thực hiện cho kỳ được. Tôi thấy người
ta sử dụng các dụng cụ làm hồi tim bằng điện, các liều thuốc kích thích cực
mạnh cho những người già yếu không thể kéo dài đời sống thêm bao lâu nữa. Dường
như người y sĩ quan niệm rằng còn nước còn tát, dù thâm tâm họ biết rằng bệnh
nhân đó khó sống quá vài giờ nữa. Sự gây bạo động trên thân thể người già bằng
các dụng cụ y khoa, các thuốc men hóa học dĩ nhiên gây xáo trộn cho tâm lý
người chết và tôi không hiểu tâm trạng của người đó lúc từ trần sẽ ra sao! Chắc
chắn một người bị điện giật lung tung, bị dao kéo mổ khắp mình, bị chích đủ các
loại thuốc không thể nào thoải mái hay bình tĩnh mà ra đi cho được". Linh
mục Thomas Merton cũng cảnh cáo: "Phần lớc các quốc gia tân tiến đã bỏ
nhiều tiền bạc và công sức để tìm các phương pháp kéo dài sự sống, dù chỉ trong
vài giờ, vài ngày nhưng không hề chú ý đến việc giáo dục con người về ý nghĩa
của đời sống hay giúp họ cách giáp mặt sự chết, điều mà không ai có thể tránh
được. Phải chăng nền văn minh kỹ thuật càng tân tiến, người ta càng mất hết
nhân tính?" Sự tiến bộ của khoa học đã tạo ra một vấn đề hết sức nan giải,
đó là sự kéo dài đời sống qua các máy móc nhân tạo (Life support system). Liệu
chúng ta có muốn cho người thân tiếp tục sống trong trạng thái vô tri, vô giác
bởi các máy móc đó không? Ai có thẩm quyền rút những máy móc này ra để cho
người chết có thể ra đi một cách thoải mái? Đây là một đề tài đang được bàn cãi
sôi nổi nhưng chưa đi đến một kết luận nào. Trước khi đi xa hơn, chúng ta hãy
theo dõi diễn tiến của sự chết.
Theo cuốn Tử Thư, tùy theo nghiệp quả (karma) mà đời sống
mỗi người có một số phận hay thời gian nhất định. Sự chết xảy ra khi nghiệp quả
đã trả xong, các nhân duyên đã hội đủ và đời sống chấm dứt như ngọn đ èn hết
dầu phải tắt. Tuy thế, thời gian của kiếp sống không hoàn toàn cố định mà có
thể thay đổi, hoặc dài hơn hoặc ngắn hơn, tùy theo nhân duyên và thái độ của
con người đối với cuộc sống. Một người biết thực hành các phương pháp thiền
định, dưỡng sinh hay làm việc phúc đức có thể kéo dài thêm tuổi thơ, trái lại,
một người không biết lo lắng cho thân và tâm, hay làm các điều ác thì có thể
chết trước khi phận số đến. Người Tây Tạnh tin rằng việc không ăn thịt cá,
không sát sinh có thể kéo dài thêm đời sống, cứ bảy năm ăn chay có thể kéo dài
tuổi thọ thêm một năm, hay việc phóng sinh chim cá có thể giúp người ta thoát
khỏi các căn bệnh hiểm nghèo. Đây là một tin tưởng dựa trên luật nhân quả, giết
hại sinh vật thì đời sống mình bị ngắn đi và phóng sinh hay giúp đỡ các sinh
vật khác thì đời sống có thể tăng thêm.
Hiển nhiên đã sinh ra thì ai cũng phải chết, nhưng thái độ
việc sinh ra hay lúc chết đi phản ảnh rõ rệt sự khác biệt giữa phong tục Tây
Tạng và các quốc gia Tây phương. Sogyal Rinpoche, một danh sư Tây Tạng đã viết:
"Trong khi người âu Mỹ chú trọng đến ngày sinh thì phong tục Tây Tạng lại
chú trọng đến ngày chết. Người u Mỹ thích nói đến lúc sinh đứa bé khỏe mạnh ra
sao, cân nặng bao nhiêu ký, giống cha hay giống mẹ và ăn mừng ngày sinh nhật.
Trong khi đó, người Tây Tạng lại nói đến việc tổ tiên của mình đã chết như thế
nào và kỷ niệm ngày giỗ rất trọng thể vì giá trị của một người không được đánh
giá bằng danh vọng hay tài sản nhưng bằng đời sống nội tâm. Một cái chết phi
thường hẳn biểu lộ một đời sống phong phú về nội tâm, và một người biết trước
giờ chết, chuẩn bị dặn dò con cháu sẵn sàng, ngồi xếp bằng đọc kinh rồi thản
nhiên trút hơi thở cuối cùng là một cái chết mà người Tây Tạng nào cũng muốn.
Đôi khi sự ham muốn này đã tạo ra những sự kiện đáng tiếc như sau: Có một vị
Lạc ma nổi tiếng có rất đông đệ tử. Không hiểu ông nghĩ sao mà đoán trước được
giờ chết. Ông công bố tin này cho học trò và chuẩn bị một cái chết rất thịnh
soạn. Trong nhiều tuần lễ, đệ tử khắp nơi kéo về đây nghe dặn dò và chuẩn bị ăn
mừng ngày thầy ra đi. Vị này ngồi bằng nhập thiền, học trò quây quần chung
quanh chờ đợi nhưng mấy ngày trôi qua mà vị thầy vẫn không chết. Sau đó ngồi
lâu đói bụng, ông này bèn gọi học trò mang cơm ra cho thầy ăn. Học trò thất
vọng rủ nhau bỏ đi hết vì nghĩ rằng vị thầy thiếu kinh nghiệm tâm linh. Buổi lễ
lonh trọng đó đã biến thành một vở bi hài kịch".
Đối với các vị công phu tu hành thì thái độ của họ khác hẳn.
Bác sĩ Runolfo Sanchez Đã viết về cái chết của một Hòa thượng Gyawang Karmapa
tại một bệnh viện Hoa kỳ vào năm 1891 như sau: "Hòa thượng là một người
trầm tỉnh ít nói nhưng trên môi luôn luôn mỉm cười. Khi chúng tôi chẩn bệnh và
nói rằng ngài khó qua khỏi đêm đó thì ngài lắc đầu vá nói rằng chưa đến lúc
ngài ra đi. Mặc dù tất cả các triệu chứng cho thấy căn bệnh đã đến lúc ngặt
nghèo, khó ai có thể kéo dài sự sống thêm được nhưng Hòa thượng vẫn lạc quan,
và sau cùng chúng tôi thấy rằng ngài luôn luôn có lý. Cứ thế từ ngày này qua
ngày nọ, mặc dù bệnh tình không thuyên giảm nhưng Hòa thượng cho biết chưa đến
lúc ngài ra đi, và sau nhiều lần tiên đoán không đúng, chúng tôi đ ành giữ thái
độ im lặng. Chúng tôi biết căn bệnh này gây đau đớn cho bệnh nhân rất nhiều nên
muốn dùng thuốc mê nhưng ngài nhất định không chịu. Một hôm ngài cho biết đã
đến lúc ra đi và yêu cầu tôi gọi nhân viên trong bệnh viện đến để ngài cám ơn
họ. Nhìn ngài vui vẻ nói chuyện với mọi người, không ai nghĩ rằng chỉ trong
giây phút sau ngài ngồi xếp bằng và trút hơi thở cuối cùng. Ba ngày sau khi
ngài qua đời, ngực ngài vẫn ấm và thân thể của ngài không có một dấu vết hư
hoại gì. Đây là một điều mà chúng tôi không thể giải thích".
Theo cuốn Tử Thư, diễn tiến của sự chết có thể tạm chia ra
làm hai giai đoạn: Giai đoạn tan rã của các phần tử vật chất và giai đoạn tan
rã của các yếu tố tinh thần. Người Tây Tạng tinh rằng phần vật chất của con
người được cấu tạo bởi Tứ Đại hay các yếu tố như Đất, Nước, Gió, Lửa. Khi các
yếu tố này tan rã thì con người không thể sống được. Nhờ biết quan sát khí sắc
hay khả năng hoạt động của các giác quan thay đổi như thế nào mà một vị thầy
Tây Tạng có thể hướng dẫn được cho người chết. Sự chết xảy ra khi các phần tử
vật chất khởi sự tan rẽ, bắt đầu bằng những giác quan. Người sắp chết có thể
vẫn nghe được tiếng người nói nhưng không còn hiểu được ý nghĩa câu nói đó vì
thính giác đã ngưng hoạt động. Họ không thể nhìn rõ các hình ảnh chung quanh,
tất cả từ từ mờ nhạt không còn rõ rệt vì thị giác đã bắt đầu ngưng hoạt động.
Cũng như thế, các giác quan như khứu giác, vị giác, xúc giác cũng ngưng hoạt
động khiến người đó bước vào trạng thái mê man. Sau đó yếu tố Đất khởi sự tan
ra, các bắp thịt trở nên rã rời, không thể chống đỡ được toàn thân, người hấp
hối có cảm tưởng như mình đang bị một ngọn núi đ è nặng lên toàn thân. Khi yếu
tố Đất tan rã xong thì yếu tố nước khởi sự tan ra, các chất lỏng trong cơ thể
không còn vận hành bình thường được nữa, nước mắt nước mũi tự nhiên trào ra,
nhiệt độ trong người thay đổi nóng lạnh bất thường. Sau đó yếu tố Lữa bắt đầu
tan rã, người chết tự nhiên thấy khát nước, chân tay trở nên lạnh ngắt và sau
đó họ không còn tỉnh táo nữa. Khi yếu tố lữa tan rã hết thì yếu tố Gió bắt đầu
tan rã, hơi thở người chết trở nên yếu dần và cuối cùng dứt hẳn. Đây là lúc
người chết hoàn toàn hôn mê, không còn biết gì nữa. Đối với y khoa Tây phương thì
tim ngừng đập, óc ngưng hoạt động là lúc người đó coi như đã chết, nhưng theo
cuốn Tử Thư thì giai đoạn tan rã của các phần tử vật chất này mới chỉ là bắt
đầu vì giai đoạn thứ hai, sự tan rã của các yếu tố tinh thần có hoàn tất thì
người đó mới có thể coi là thực sự đã chết.
Vì yếu tố Gió hay hơi thở là yêu cầu tâm thức nối liền tâm
và thân nên khi yếu tố này tan rã, nó sẽ ảnh hưởng vào các trạng thái tâm thức
bên trong và sự tan rã của các yếu tố tinh thần bắt đầu xảy ra. Các tinh lực
của con người khi đó từ từ rút theo các đường kinh mạch để hội tụ chung quanh
trái tim, do đó dù đã chết, thân thể đã lạnh nhưng người ta thấy phần ngực
người chết vẫn còn hơi nóng. Các yếu tố thuộc về lý trí nằm trên óc được di
chuyển đến phần ngực, các yếu tố thuộc về tình cảm nằm ở dưới bụng cũng di
chuyển lên phần ngực và khi hai yếu tố này gặp nhau ở kinh mạch nằm cạnh trái
tim, một sự thay đổi lớn bắt đầu xảy ra. Các phần tử căn bản của bản ngã bắt
đầu tan rã, khởi đầu bằng sự tan rã của ba yếu tố chính hay tam độc (Tham, Sân,
Si) và khi ba yếu tố này ngưng hoạt động thì thần thức của con người trở nên
minh mẫn hơn, họ sẽ ý thức mọi sự một cách rõ rệt vì nói theo cuốn Tử Thư
"khi các yếu tố thuộc về bản ngã tan rã, khi không còn bị mây mù của vô
minh chi phối nữa thì chân tâm bắt đầu hiển hiện". Đây là một giai đoạn
hết sức quan trọng vì ý thức được chân tâm hay Phật tánh chính là cơ hội để
giải thoát ra khỏi sinh tử luân hồi. Đối với người không tập luyện, không ý
thức thì giai đoạn này chỉ là một tia chớp lóe sáng lên rồi tắt ngúm, nhưng với
người thực hành thiền định sâu xa thì đây là cơ hội quý báu nhất vì họ có thể
chuyển thần thức, trụ vào trạng thái này để giải thoát. Đó cũng là lý do đa số
các danh sư Tây Tạng đều nhập thiền vào giây phút lâm chung. Họ hiểu biết rất
rõ diễn tiến của sự chết và nhờ thâm cứu cuốn Tử Thư, như đã có sẵn một tấm bản
đồ trong tay, họ biết cách tập trung ý chí vào các câu thần chú, các biểu tượng
Mandala, các hình ảnh ghi giữ trong tâm. Mỗi khi một yếu tố tan rã, họ chuyển
thần thức để tập trung tư tưởng vào một bài chú đặc biệt, một hình ảnh nhất
định để lúc nào họ cũng ý thức được từng giây, từng phút của các diễn tiến xảy
ra cho đến khi bản ngã tan hết, chân tâm tỏ rạng thì họ có thể tập trung mọi
năng lực để hòa nhập vào cái trạng thái uyên nguyên bất động này.

