Mẫn và tôi - Chương 16 (phần 2)
Tôi với Ba Tâm đào hố để cháu về sẽ chôn gấp. Nếu Mẫn tới đây,
anh Luân sẽ bày tiệc kéo Mẫn đi nơi khác, không cho thấy những khúc chân
tay nhầy nhụa máu. Tuy nhớ rõ cái hòm của cháu chỉ nhỏ bằng cái tiểu
sành dời mả, tôi cứ xắn mãi những lát mai mở rộng miệng hố, bởi quen tay
đào huyệt cho đồng đội mãi rồi, bởi tôi biết mà không thể tin rằng cái
hộp đựng búp bê ấy đủ sức chứa một con người hẳn hoi, mới sáng nay còn
chơi trò mít rụng trên bụng tôi và cười lanh lảnh
Mé Lộc Chánh,
trung liên nổ sáu bảy loạt ngắn, nòng chõ lên làng Cá nghe pình pình
choác choác. Ba bốn tiếng nổ đầu nòng cối 60 giống tiếng súng săn ca-líp
12, đạn nổ gần mà chỉ bộp bộp như vập thúng, vẫn cái trò bắn dọa bằng
đạn khói hai bên cánh quân áo trắng. Tôi cứ đào mãi, đào mãi. Họng pháo
hạm đội 7 to lắm, còn bom thả cao xuyên sâu, còn rốc-két dùi công sự,
tôi không muốn cháu tôi bị xé thêm một lần. Tiếng hô dội xa đả đảo nhịp
ba chỉ còn “ảo, ảo, ảo”. Anh Luân từ bìa xóm tập tễnh về, báo tin bà con
đã vô ấp được hết, ổn rồi. Lát sau, út Liềm mượn xe đạp lên cho biết
dân Lộc Chánh cũng ùa ra đình, đem xôi và nước tiếp tế, vừa giằng lại
mấy người bị địch bắt đánh.
Xế trưa, quân chính trị kéo về râm ran
các ngõ xóm. Giết trẻ con là cái tội ác mà quỷ sứ hiện hình cũng không
cãi nổi. Lính ngụy bủn rủn tay chân hết. Tên đại úy chịu ký cam đoan
“can thiệp với quân đội đồng minh” chống pháo, tạm thời bồi thường mười
ngàn. Thằng Chinh con trốn đâu không thấy, hắn biết bà con nổi xung dám
nhào tới đánh chết hắn mà chưa chắc tụi lính đã động ngón tay can giùm.
Tôi
nâng cái hộp gỗ đặt xuống lòng hố, kính cẩn và gượng nhẹ, khác với sáng
nay vật cháu ra thổi rốn phù phụp. Cháu vừa dẫn đầu quân ta đánh thắng
một trận đấy. Bà con và du kích sẽ nhắc tên cháu mỗi khi xáp địch. Có
thể nhiều năm nữa vấn còn những lính ngụy nhớ tới cháu mà vác súng sang
ta. Thôi, vĩnh biệt người đồng đội hai tuổi...
Tôi thèm được thơm cháu lần cuối trên cặp má còn lành, nhưng nắp hòm đã đóng đinh, tôi cúi hôn mặt ván
Tôi
chỉ dịu đau từ khi nhớ cháu như nhớ các bạn chiến đấu nối nhau ngã bên
tôi. Mỗi người đều thanh thản nhận lấy sự hi sinh cuối cùng, tôi cũng
thế, tôi muốn tin cháu Hoàn cũng thế. Chúng tôi chẳng mấy khi nhắc đến
cái chết, không phải vì kiêng kỵ, sợ nó ám ảnh hay ngại bị đánh giá thấp
như đôi người tưởng lầm, mà chỉ vì quá quen nhảy qua đầu cái chết để
giành và giữ sự sống chung, sự sống ấy cuốn hút tất cả suy nghĩ và cảm
xúc của người lính. Tôi đã trải qua rất nhiều cuộc chia tay, khi người
sắp chết cố cười giỡn một câu khóa sổ, khi người sống sẵn sàng đổi chỗ
cho bạn và lớn vọt lên trong nỗi đau thiêng của cuộc bàn giao nghiệp
lớn. Cháu nghỉ yên nhé, cháu Hoàn rất yêu của chú, chúng ta rời nhau như
hai đồng chí...
Anh Luân đến bên miệng hố, giục:
-Lẹ lẹ chút, lỡ Hai Mẫn về, tội nó lão à.
Anh
nói đúng, Mẫn không nên nghe xẻng đất đầu tiên rơi bộp bộp xuống hòm,
nhói vào người như hai nắm tay nhỏ đấm vào nắp gỗ đòi ra. Khoan về đã
em, đừng xem anh đứng trên lớp đất mà dẫm, em sẽ không thở được khi nghĩ
đến đứa con nằm dưới. Trong cơn bão lớn nhất của trái đất ngày nay, một
con chim mới nở bị giằng khỏi xác mẹ, theo gió lốc cuốn mãi tới đây rơi
vào tay em, trần trụi, thoi thóp. Em góp chung tình yêu của em và hai
người mẹ nữa để thương con gấp ba. Giặc Mỹ đuổi theo giết nốt đứa bé.
Mới vào Chu Lai vài hôm, chúng đã xé con em ra nhắm rượu khai vị, mở đầu
cho bữa tiệc bắn đâm đốt hiếp cuồng loạn trong nhiều năm tới. Nên khóc
một chút cho nhẹ đi em, sau đó hãy tỉnh và nhớ nhiều, nhớ mãi, cho oán
thù thấm hẳn vào da thịt, cho đến khi bàn tay em xóc lê vào ngực Mỹ cứ
tự nó quen vặn xoáy cây súng thêm một phần tư vòng tròn nữa, bắt cái
lưỡi lê các-bin hình dao găm của Mỹ rạch nát tim chủ cũ của nó trước khi
chân em đạp cái xác sang bên.
*
* *
Tin sang Nhơn
Thọ, Chín Cang để tới chiều mới báo cho Mẫn. Mẫn chỉ thừ ra một lúc và
lau đôi mắt khô, đi với Cang về Nhơn Ái. Sau khi thắp hương lên mả con
nuôi, Mẫn xé vải trắng ghim gần cổ áo, thu dọn đồ chơi và áo quần của
cháu Hoàn gói vào tấm nhựa. Thấy Út Hoa sụt sịt mãi, Mẫn dỗ, bị em gắt:
“Em bồng nó miết em thương, chị có ở với nó đâu...”
Mẫn không đáp.
Mẫn đi soát các bãi chông mới, rẽ luôn ra đồng bó lúa gánh về, đôi lúc
còn cười đùa trông rất tỉnh, chỉ thỉnh thoảng hơi đãng trí.
Tôi
chong đèn đọc một số tư liệu về quân Mỹ mới nhận được, có nhiều chi tiết
còn chừa trống hoặc kèm dấu hỏi trong ngoặc đơn, dành cho các phái viên
tìm thêm. Đến nửa đêm, tôi còn nghe tiếng cọt kẹt đưa võng phía bên kia
hàng rào: Mẫn thường ngủ trên chiếc võng gai cũ cho mát, hôm nào về
không quá khuya thì Mẫn đón con sang nằm chung, cười rúc rích với nhau
rõ lâu. Mẹ Sáu đánh thức mấy đứa nhỏ dậy đi đái, nhắc tôi: Ông Luân
tưởng dễ. Tao ở với con Hai từ hồi nó lọt lòng, tao biết, như bom nổ
chậm... Tôi liếc xuống tập giấy in rô-nê-ô có vẽ các kiểu bom Mỹ, băn
khoăn một phút, lại chúi mũi đọc tiếp. Mẫn không thích tôi đến nhà, hẳn
rất khó chịu nếu giờ này tôi vác xác tới thăm.
Sáng hôm sau, tôi
nghỉ gặt, ở nhà viết báo cáo hàng tuần để gửi về H.68 trước khi xuống
vùng biển ở hầm. Pháo Chu Lai bắn dồn về phía Quảng Ngãi, nổ đi rất to,
nổ lại chỉ văng vẳng. Du kích trong ấy đánh hăng lắm, bắt đầu bắn tỉa
tụi Mỹ rồi. Sân bay Chu Lai thè cái lưỡi bê-tông dài dần vào vùng đông
của huyện Bình Sơn, chắc phản lực sắp đậu xuống đây thôi, không sạt
thẳng ra tàu mẹ nữa. Từ mai tôi sẽ xem Mỹ tận mắt, rõ hơn thứ ra-đa mắt
thần của tụi nó nhiều.
Anh Điển viết thư cho tôi, vẫn ngắn, cộc và thẳng ruột ngựa.
Các
báo cáo của cậu đều có chất, tốt. Cậu đùng đoàng với du kích Cu-ba bấy
nhiêu thôi, chuyển qua đối tượng mới được rồi. Sửa soạn trả lời hai câu
hỏi trong kỳ họp sắp tới:
1. Chủ lực ta đánh Mỹ, đủ sức một diệt một gọn không?
2. Làng chiến đấu Mỹ bước một đủ sức chống cơ giới Mỹ không? Phải đạt mức thấp nhứt ra sao mới chống nổi?
Mình
bận đi phía bắc, chưa về chỗ cậu được, sẽ về. Trên đang nhắm lập các
khu vành đai diệt Mỹ, đáp lại kế hoạch vành đai trắng của địch. Chịu khó
cụ thể và cụ thể nghe Thiêm. Đừng rời con mắt người lính chiến khi coi
Mỹ, để sắp tới nắm bộ đội đánh Mỹ cậu khỏi lớ ngớ, và giúp anh em khác
khỏi lớ ngớ. Có đồng chí đi Đà Nẵng hai tháng, gửi về cho mình mười bảy
trang nhận định về bản chất đế quốc Mỹ và quân đội Mỹ, mình trả lời: tôi
vẫn nghe đài và đọc tin rất đều, nhưng tôi cần biết K50 ở cự ly bao
nhiêu thì xuyên thủng áo giáp Mỹ, tháo mìn định hướng Cờ-lê-mo cách nào
an toàn nhứt! Số người đi ngắm cảnh đã đủ rồi, xin đồng chí làm đúng vai
trò của người đi tìm mỏ, cặm cụi khoan từng lỗ đất...
Càng quen
lâu, tôi càng thích và trọng anh Điển. Dạo mới về, học trường cán bộ
trung đội, hầu hết đám trẻ chúng tôi đều gớm ông thủ trưởng hay bẻ ngược
vặn xuôi này, dần dà mới quý anh hơn hết. Ở đấy còn có anh Dần hiền như
ông Phật, hay nói “Thôi để anh em tự giác”, chúng tôi mến nhưng biết
anh dễ làm chúng tôi hư. Đối với anh Luyến, sau vài tuần chúng tôi đã
phê thật tình là quan liêu. Anh chỉ biết chúng tôi qua bản sơ yếu lí
lịch, theo dõi chúng tôi trong các cuộc hội báo. Mỗi khi đến làm thân
với học viên thì tay anh vỗ vai, miệng anh hỏi: “Khỏe không?” nhưng mắt
đã nhìn đi nơi khác và chân dợm bước đi. Đến cuối khóa, mỗi anh sửa tật
cũ đi một phần, nhưng mỗi người rời trường đều biết rằng vốn liếng mang
theo là do anh Điển bù trì cho phần lớn. Lần này làm việc với anh, tôi
có cái thú của người học trò nắm vững bài gặp ông thầy ham truy. Anh vẫn
hà tiện lời khen, nhưng qua những lá thư dặn dò, tôi đọc thấy niềm tự
hào mà anh cố giấu.
Tôi viết và vẽ đến trưa, ngoáy thêm một lá thư
gửi xê mình nữa. Ba Tơ vừa viết cho tôi, ấy là sự lạ, quanh năm anh
chẳng viết thư. Anh nói bóng rằng xê mình đang ăn tập ở vùng bờ biển Đức
Phổ, rất nhớ thầy Thiêm. Đọc những dòng chữ to kềnh càng và đầy lỗi
chính tả, tôi bồi hồi mất một lúc, trách mình bạc bẽo với anh em. Hàng
trăm lần tôi đã ân hận vì có mới nới cũ như vậy, rốt cuộc tôi vẫn hùng
hục lao vào cái mới mà ít có thì giờ nghĩ đến cái cũ.
Ba Tâm đợi
mang báo cáo về H.68, đang ngáy đẫy trên tấm võng gai mà Mẫn hay nằm.
Căn lều rỗng nay có cái chõng tre mới: một chị ghé vào thăm cháu Hoàn
hôm qua đã đùng đùng về vác cái chõng của chồng vừa đóng, đến ép Mẫn
phải nhận. “Không gì mày cũng là cán bộ xã, khách tứ xứ đến nhà mày phải
rút dép lót đít ngồi, xấu cả mặt bà con!”. Tôi lay Ba Tâm. Chú bật dậy,
dụi mắt, rút cuốn sổ giao công văn, ghi ngày giờ và bắt tôi ký đàng
hoàng, xong xốc bao đi ngay. Chú đoán Mỹ sắp càn, tính đi nhanh về gấp
để khỏi hụt một chầu đánh Mỹ.
Cái dáng lòng khòng của Tâm vừa
khuất sau rào, Mẫn và Hòa đã bước vào đầu ngõ, mỗi cô gánh hai trái mít
già xóc vào khúc cây nhọn hai đầu. Chị em cười với nhau khúc khích. Thấy
tôi đứng đợi trên thềm – cái nền nhà cũ rộng gấp đôi căn lều dựng lại -
Mẫn tạnh cười ngay. Sao mà mặt lạnh với nhau quá vậy? Tôi khó chịu,
bước xuống sân, định về, lại dừng. Anh Luân và mẹ Sáu đều nhờ tôi trông
chừng Mẫn. Một tiếng nói nào đó bên trong cũng thầm thì nhắc rằng Mẫn
tránh tôi nhưng rất cần tôi đến giữa đám tang mới này.
Làng Cá
nhiều vườn mít. Giờ nghỉ trưa tránh cái nắng cháy lưng, các bà các chị
hay vác sào liêm đi dạo vườn, dỗ con trai hay em trai đi theo. Cái ná
cao su của nó bắn bậy bị la hoài, bây giờ lại được việc: bắn thử những
trái mít trên cao, “bịch” là chín, “cốc” là già, chỉ cần đưa sào liêm
lên ngoặc đứt cuống. Bà con ít để mít chín. Trái vừa già đã lấy về lột
lấy múi phơi khô, hột mít luộc chẻ đôi cũng phơi khô, để dành cả bồ ghế
cơm suốt năm, ngon hơn khoai sắn. Còn lại sơ mít đem xào hay nấu canh,
lớp vỏ ngoài băm nấu cho heo, không bỏ chút gì. Tôi ở Bình Định ưa khoe
cây dừa, anh Ba Tơ ca ngợi cây mía Quảng Ngãi, còn anh Luân cả quyết cây
mít phải được xếp hàng đầu. “Lão coi đó, gỗ thiệt tốt nè, trái ăn chín
được mà trừ cơm cũng được nè, khỏi chăm bón rào giậu gì hết, heo rừng đi
bầy cũng đứng dưới ngó lên thôi. Cây là cây chiến lược đó lão!” Tôi
thấy anh có lý.
Út Hòa ngả cái nia lót lá chuối, giơ cao con dao
chuối rộng bản, chém xuống trái mít. Cắc! Hòa kêu một tiếng, rút vội con
dao, lưỡi dao mỏng bị mẻ một miếng to. Hòa lăn trái mít cắt tròn nhè
nhẹ, lấy ra một mảnh pháo bằng hai đốt ngón tay nằm lún khá sâu. Thứ đó
khắp xóm rờ đâu cũng đụng, găm trên cột kèo, rạch bàn, đục cửa, nhưng
cái mảnh này chưa bị gỉ, những cạnh sắc còn nổi vệt khói sạm và vân xanh
lấp lánh. Mẫn đang quạt bỗng ngừng tay, đăm đăm nhìn khúc sắt lởm chởm,
mặt sầm lại. Tôi nhặt nó, nhét luôn vào lỗ chuột bên chân cột, nói vui:
-Trúng trái mít chín chắc anh mẻ răng Út ơi, ăn tham quá mà. Sao không kiếm ít múi ngọt về mời khách?
Út Hòa chỉ ngón tay qua vai, cười:
-Khách
khứa gì anh... Chỗ giáp rào có trái chín, đâu trên cao, em thấy thơm
lắm mà dơi bay hoài. Anh Ba bỏ quên cái ná kia, anh bắn thử cho chị Hai
hái. Cây đó mít mật ngon nhứt, để chín ăn chơi chứ không xắt khô.
Tôi
bắn ná cao su tồi, thử trái này, trúng trái khác, có viên trúng cây bật
lại suýt vào đầu. Rồi cũng tìm được trái chín. Đến lúc ấy Mẫn mới lặng
lẽ vác xào ra vườn, giật trái mít rơi xuống, nó nẻ đôi và bốc thơm lựng.
Tôi bước tới định bưng, thấy Mẫn đứng sững, nhìn xuống.
Tôi ngó theo, lạnh người.
Nằm
nghiêng trên búi cỏ là một vật gì như mảng gáo dừa bằng ba ngón tay, có
nhiều sợi tơ đen và mịn, trong lòng còn dính cơm dừa nạo không hết, màu
trắng lẫn nâu. Mảng sọ của cháu Hoàn. Chúng tôi tìm mãi không thấy, thì
ra nó văng lên cây, vừa rơi xuống.
Mẫn cứ đứng mãi thế, cổ rướn
tới, mắt mở to dần đến tròn xoe trên da mặt bết máu, ngực hổn hển hơi
cúi, tay phải đưa dần ra sau, quờ quờ tìm cái gì đấy không đụng. Mẫn
nhếch mép mấy lần như muốn cười, như cố nén cười. Tôi bứt vội cái lá ráy
gần nhất, úp che miếng xương. Một tiếng rú bật lên. Không phải tiếng
người, họng người không rú được thế. Mẫn chạy vào nhà, vồ cây cạc-bin
trên chõng, lên đạn, nhào ra ngõ. Tôi phóng qua vườn đón đầu, tới cổng
vừa kịp túm cánh tay Mẫn, giữ lại. Mẫn mất đà lạng người, ngã quỵ một
chân chồm lên, co tay thúc báng súng vào ngực tôi. Tôi né lùi được một
ít, vẫn tức điếng. Mẫn hộc trong cổ: “Buông!” Lơ mơ là ăn đạn. Phải làm
dữ. Tôi xuống tấn, tay trái chụp nòng súng đẩy lên trời, tay phải nắm cổ
Mẫn xô rất mạnh ra sau, tay trái đấm móc quai hàm. Mẫn ngã nghiêng
xuống đường, mất súng.
Tôi trừng mắt nhìn Mẫn, rít qua kẽ răng:
-Vô nhà lập tức! Mau!
Út
Hòa sụt sịt dìu chị vào. May sao không ai qua ngõ trong phút đánh vật.
Mẫn bước nặng nhọc, mắt dài dại nhìn quanh, hai tay níu đuôi tóc thả
trước ngực như tự nắm tóc giữ mình lại.
Thấy tôi cầm cạc-bin rẽ sang nhà mẹ Sáu, Út Hòa chạy theo mếu máo:
-Em lạy anh, ở với chị Hai một lát, em hết hồn hết vía đây nè. Để đó em chôn, em sợ chị hơn…
Cũng
phải. Tôi bảo Út Hòa xin mẹ Sáu cái vịm nhỏ bằng sành, đào đất chôn
mảnh sọ cạnh bên mả ngay đi, rồi vào với Mẫn. Mẫn ngồi trên võng, thở
dốc. Đôi mắt đờ đẫn ngước lên, vụt sáng, quá sáng nữa, tôi đọc thấy một
nỗi mừng lớn pha nhiều sợ hãi. Võng của Mẫn treo thấp tránh pháo đêm.
Tôi đặt cái đòn gỗ trên trái mít, ngồi xuống bên Mẫn. Mặt Mẫn dần dần
hồng lại.
- Em…
Tiếng gọi dịu dàng bật ra tuy tôi không
muốn. Một keo cự tuyệt, một tuần lẩn mặt đã quá đủ rồi. Chao ôi, sao tôi
không được chia cơn đau này với Mẫn như người yêu an ủi nhau…Mẫn nhìn
xuống chân, lại nhìn tôi, ánh mắt khắc khoải.
-Tối nay anh xuống ở chỗ chị Tám… xóm chị S.22…lâu lâu anh mới lên trên này một lần. Em hiểu không?
-Dạ.
Mẫn cúi đầu, gật nhanh, tỏ vẻ mình rất tỉnh và biết lỗi.
- Anh lo cho em lắm. Anh… anh thương em lắm. Đừng làm như hồi nãy, anh buồn. Em thôi luôn nghen? Em ừ đi cho anh yên bụng.
- Dạ, dạ…em thôi…
Mẫn
úp mặt trên đầu gối, bắt đầu nấc nhẹ, rồi khóc rung người, nức nở. Khối
đau sưng tấy đã vỡ. Tôi ra sân đón mẹ Sáu với bà con trong xóm đến
thăm, khuyên để Mẫn khóc một lát. Khi tôi quay vào, Mẫn đã nằm ngủ thiếp
trên võng, tóc rủ chạm đất, ép một bên má trong lòng bàn tay kê, đôi
mày giãn ra cong đều trên mí mắt dày đỏ, nét mặt hiền như em gái nhỏ
được mẹ quạt cho ngủ. Tôi xem lại cây cạc-bin, chợt thấy thương quá: Mẫn
còn nhớ khóa chốt an toàn trong khi tôi đuổi theo giật súng. Thế nhưng
lát nữa thức dậy, Mẫn sẽ ngoảnh mặt nơi khác, kiếm cớ mời tôi về nhà mẹ
Sáu. Không đợi Mẫn xua, tôi giao súng cho Út Hòa, ra về ngay, cồn cào
yêu và giận đến nghẹn thở.

