Phương Đông lướt ngoài cửa sổ - Chương 30 (Phần 5)
Khi
những tay lính tráng say khướt biến khỏi toa ăn uống và những người
khác, rất gầy hoặc rất béo, ngẩng mặt lên khỏi cái bát sắt và biến mất,
kéo lê ủng của họ, các cánh cửa của toa ăn uống được khóa lại, những
người làm trong bếp dọn dẹp. Họ đồng ý cho tôi ở lại, bởi, theo các điều
khoản thỏa thuận của chúng tôi, Vassily tiếp tục cung cấp cho tôi những
chai vang trắng Hungary miễn là tôi còn hối lộ anh ta để có rượu và
chia chút rượu cho anh ta. Vassily chìa sổ kế toán cho trợ lý của mình,
Volodya, người cầm bàn tính; Sergei, đầu bếp, liếc mắt âu yếm nhìn Nina
từ cửa bếp; Annushka lau bàn; và Viktor, người phục vụ – người sau đó
nói với tôi là anh ta trả tiền cho Anna để lau bàn hộ anh ta (anh nói bà ta sẽ làm bất cứ thứ gì vì năm rúp).
Viktor ngồi ngay cạnh Vassily và tôi, anh ta moi từ tôi thông tin về
những đội chơi khúc côn cầu: “Bostabroons, Doront Mupplekhleef,
Moon-droolkanadeens và Cheegago Blekaks.” Viktor thường đứng sau Vassily
và gãi má bên phải, nghĩa là Vassily say rồi.
Có một chàng trai trẻ tóc đen lau sàn ít khi nói chuyện với ai. Viktor chỉ anh ta cho tôi và nói, “Gitler! Gitler!”[14]
[14] Hitler.
Chàng
trai lờ Viktor, nhưng để làm cho rõ ý mình, Viktor giậm chân xuống sàn
và dập ủng như thể giết một con gián. Vassily để ngón trỏ của anh ta
ngay dưới mũi giả làm râu và nói, “Này Gitler!” Như vậy chàng trai này
có lẽ là người bài Do Thái hoặc, do thói chế nhạo của người Nga không tế
nhị lắm, có thể anh ta là người Do Thái.
Một buổi chiều, chàng trai trẻ tuổi đi đến chỗ tôi và nói, “Angela Davis!”
“Gitler!” Viktor nói và nhăn nhở.
“Angela
Davis, karasho,” Gitler bắt đầu nói bằng tiếng Nga về cách mà Angela
Davis bị hành hình ở Mỹ. Anh ta khua chổi về phía tôi, tóc anh ta rủ
xuống mắt và anh ta tiếp tục nói to cho đến khi Vassily đập bàn.
“Chính
trị!” Vassily nói. “Chúng tôi không muốn có chính trị ở đây. Đây là chỗ
ăn, không phải trường đại học.” Ông ta nói bằng tiếng Nga, nhưng thông
điệp rõ ràng và ai cũng thấy ông ta cáu với Gitler.
Những
người khác đều lúng túng. Họ đuổi Gitler xuống bếp và mang lên một chai
rượu khác. Vassily nói, “Gitler – ni karasho!”[15] Nhưng chỉ có Viktor
là nhà hòa giải xuất sắc. Anh ta đứng dậy, khoanh tay và, bảo những
người khác trong bếp im lặng, anh ta nói lí nhí:
[15] Không tốt. (Tiếng Nga).
Zee fearst of My,
Zee’art of spreeng!
Oh, leetle seeng,
En everyseeng we do,
Remember always to say “pliz”
En dun forget “sank you”![16]
[16] Nói tiếng Anh với giọng Nga, tạm dịch:
Buổi đầu của tôi
Là vẻ đẹp mùa xuân!
Ôi những điều nhỏ bé
Và mọi thứ ta làm
Luôn nhớ nói “làm ơn”
Cũng đừng quên nói “cảm ơn”!
Sau
đó, Viktor dẫn tôi tới khoang anh ta ở và cho tôi xem cái mũ lông mới
tậu. Anh ta rất tự hào vì nó có giá một tuần lương của anh ta. Nina cũng
ở trong khoang, ở chung với Vassily và Anna – quá đông cho một chỗ chỉ
bằng cái tủ quần áo cỡ trung bình. Nina cho tôi xem hộ chiếu của cô, ảnh
của mẹ cô và, trong khi chuyện này tiếp diễn, Viktor biến mất. Tôi vòng
một tay quanh Nina, tay kia bỏ cái mũ bồi bàn của cô ra. Mái tóc đen
của cô rủ xuống vai. Tôi ôm cô thật chặt và hôn, nếm hương vị bếp núc.
Chuyến tàu vẫn đang chạy. Nhưng cánh cửa khoang đang mở và Nina đẩy tôi
ra nói nhỏ, “Không, không, không được.”
Vào
ngày trước Giáng sinh, buổi chiều, chúng tôi đến Svedlovsk. Trời màu
xám xịt và rất lạnh. Tôi nhảy ra khỏi cửa và nhìn ông già bước xuống bậc
thang vào nhà ga. Trong khi ông đang đi, những tấm chăn rơi xuống ngực,
tay ông ôm chặt vào ngực, hai móng tay màu xám hợp với màu khuôn mặt
ông. Anh con trai chạy đến kéo những tấm chăn cao lên để che miệng ông.
Anh quỳ xuống tuyết, quấn cái khăn tắm quanh đầu ông già.
Nhìn
thấy tôi đứng gần, chàng trai nói bằng tiếng Đức, “Svedlovsk. Đây là
nơi địa đầu của châu Âu và tận cùng của châu Á. Vùng núi này là Ural.”
Anh ta chỉ vào phía sau đoàn tàu nói, “Châu Á,” sau đó chỉ về phía đầu
máy, “Châu Âu.”
“Bố cậu thế nào?” Tôi hỏi, khi những người khiêng cáng đến và đặt ông lên cáng. Cáng là một cái võng, đung đưa ở giữa họ.
“Tôi nghĩ ông đi rồi,” nó nói. “Das vedanya (Tạm biệt).”
Sự
chán nản của tôi tăng lên khi chúng tôi tăng tốc về phía Perm trong bão
tuyết lồng lộn. Các trại khai thác gỗ và làng mạc chìm một nửa trong
tuyết, đằng sau chúng là rừng bạch dương đóng băng dày cả mét, băng bám
trên cành cây khiến chúng trông như những đồ bạc chạm khắc. Tôi có thể
thấy bọn trẻ con băng qua con sông đóng băng trong cơn bão, đi rất chậm
về phía mấy căn lều, chúng làm tim tôi nghẹn lại. Tôi nằm trên giường,
vớ lấy cái đài, lớp nhựa của nó lạnh ngắt vì đặt cạnh cửa sổ, tôi cố bắt
sóng một đài phát thanh nào đó. Tôi giương ăng ten lên – cái thây ma
quan sát tôi qua mớ thức ăn không được che đậy. Sóng rất nhiễu, có một
đài của Pháp, sau đó là bài hát “Jingle Bells”. Cái xác chết mỉm cười.
Tôi tắt đài đi.
Vào
tối muộn đêm Giáng sinh, tôi gõ cửa toa ăn và bắt gặp Vassily. Ông ta
nói với tôi, với một cái nhún vai, rằng chỗ này đã đóng cửa. Tôi nói,
“Đêm nay là Giáng sinh.” Ông ta nhún vai. Tôi đưa cho ông ta năm rúp.
Ông ta cho tôi vào, lấy một chai champagne và, khi ông ta bật nắp, tôi
nhìn quanh toa tàu trống trơn. Trong thời khắc tuyệt vời nhất này, trời
lạnh, không có dòng khí ấm áp của lò sưởi và bị gió tuyết vùi dập, trời
trở nên lạnh hơn bình thường – chỉ có một đèn ống thắp sáng và hai chúng
tôi. Tôi không thể tưởng tượng nổi thứ gì tồi tệ hơn khi chứng kiến đêm
Giáng sinh đang đến. Trong cái lạnh rùng mình, Vassily kéo ghế và rót
cho cả hai chúng tôi. Ông ta cúi lưng xuống, như thể champagne không
ngon, nhăn mặt nói, “Yagh!”[17]
[17] Hừm. Từ cảm thán tiếng Nga.
Chúng tôi ngồi đối diện, uống và nói chuyện, cho đến khi Vassily nâng cái ly của ông ta lên và nói, “U.S.A!”
Lúc
đó, tôi cũng đủ say để nhớ về một trong những bài học tiếng Nga mà
Vladimir đã dạy tôi. Tôi chạm cốc với Vassily và nói, “Soyuz Sovietski
Sosialistichiski Respublik.”[18]
[18] Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Liên bang Xô viết. (Tiếng Nga).
“Thảo nguyên!” Vassily la lên. Ông ta hát. “Thảo nguyên! Thảo nguyên!”
Chúng
tôi cạn hết chai đó, uống tiếp chai khác và Vassily tiếp tục hát.
Khoảng nửa đêm, ông ta chuyển sang hát một bài của quân đội mà tôi cuối
cùng cũng nhận ra giai điệu của nó. Tôi hát khẽ theo ông ta và ông ta
nói “Da, da!” để khuyến khích tôi. Tôi hát bất kỳ từ gì tôi biết, lời lẽ
tục tĩu tiếng Ý đối thoại với những câu thơ yêu nước Nga của ông ta:
Compagna Polacca
Hai fatto una cacca?
Si, Vassili!
Ho fatto venti killi!
Io ho fatto nelle grande steppe…[19]
[19] Tiếng Ý, tạm dịch:
Polacca bạn ơi,
Bạn có ỉa không?
Có, Vassili!
Em ỉa hai chục ký!
Ỉa trên thảo nguyên bao la…
Vassily vỗ tay và hát cùng với tôi bằng tiếng Nga. Chúng tôi đứng trong toa xe ăn uống, hát cùng nhau, vừa uống vừa hát.
Compagna Tatyana,
Hai fatto un’ putana?
Si, Bonanno!
Ho fatto per un’ anno!
Io ho fatto nelle grande steppe…[20]
[20] Tiếng Ý. Tạm dịch:
Tatyana bạn ơi,
Bạn có làm điếm không?
Có, Bonanno!
Em làm một năm rồi!
Em làm giữa thảo nguyên bao la…
“Chúc
Giáng sinh vui vẻ,” tôi nói khi chai rượu thứ tư được đưa ra. Vassily
mỉm cười, gật gật đầu, cười khùng khục bằng giọng khàn khàn. Ông ta cho
tôi xem đống hóa đơn nhà hàng ông đang điền vào. Ông ta rũ nó và tung
lên không trung: “Hây!” Chúng tôi lại ngồi xuống, Vassily quá say để nhớ
là tôi không nói được tiếng Nga, diễn thuyết với tôi trong vòng mười
lăm phút. Tôi đoán ông ta đang nói, “Nhìn tôi này. Năm mươi tuổi và tôi
đang điều hành cái toa ăn nhếch nhác này. Ờ. Đi tới đi lui, hai tuần một
lần từ Moscow tới Vladivostok, ngủ tại hạng thường, bận đến nỗi không
có lúc đi tiểu, ai cũng xấc xược với tôi. Ờ. Anh gọi đó là đời hả?” Đến
cuối bài phát biểu, đầu ông ta trĩu nặng, mí mắt sụp xuống và bài phát
biểu trở nên nặng trịch. Ông ta gục xuống bàn, vẫn giữ chặt cái chai,
rồi lăn ra ngủ.
“Chúc Giáng sinh vui vẻ.”
Tôi không uống nữa và trở về toa xe của mình qua đoạn nối.
Sáng
hôm sau, Giáng sinh, tôi tỉnh dậy và nhìn thây ma khoanh tay ngủ như
một cái xác ướp. Provodnik nói với tôi bây giờ là sáu giờ sáng theo giờ
Moscow. Đồng hồ của tôi là tám giờ. Tôi vặn lùi lại hai giờ và đợi bình
minh lên, ngạc nhiên vì thấy rất nhiều người trong toa cũng có quyết
định tương tự. Trong bóng tối, chúng tôi đứng cạnh cửa sổ, nhìn bóng của
mình. Ngay sau đó, tôi hiểu tại sao mọi người lại đứng đó. Chúng tôi đi
vào vùng ngoại ô của Yaroslav và tôi nghe thấy người ta xì xào. Bà cụ
già mặc bộ váy ngủ có ren, người đàn ông phương Đông đi với vợ và con,
những kẻ say rượu chơi domino, thậm chí thây ma cũng đang nghịch cái đài
của tôi: họ hướng mặt về phía cửa sổ khi tàu bắt đầu xình xịch chạy qua
cây cầu dài. Bên dưới chúng tôi, dòng sông đen ngòm, một nửa đóng băng
và nhiều chỗ in bóng ngọn lửa từ các ống khói Yaroslav. Đó là sông
Volga.
… Thành phố Hoàng gia của David,
Nơi có lâu đài gỗ nhỏ…
Cái
gì thế? Những giọng ngọt ngào, trong như tiếng đàn organ, cất lên từ
trong toa của tôi. Tôi đông cứng lại và lắng nghe. Những người Nga, ngỡ
ngàng trước quang cảnh sông Volga, đã yên lặng hết thảy; họ nhào tới,
nhìn xuống dòng nước. Còn tiếng nhạc thần thánh, mỏng mảnh, thơm ngát,
nhẹ lướt trong không trung, ấm như một mùi thơm.
Nơi một bà mẹ sinh đứa con nhỏ
Trong máng cỏ, là giường của nó…
Bài
thánh ca cất lên ngập ngừng, nhưng sự tĩnh lặng tôn kính của người Nga,
sự chậm rãi của đoàn tàu giúp cho giọng hát mềm mại của đứa trẻ toả
hương khắp hành lang. Sự lắng nghe của tôi chuyển thành cơn suy ngẫm về
nỗi buồn khôn khuây, như thể cái tinh tế nhất của niềm vui được sinh ra
từ mũi kim của đau khổ.
Mary là người mẹ dịu dàng đó,
Jesus Christ, đứa con nhỏ của bà…
Tôi
đi về phòng và nghe đài cho tới khi buổi phát thanh kết thúc, chương
trình âm nhạc Giáng sinh của đài BBC. Bình minh không bao giờ lên vào
ngày hôm đó. Chúng tôi đi trong sương mù dày đặc và qua trận cuồng phong
mù mịt khiến cho những khu rừng trở nên ma quái. Trời bên ngoài không
lạnh: tuyết đã tan đôi chút và các con đường – bây giờ xuất hiện thường
xuyên hơn – bị lún và đầy bùn. Suốt buổi sáng, các thân cây ẩm thâm đen
vì ướt, in hình lờ mờ trong sương, những cây thông hiện lên trong tầm
nhìn cực kỳ hạn chế vì sương mù dẫn tới những nhà thờ chóp nhọn. Ở đâu
cũng vậy, cây cối đều lờ mờ, giống như dư ảnh trong mắt. Tôi chưa bao
giờ cảm thấy gần gũi với đất nước này, sương mù càng đẩy tôi ra xa hơn
và tôi cảm thấy, sau mười nghìn cây số với tất cả những ngày ở trên
chuyến tàu này, chỉ có một sự cách biệt lớn; những gì gợi nhớ về nước
Nga – những người đàn bà trong bộ áo khoác vải bạt màu cam cầm xẻng làm
việc trên đường ray, hình ảnh tượng Lenin, biển báo ga tàu lẫn trong
tuyết vàng và những con chim ác là kêu lên giật mình khi chuyến tàu Nga
đi qua – tất cả những thứ này đều làm tôi bức bối. Tôi phẫn nộ với kích
cỡ nước Nga; tôi muốn về nhà.
Toa
ăn bị khóa cửa vào lúc chín giờ. Tôi quay trở lại lúc mười giờ và thấy
nó trống trơn. Vassily giải thích là vì chúng tôi sắp đến Moscow rồi nên
toa ăn đóng cửa. Tôi mắng ông ta, tự ngạc nhiên với cơn tức giận của
mình. Bị phản đối, ông ta làm cho tôi một quả trứng ốp lết; ông ta mang
trứng cho tôi với một lát bánh mì và một cốc trà. Trong khi tôi ăn, một
phụ nữ đi vào. Cô ta mặc áo khoác đen, đội chiếc mũ đen có gài phù hiệu
của đường sắt Liên Xô. Cô ta nói với Vassily: “Kleb”[21]. Vassily đuổi
cô ta đi: “Không có!” Cô ta chỉ vào bữa ăn của tôi và nhắc lại yêu sách
của mình. Vassily hét vào mặt cô ta. Cô ta đứng lên đẩy mạnh Vassily.
Ông ta cười với tôi vẻ xin lỗi khi ông ta đẩy lại. Người phụ nữ bước đi
và hét lớn vào ông ta. Vassily tức điên lên. Ông ta nheo mắt lại và
quăng mình tới đấm cô ta. Ông ta vặn tay người đàn bà ra đằng sau lưng
và đá mạnh. Người đàn bà rú lên rồi bỏ đi.
[21] Bánh mì. (Tiếng Nga).
Vassily
nói với tôi, “Nikarasho!”[22] Cuộc đánh nhau khiến ông ta không thở
được. Ông ta cười điệu cười khờ dại của mình. Tôi tự thấy xấu hổ vì
không giúp người phụ nữ. Tôi đẩy đĩa thức ăn ra bên cạnh.
[22] Không hay tí nào. (Tiếng Nga).
“Pavel?” Vassily nháy mắt với tôi.
“Ông là một con khỉ khốn nạn.”
“Pozhal’sta,”[23] Vassily nói, giọng niềm nở.
[23] Làm ơn. (Tiếng Nga).
Chuyến
tàu tiến gần đến Moscow với tốc độ trung bình. Tôi đi dọc các hành lang
của hạng thường để về chỗ của mình, thu dọn đồ đạc. Những hành khách
khác đã thu dọn xong đồ đạc. Họ đứng với vẻ của người đến đích, hút
thuốc cạnh cửa sổ. Tôi đi qua từng người, nhìn thấy tội lỗi và lừa lọc
trên khuôn mặt họ, sự hung bạo trong những con mắt nhỏ bé của họ, mấy
nắm đấm giấu trong ống tay áo dài một cách bất thường.
“Khỉ,” tôi nói, khi đi qua một đám lính.
Một người đàn ông giơ cái mũ lông ra chắn đường tôi. Tôi đi đến chỗ anh ta. Anh ta ngoác bộ hàm to đùng ra ngáp.
“Khỉ!” Anh ta đứng sang một bên.
Tôi
nói khỉ với provodnik, khỉ với người đàn ông ở cạnh ấm trà, khỉ với tay
sĩ quan quân đội trong khoang hạng sang; và tôi cứ lẩm nhẩm, tôi thấy
cái thây ma cùng phòng ngồi cạnh cửa sổ trong cái áo choàng, ngón tay
lốm đốm của ông ta chỉ về Moscow. “Khỉ!” Tôi chúc mừng Giáng sinh ông
ta, tặng ông ta hai cái lau tẩu, một hộp cá trích Nhật và một cái bút bi
sẽ hết mực ngay khi ông ta viết tên mình.
Đấy
là kết thúc chuyến tàu, nhưng không phải kết thúc hành trình của tôi.
Tôi vẫn có vé đến London và hy vọng sẽ bắt được chuyến tàu đi về phía
Tây, tôi hủy chỗ đặt tại khách sạn và dành cả buổi chiều để tìm một chỗ
ngủ hạng sang trên chuyến tàu đến mũi Hook của Hà Lan, đi qua Warsaw và
Berlin. Tôi đã gói ghém hành lý, sẵn sàng lên đường, tôi đến ga tàu sớm
hơn một tiếng vào đêm Giáng sinh. Nhân viên lữ hành tiễn tôi tới rào
chắn và chào tạm biệt. Tôi đứng bốn mươi lăm phút trên sân ga, đợi toa
tàu của mình tới.
Không
phải một người khuân vác, mà là một nhân viên xuất nhập cảnh muốn biết
nơi đến của tôi. Anh ta nhìn lướt qua hộ chiếu của tôi, giở các trang
sột soạt. Anh ta hất hàm hỏi.
“Thị thực của Ba Lan hả?”
“Tôi không dừng ở Ba Lan,” tôi nói. “Tôi chỉ đi ngang qua đó.”
“Thị thực chuyển tiếp,” anh ta nói.
“Anh nói thế nghĩa là sao?” tôi nói. “Này, chuyến tàu này sắp khởi hành rồi!”
“Anh phải có thị thực chuyển tiếp của Ba Lan.”
“Tôi sẽ lấy nó ở biên giới.”
“Không thể. Họ sẽ đưa anh về đây.”
“Này
nhé” – còi đã hú rồi – “Tôi phải lên chuyến tàu này. Làm ơn – nó sắp
sửa đi mà tôi vẫn chưa lên!” Tôi nhấc đồ của mình lên. Người đàn ông giữ
tay tôi lại. Nhân viên gác ghi đi qua, ra hiệu bằng lá cờ xanh. Tàu
chuyển bánh.
“Tôi
không thể ở đây được!” Nhưng tôi vẫn để người đàn ông nắm tay áo mình
và nhìn chuyến tàu tốc hành đi Hà Lan xa dần khỏi ga: Xììììììình
xịịịịịịịch. Những khuôn mặt hành khách hiện qua cửa sổ. Họ hạnh phúc,
đang yên ổn rời đi. Giáng sinh rồi, em yêu, họ nói, và chúng ta lên
đường. Thế là hết, tôi nghĩ, khi nhìn đoàn tàu rời đi, nó mang cả tim
tôi đi mất. Thế là hết: tôi bị “duffill!”
Hai
ngày sau, tôi đã có thể đi khỏi Moscow, nhưng chuyến đi của tôi tới
London chẳng có gì đáng nhớ. Tôi cố gắng thu gom những trí nhớ trong
chuyến về này; tôi ngủ khi đi qua Warsaw, nhìn giận dữ ở Berlin và đi
vào Hà Lan với một cục đá trong bụng. Tôi cảm thấy như bị lột da sau
chuyến đi bằng tàu hỏa dài bốn tháng: như thể tôi đã trải qua đợt điều
trị đau đớn, tự làm ốm yếu đi bằng đam mê của mình hòng thoát khỏi nó.
Nói trắng ra cái câu khuôn sáo này là tôi đã chán ngấy đi lại, chỉ hy
vọng chóng được tới nơi. Còi tàu hú lên khi đi qua nơi giao cắt – một
tiếng hú dài kiểu con nít – nó chế giễu tôi, chứ không làm tôi bị mê mẩn
nữa. Tôi đã đúng: bất cứ thứ gì cũng có thể có trên một chuyến tàu,
thậm chí cả sự thôi thúc muốn xuống tàu. Tôi uống say để tự bịt tai
mình, nhưng vẫn nghe được tiếng ầm ĩ của các bánh xe.
Mọi
chuyến đi đều theo một vòng tròn. Tôi đã đi qua châu Á, đi theo đường
parabol trên một bán cầu của hành tinh này. Sau cùng, chuyến đi hoành
tráng này chỉ là đường về nhà của một người đàn ông đầy cảm hứng.
Và
tôi đã học được điều mà mình vẫn ngầm tin tưởng, rằng sự khác biệt giữa
đi và viết với tiểu thuyết là sự khác biệt giữa ghi lại những gì mắt
thấy với khám phá những gì trí tưởng tượng biết. Tiểu thuyết là sự mừng
vui đơn thuần – thật buồn là tôi không thể thuật lại chuyến đi như một
tiểu thuyết. Tiểu thuyết ấy đã có thể có (bây giờ chúng tôi đang lên một chuyến phà xanh tại mũi Hook của Hà Lan),
một hình thức dễ chịu nếu tôi khéo léo thể hiện ánh sáng – bóng tối và
sử dụng thủ pháp trì hoãn. Tôi đã có thể gặp hiểm nguy: Sadik có thể có
một con dao bấm và răng vàng, đường ray ở Huế có thể dính một quả mìn
nổ, chuyến tàu Phương Đông có toa ăn xa hoa và Nina – van nài tôi – có
thể nhẹ nhàng gõ vào cánh cửa buồng tôi và cởi phăng bộ đồng phục của cô
khi chúng tôi đi qua sông Volga. Mọi thứ không xảy ra như thế và trong
mọi trường hợp, tôi có lẽ đã quá bận rộn cho những thứ thích thú đó. Tôi
đã làm việc hằng ngày, vầy vò quyển sổ của tôi như Trollope viết vội
bản ghi nhớ uỷ nhiệm bưu điện để đặt tất cả chúng trong thì quá khứ.
Vui
thay, vẫn còn sự nhanh nhẹn nhờ vào niềm hân hoan không dứt, tôi lên
chuyến tàu đi London – sửa lại: Tôi đang rời khỏi Harwich (giữa các mệnh đề thường là ba chục cây số và thêm một trăm năm mươi cây nữa trước khi tôi kết thúc một câu)
và nhìn vào cánh đồng tháng Giêng trơ trụi. Trên lòng mình, tôi có bốn
quyển sổ dày. Một quyển bị dính nước ở Madras, một quyển dính xúp củ
cải, quyển màu xanh (có ghi chữ vàng, Chợ Ga Punjab) có cái
vòng đáy cốc rượu ở bìa trước và quyển màu đỏ đã nhạt màu thành màu hồng
vì ánh sáng mặt trời ở Thổ Nhĩ Kỳ. Những vết này giống như những ghi
chú. Chuyến đi đã kết thúc và quyển sách cũng vậy, trong một thời khắc
nào đó, tôi sẽ giở trang đầu tiên ra để tự tiêu khiển trên đường về
London, tôi sẽ đọc với chút tâm đắc về chuyến đi, nó bắt đầu rằng, Thuở
nhỏ, khi sống trong khu vực quanh Boston và bang Maine, hiếm khi tôi
nghe thấy tiếng tàu hỏa đi qua và cũng chẳng dám mơ ước được ngồi trên
tàu.

