Nỗi buồn chiến tranh - Chương 02
- Đồ cứt đái? Kiên chửi gằn và xiết cò.
Điểm xạ AK bắn gần đến nỗi tên ngụy bật khỏi gốc cây như bị búng đi.
- Má... á á... - Kẻ bị giết a á rú lên thất thanh.
Kiên
rùng mình nhảy xổ tới. Đạn từ các gốc cây quạt châu lại. Mặc, Kiên
nghiến răng, đứng phơi ra chúc họng súng xuống, điên cuồng nã từng phát,
từng phát đóng đanh lên cái thân xác còn nóng hổi sức sống đang oằn oại
đau đớn trong cơn rùng giật giãy chết. Máu phọt tóe lên ướt ống quần
Kiên. Rồi, hai bàn chân in dấu đỏ lòm lên cỏ, anh lại từ từ đi thẳng đến
những tên thám báo khác đang núp bắn, súng kẹp bên sườn một cách hờ
hững, ngực áo phanh rộng. Không sợ hãi, không nổi hung lên. Mệt mỏi âm
thầm, vậy đấy...
Vậy mà trưa hôm nay người ta lại triệu Kiên lên
ban quân lực trung đoàn để thông báo anh được xếp vào danh sách đi học
dài hạn. Trường sĩ quan lục quân và hiện chỉ chờ quyết định của sư đoàn
nữa là sẽ lên đường ra Bắc.
- Đánh nhau còn xơi, chả biết đến bao
giờ mới mãn cuộc, trưởng ban quân lực rầu rĩ nói khàn khàn - Phải giữ
giống không thì tiệt. Sau vụ thu hoạch thất bát dù có đói nhăn vẫn phải
chọn những hạt thóc tốt nhất cho mùa sau... Khi các cậu học xong trở về
thì bọn tớ, lớp cán bộ chỉ huy hiện nay chả chắc còn sót mống nào. Trung
đoàn và nói chung chiến tranh là do chính các cậu xoay vần.
Kiên
làm thinh. Vài năm trước có lẽ anh đã lấy làm hãnh diện và vui mừng coi
đây là một hạnh vận nhưng bây giờ thì không, bây giờ thì xin đủ. Chẳng
những không muốn mà chắc chắn chẳng bao giờ đi học, chịu trở thành hạt
giống cho những vụ mùa chiến tranh liên miên. Anh chỉ muốn được yên
thân, chết một cách yên thân, yên với số phận con sâu cái kiến của chiến
tranh. Anh chỉ có thể sống và chỉ có thể vui lòng chết trong hàng ngũ
những người lính thường mà một trong những đặc trưng góp phần tạo lên
sức mạnh vô địch của họ ở mọi chiến trường là tính chất nghĩa quân nông
dân giản dị, dịu hiền có cách nhìn đời nhân hậu và rõ ràng sẵn sàng chịu
mọi tai họa của chiến tranh tuy nhiên không bao giờ là những người chủ
chiến...
Đằng sau có tiếng chân ai đó đang đi tới, nhưng Kiên
không ngoảnh lại. Người nọ bước đến bên anh, lặng lẽ ngồi xuống. Lúc này
ở rừng tre bên kia suối bóng tối dường như đã ken dày. Hoàng hôn nhòa
mịt. Ngày mưa ngắn ngủi lụt chìm.
- Ngồi câu đấy à? - Người nọ lên tiếng.
- Ừ! - Nhạt nhẽo, Kiên nhìn sang. ấy là Can, A trưởng A2, một anh chàng bé nhỏ, còm nhom, quê ở "cầu tõm". Can cầu tõm.
- Dùng mồi gì thế?
- Giun, với nước bọt - Kiên đáp uể oải, nhổ chắt qua kẽ răng - thấy bảo đang sốt cơ mà, mò ra dầm mưa làm gì vậy?
- Chưa được con nào à?
-
Ờ, câu để mà câu ấy mà - Kiên lầm bầm. Quỷ thật, anh nghĩ. Y hẳn lại
chực tâm sự chi đây. Anh chúa ghét nghe ai bộc bạch sự tình riêng tư
ngóc ngách. Nếu cả trung đội vào những ngày toàn sự cực khổ này đều đến
tìm anh để bày tỏ nỗi nọ niềm kia thì chắc chắn anh phải đâm đầu xuống
thác thôi.
- Ngoài Bắc cũng đang mưa to lắm, - Can gợi chuyện giọng ủ ê - Đài họ loan thế, bảo là to chưa từng thấy. Quê tôi lại lụt mất.
Kiên ậm ừ. Mưa mau hơn. Không khí se lạnh. Sắp tối hẳn tới nơi rồi.
- Nghe nói anh sắp được ra Bắc học phải không? - Can hỏi.
- Ừ, - Kiên đáp, sa sầm - mà sao?
- Không. Hỏi thế thôi. Mừng cho anh.
- Mừng à? Kiên cười gằn, và rành rọt văng một câu rõ tục.
-
Không, đừng nghĩ là tôi tỵ Kiên. Thành thật đấy. Anh không ưa tôi,
nhưng chẳng lẽ không hiểu lòng dạ tôi chút nào sao? Ai trong anh em mình
được sống, ra Bắc cũng là đáng mừng cả. Cứ ra đi rồi tính sau. Kệ. Miễn
là không ngỏm trong mùa khô tới. Trời cho thì cứ nhận. Anh đã chịu đựng
nhiều. Với lại anh là con nhà trí thức, không đáng phải chết. Với lại,
nói thực chẳng ai muốn chết, đúng không?
- Ai mà muốn chết, thực
thế. Nhưng chẳng tự ý trách nó được, càng không thể trút nó lên vai
người khác. Tớ chả đi đâu mà cậu phải mừng hộ tớ.
- Còn tôi thì
bấy lâu vẫn ngóng một cơ hội. Thú thực là tôi vẫn mơ đợt học sĩ quan
này. Chứ sao, tôi ít tuổi hơn anh. Đã tốt nghiệp 10. Huân chương chiến
công. Tôi rất gắng tu dưỡng, chính anh cũng biết đấy. Tôi hoàn thành
nhiệm vụ, không cãi cấp trên, không rượu, không hồng ma, không đánh bài,
xúc gái, văng tục cũng không. Hóa ra công cốc. Thành thật là không tỵ,
chỉ buồn. Thành thật là tôi rất muốn sống. Đã sống gì đâu. Nhưng tôi sẵn
sàng mất tuốt chỉ để có một tuần ở ngoài Bắc.
- Nếu thế để tớ bảo quân lực họ sang tên - Kiên mỉa mai - Chứ đừng kêu càm ràm nữa. Về lán mà nằm đi!
-
Không, đừng nói vậy, Kiên? Tôi nói vậy là nói thực tình chứ có ý gì
đâu. Tôi sẽ tự cứu lấy mình. Chỉ thế thôi. Tôi không sợ chết, nhưng cứ
bắn mãi giết mãi thế này thì chết hoại tình người. Dạo này đêm nào tôi
cũng mộng thấy mình chết và tôi bơi ra khỏi xác biến thành con ma cà
rồng đi hút máu người. Anh còn nhớ trận Plây-cần năm 72 không. eo nhớ
cảnh thây người la liệt trong khu gia binh không? Máu tới bụng chân, lội
lõm bõm... Tôi vẫn tự nhủ là tránh giết người bằng dao và lê, nhưng mà
quen tay mất rồi. Thế mà hồi nhỏ tôi đã suýt thi đỗ vào trường dòng đấy.
Kiên
tò mò nhìn Can. Trong quân ngũ thỉnh thoảng lại thấy tòi ra vài tay dị
giáo kiểu này. Tâm hồn bấn loạn, ngôn ngữ độc thoại rối mù, họ bị thực
cảnh chiến tranh đầy ải tàn nhẫn, làm cho suy sụp sâu sắc cả thể xác lẫn
tinh thần. Nhưng lạ lùng là bao nhiêu năm chiến đấu bên nhau, Kiên chưa
thấy Can dài dòng triết lý, chỉ thấy ở Can một bản chất con nhà nông
thích hợp tuyệt đối với cảnh địa ngục chiến hào. Đã mang thân làm thằng
lính B3 mà lại hay kêu rên và mau nước mắt thì khốn nạn càng thêm khốn
nạn Can ạ. Kiểu này, cậu phải ra khỏi làng trinh sát thôi.
- Tôi
thường tự hỏi, - Can lại tiếp tục dòng tâm sự não nề - Mình vào đây làm
gì khi để mẹ già ở nhà cơ cực không nơi nương tựa, ngày đêm than khóc
nhớ con... Hồi tôi vào lính, làng đang lụt, vất vả lắm tôi mới dìu được
mẹ tôi lên đê. Mẹ tôi cứ van tôi tìm cách mà trốn đừng để người ta triệu
tập. Nhưng lủi sao nổi cơ chứ. Anh tôi đã đi rồi, đáng lẽ tôi được miễn
coi như con độc, mà ở xã họ không chịu. Bao thằng khốn nạn ung dung
hưởng lộc chiến tranh chỉ con cái nông dân là phải dứt lòng ra đi bỏ lại
đằng sau cảnh mẹ già màn trời chiếu đất. . . cho nên, Kiên ạ , cho nên.
. .
Bất đồ Can òa khóc, gục mặt xứng đầu gối, bả vai và mảng lưng
trần gầy guộc, ướt loáng bần bật run. Kiên thu cần câu, đứng dậy, cau
mày nhìn xuống Can, nói:
- Cậu ngửi truyền đơn của nó hơi nhiều
đấy. Vô phúc mà có kẻ báo lên trên thì rồi đời. Tớ đang nghĩ, hay là cậu
đang rắp ranh "tút"?
Không ngẩng lên, Can nói, giọng bị nuốt đi trong tiếng mưa và tiếng suối:
- Thì thế chứ sao. Tôi đi... Tôi biết anh là người tốt, sẽ hiểu, nên tôi tìm anh để qua anh xin có lời từ biệt anh em...
-
Mày điên rồi, Can! Một là mày không có quyền làm thế, hai là tút làm
sao nổi. Sẽ bị tóm. Rồi tòa án binh, ăn đạn, càng vô phúc hơn. Nghe tao,
bình tâm đi. Tao sẽ kín miệng, sẽ không ai biết.
- Ba lô tôi ém sẵn trong rừng rồi.
- Tao không để mày đi dâu. Về lán ngay, cố chịu đựng một thời gian nữa. Chẳng chóng thì chày cũng phải hết chiến tranh chứ?
-
Không. Tôi đi. Thắng hay thua, kết thúc mau hay kết thúc chậm, với tôi
chẳng nghĩa lý gì nữa. Để cho tôi đi! - Can nấc lên - Đời tôi tàn rồi,
nhưng dù thế nào tôi cũng phải gặp lại mẹ, phải nhìn thấy làng tôi...
Anh sẽ không cản đâu, có phải không? Lẽ nào anh sẽ cản?
- Hãy nghe tao, Can! Đi thế này là tự sát và nhục nhã lắm.
- Sát, thì tôi đã sát quá nhiều rồi, có tự sát thì cũng chẳng biết ghê tay đâu. Thành thật đấy. Còn nhục?
Can từ từ đứng dậy, đối diện, nhìn thẳng mắt Kiên.
-
Cả đời đi đánh nhau, thú nhật, tôi chả thấy cái trò này là có gì vinh.
Nhưng do hy vọng nên vẫn còn chịu đựng. Về quê, càng khốn nạn, tôi biết.
Người ta chẳng để cho sống đâu. Nhưng mấy đêm vừa rồi tôi toàn mê thấy
mẹ tôi gọi tôi... Có nhẽ anh tôi đã chết mà mẹ tôi thì khổ não lâm bệnh
rồi chăng. Không thể nấn ná, vì suất học sĩ quan là của anh... Tôi phải
lần về quê. Chỉ mong anh em trong trung đội thương tình, thông cảm. Sẽ
chẳng ai tóm nổi tôi lại nếu như chính anh em trinh sát không truy đuổi.
Nhất là anh, Kiên ạ, anh thả cho tôi đi thì tôi sẽ đi được... Tôi đành
mang tội lỗi với anh em... Quê tôi thì anh biết rồi đấy... Hà Nam, Bình
Lục... mai sau mà có dịp...
Trong bóng tối, Can đưa bàn tay lạnh
ngắt, móp nước nắm cổ tay Kiên. Hồi lâu, Kiên gạt tay Can ra và quay
lưng bỏ đi không nói một lời. Can đứng ở lại bờ suối. Về gần tới lán,
Kiên như sực tỉnh, sững lại, vụt bỏ cần câu giỏ cá anh lao người chạy
trở lui.
- Can... an... an? - Kiên gọi, lắng nghe, rồi lại gọi gào lên - Can ơi? ơi ơi ơi... Đợi với... ới... ới?
Suối
lũ rền rĩ. Mưa tầm tã trong bóng đêm. Tối tăm, ẩm ướt, hoang rợn, đất
trời như bị bưng kín, bị đè nghẹt. Kiên bật khóc. Anh không hiểu nổi
lòng mình, không tự chủ được, nước mắt cứ ứa ra mãi. Bấy giờ, mặc dù nạn
đào ngũ lan rộng khắp trung đoàn, chẳng khác nào những cơn ói mửa làm
ruỗng nhiều trung đội, không thể chắn giữ, ngăn bắt nổi, nhưng riêng
trường hợp Can trên vẫn truy lùng ráo riết. Người ta sợ rằng Can sẽ trốn
sang vùng địch mang theo những bí mật về hướng hành quân của toàn đoàn.
Sau nhiều ngày lội rừng sục sạo, vệ binh trung đoàn đã tìm thấy kẻ đào
tẩu. Chẳng ở đâu xa, họ tìm thấy Can ở hẻm Tò Vò, cách cụm lán của trung
đội trinh sát không đầy hai giờ băng rừng. Từ đấy về được Bình Lục còn
xa lắm, vời vợi cách trở...
Đến cuối tháng Chín, vài ngày trước
khi trung đoàn nhổ neo rời Gọi Hồn, lính tráng nhận được thư nhà, đợt
thư từ duy nhất của suốt cả mùa mưa. Riêng đội trinh sát chỉ được độc
một lá. Lại là gửi cho Can. Thư của bà mẹ. "... cả xóm Gò hôm nay
chung vui cùng mẹ may mắn bắt được thư con, mẹ liền biên ngay thư này
mong các bác quân bưu thương tình chuyển chóng tới con để con hay rằng
lẽ ra thì mẹ chết rồi mà nay còn sống là nhờ nhận được thư con đấy con
ơi - Bà mẹ viết - Con ơi, từ ngày phải giấy của đơn vị anh con báo tử về
rồi xã làm truy điệu rồi giao bằng Tổ quốc, con ơi, mẹ ngày đêm sản
xuất tăng gia cày cấy, ngày đêm cẩu trời khấn phật, cầu ông bà tổ tiên,
cầu thầy, anh con phù hộ độ trì cho con ở nơi linh lửa được cùng anh em
tất cả bình an...".
Kiên đọc đi đọc lại. Tờ thư run lật
phật, nhòa trong mắt anh. Can chết rồi còn đâu. Bữa đó vệ binh chỉ lượm
được cái xác. Cái xác lở loét, ốm o như xác nhái bị dòng lũ xô tấp lên
một bãi lau lầy lụa. Mặt của xác chết quạ rỉa, miệng nhét đầy bùn và lá
mục, nom cực kỳ tởm. Và thối quá thể là thối, cái thằng bê quay (đảo
ngũ) chết tiệt ấy, người lính vệ binh đã tự tay chôn Can kể lại với đám
trinh sát. "Hai cái hố mắt của nó trông như hai cái tăng xê ( hố cá
nhân, hố tránh bom), mà chưa chó gì đã mọc rêu xanh lè, rõ ghê?", nói
rồi hắn nhổ toẹt.
Từ đó chẳng ai nhắc tới Can nữa, chẳng ai tìm
hiểu vì sao Can chết: bị giết hay bị kiệt sức giữa luồng nước lũ, hay là
tự sát, mà cũng không ai thèm kết tội Can làm gì nữa. Tên tuổi, hình
hài một con người đã từng vào sinh ra tử không kém cạnh ai và vốn hoàn
toàn không phải đồ tồi đã đột ngột chìm nghỉm đi. Chỉ riêng Kiên là
không sao gột hẳn được Can ra khỏi tâm trí. Đêm đêm anh nghe thấy Can
trở về thì thào ngay bên võng, lặp đi lặp lại cuộc chuyện trò nhạt nhẽo ở
bờ suối chiều hôm nào. Tiếng thì thào chuyển dần thành tiếng nức nở,
thành tiếng nấc nghẹn y như là tiếng nước sặc lên trong họng kẻ sắp sửa
chết chìm.
"Hồn bơi ra khỏi xác biến thành con ma cà rồng..."
Kiên
rùng mình nhớ lại lời Can. Và cứ mỗi lần quỳ xuống trước bàn thờ các
liệt sĩ của trung đội giấu mọi người, Kiên thầm thào khấn gọi linh hồn
Can, người anh em khốn khổ, bạc phước ra đi trong nhục nhã chẳng được ai
đoái hoài, hiểu đỡ cho chút ít nỗi niềm, kể cả anh...
Trong suốt
nhiều tháng trời a qua, cùng anh em ở đội thu nhặt hài cốt tử sĩ Kiên đã
đi qua hầu suất miền Cánh Bắc, lần lượt trở về với vô vàn những trận
đánh lớn nhỏ và các anh đã lặng lẽ tìm thấy biết bao thành viên bị quên
lãng của đại gia đình những người tử trận. Dưới lòng sâu đất ấm của đại
ngàn họ chung nhau một số phận. Không có người vinh kẻ nhục không người
hùng kẻ nhát, không có người đáng sống và kẻ đáng chết. Chỉ người tên
tuổi còn đó, người thì thời gian đã xóa mất rồi, và người thì còn chút
xương, người chỉ đọng chút bùn lỏng. Sau những nhát xẻng, đáy huyệt tối
tăm lộ ra và lan hơi thở cuối cùng của người đã khuất phủ lên, nhập vào
Kiên. Theo dần năm tháng những luồng sinh khí chết ấy đã đậm lại trong
lòng anh, hòa vào tiềm thức trở thành bóng tối của tâm hồn anh. Dằng dặc
trôi qua trong hồi ức của Kiên vô vàn những hồn ma thân thiết, lẳng
lặng âm thầm kéo lê mãi trong đời anh nỗi đau buồn chiến tranh.
Đêm,
thật lạ lùng, một đêm có lẽ là kỳ ảo nhất trong hằng hà bao nhiêu đêm
tối của đời anh. Gần như toàn bộ cuộc đời chiến đấu với cả một đạo quân
những người đã chết mà anh từng gặp gỡ trong chiến trận đã trở về với
anh qua những cánh cửa vòm cuốn mờ tối của giấc mơ dài không dứt. Âm
vang của ngày tháng đã qua như những chuỗi sấm nguồn xa tắp làm tâm hồn
anh từng lúc một hoặc sôi sục, hoặc nhói đau, hoặc ngưng lặng đi.
Gần
sáng, rùng mình Kiên chợt tỉnh và anh nghe thấy từ đáy giấc chiêm bao
vừa tắt một tiếng hú dài, buồn đau, ghê rợn khoan xoay qua anh, ngân
vọng lên như tiếng vọng truyền giữa hai bờ núi. Định nhỏm dậy, nhưng lập
tức kìm mình, nằm yên trên võng, Kiên nhắm mắt cố đưa tâm trí hút theo
tiếng hú ấy. . .
Chuyện xảy ra cũng ở Gọi Hồn này, bên suối này
cũng vào mùa mưa năm ngoái, mùa mưa cuối cùng của cuộc chiến tranh.
Tiếng hú cất lên từ thung lũng bên kia núi nhưng dội sang tận bên này.
Tiếng hú của loài ma núi, người ta bảo thế, nhưng Kiên thì Kiên biết ấy
là tiếng gọi của tình yêu. Hồi đó, phải, chính là ở đây, trong mưa rơi
buồn thảm, trung đội trinh sát "nông trường 3" đã sống một thuở yêu
đương say đắm lạ lùng.
Mối cuồng si bí ẩn, đầy tội lỗi và có một
không hai bắt đầu ra sao, nhen lên từ ai, đã ôm cuốn lấy những ai vào
vòng tay của nó, Kiên hầu như không biết. Chẳng may anh đã ở vào số một
vài người bị cuộc tình ấy xa lánh. Kiên nhớ: đơn vị về dựng lán ở ngã ba
suối dưới chân núi được một đêm, hai đêm, đêm thứ ba thì đã linh cảm
thấy có sự khác thường lẩn lút diễn ra trong phân đội. Thực ra không
phải là linh cảm mà là Kiên đã nghe thấy, và thoáng nhìn thấy.
Đêm
ấy như thường tình, tháng tám, mưa to, và chốc ánh chớp lại phá thinh
không tăm tối và dữ dội dựng đứng rừng lên trong khoảng khắc. Sau ba
ngày li bì sốt đến tối hôm ấy Kiên dứt cơn, mệt nhọc, bải hoải và suốt
đêm mất ngủ. Bứt rứt trong lòng, gần sáng anh mặc áo tơi, xách súng đi
kiểm tra một lượt các lán. Đất rừng lầy lội, phù thũng. Kiên co người
lại trong tấm áo tơi lá, súng đeo thõng, bước dò dẫm.
Đến gần lán
tiểu đội một, Kiên chững lại. Tiếng cười. Rõ ràng là anh vừa nghe thấy
ai đó cười, tiếng cười khanh khách. Ai ở trung đội có thể cười kiểu ấy
cơ chứ? không chừng thằng nào động hớn mà bắt chước giọng đàn bà cũng
nên, nghe ma quái quá, anh nghĩ và hấp tấp anh bước vội tới cửa lán. Hội
cờ bạc đã tan từ lâu. Bên trong tối mò. Nhưng không có tiếng ngáy. Im
lặng đáng ngờ. Không nén được Kiên sẵng giọng hỏi chõ vào:
- Ai trong ấy vừa cười đấy ?
- Gì đấy, Kiên? - Giọng Thanh tỉnh khô ngay lập tức cất lên - Ai cười đâu? Hay là trời cười?
- Rõ ràng mà lại. Đừng ỡm ờ. Con khỉ! - Kiên gắt - tao không vì sốt mà ù tai đâu Thanh nhé.
- Thì đấy, trung đội trưởng vào kiểm tra xem đứa nào cười?
Mẹ
kiếp, chẳng lẽ ở Gọi Hồn này lại có ma thật? Kiên cáu sườn bỏ đi. Tuy
nhiên tiếng cười lúc nãy nghe rất thật tiếng, lanh lảnh, trong vắt.
Tiếng cười con gái hẳn hoi. Không phải ma, không phải ai mê sảng. Thình
lình, Kiên cứng người, dừng phắt lại. Trong một giây, tim ngừng đập.
Dưới làn chớp làm quắc sáng cả đám lau bà ven suối, Kiên nhìn thấy lồ lộ
trong nháy mắt một người con gái đang đi chếch qua trước mặt anh. Cô ta
ở trần, Kiên nhớ rõ như thế, da dẻ loáng sáng lên như nước sông, mái
tóc xõa, quấn vào lưng vào đùi.
- Ai, đứng lại? - Kiên thét và
bước né sang bên, lên súng - Năm? Không có tiếng trả lời. Mưa to át
tiếng chân bước. Đúng lúc này sấm sét câm tịt và bao nhiêu làn chớp đều
tắt lịm.
- Đứng lại không tao bắn? - Kiên điên tiết - Năm?
- Cộng bống Tôi, Thịnh đây, anh Kiên?
- Cái gì? Kiên sững sờ - Sao lại Thịnh?
- Phiên tôi gác mà - Rành rành giọng Thịnh "con" - có chuyện gì?
- Mày vừa đi với đứa nào? Kiên sừng sộ.
- Không. . . Ai cơ?
- Thế vừa nãy không thấy gì à?
- Không... Mà sao thế? Anh làm sao thế ?
Kiên
chửi. Chó thật, anh nghiến răng. Như trêu ngươi. Vòm trời lại liên tiếp
bùng chớp. Chỉ có mưa chăng, chỉ có dòng suối cuồn cuộn, chỉ có cây cối
rũ rượi. Rừng lầm lì cau có. Thịnh cởi trần, vận quần đùi, co ro ướt át
đứng trước mặt Kiên.
- Khốn khổ rồi, khốn khổ rồi đây. . . ! - Kiên rên lên - Chẳng biết là cái họa gì đây?
Kiên
lê bước trở về lán, nằm vật lên võng. Linh cảm về một tai họa khôn
lường đang đến với cuộc đời trung đội nặng nề bóp nghẹt trái tim anh.
Không, anh không nhìn nhầm, nghe nhầm, nhưng đấy là ma hay là người?
Sáng
hôm sau, cả Thịnh cả Thanh chả đả động gì đến chuyện hồi đêm. Những
người khác thì càng có vẻ như không hay biết có sự bất thường nào hết.
Nhưng Kiên cảm thấy rõ ràng một sự bí ẩn đồng lõa giữa họ với nhau. Anh
không tức, chỉ buồn. Lần đầu tiên anh bị đồng đội cho ra rìa. Tuy nhiên
anh im lặng, tuyệt đối không đả động gì tới điều bí ẩn ấy của anh em.
Trong mọi cuộc họp hành kiểm điểm anh chẳng một lần nhắc nhở chuyện đó.
Thế nhưng tội lỗi vẫn tái diễn, Kiên biết. Chỉ có điều từ khi anh bị
phát hiện, những bóng ma đàn bà không lẻn tới chỗ trung dội nữa mà chính
cánh trinh sát mò đến động của họ. Về đêm... nửa đêm... lặng lẽ có
những cái bóng đen trườn khỏi võng, nhón bước ra khỏi lán, kín đáo đánh
tiếng thông đồng với người khác, rồi lẹ làng theo nhau mất hút trên con
đường mòn không dấu vết chạy men một dòng suối nhánh dẫn sâu vào lòng
núi tối tăm đắm dưới mùa mưa như thác đổ. Và đêm nào cũng thế, vào lúc
mấy cái bóng nọ nhỏm dậy khỏi võng rục rịch với nhau ở ngoài suối chuẩn
bị lên đường là Kiên lại một lần chợt tỉnh giấc. Anh nằm im. Tiếng thì
thào... tiếng chân giẫm lụp búp trên bùn... Giọng nói của người gác. . .
một ai đó trượt chân ngã . . . tiếng cười cố nén . . . Có đêm những cái
bóng ở lán bên cạnh, song có đêm là từ lán của anh, từ chiếc võng mắc
sát anh. Có đêm mưa nặng nề xối dội, có đêm vội vã từng cơn rào rào, mà
cũng chẳng đêm nào là đêm chuyện đó chẳng diễn ra. Ướt át lầy lội nhơn
khổ... Và nhiều giờ sau khi các gã trai lần về, thở hổn hển, be bét bùn
và run rẩy trong cái mát lạnh của trận mưa phùn ban mai thì Kiên cũng đã
thức dậy, nhưng vẫn thế anh nằm im lặng nghe ngóng đếm từng bước chân
rón rén, để rốt cuộc được trút một hơi thở phào mừng rằng may thay cả
bọn đã bình yên trở về. Chính vào những lúc đó Kiên nghe thấy tiếng hú
mà người ta bảo là của loài ma núi. Nghe thật buồn, thê thảm, nhưng Kiên
biết đấy là tiếng lòng, người nam người nữ gọi truyền theo vách núi để
tạm biệt nhau và để hẹn ước. Dĩ nhiên Kiên biết không phải là cả phân
đội, cả mười ba người, song anh thừa biết không phải chỉ có ba cái bóng
nhất định nào đấy trong bấy nhiêu đêm đã thường xuyên đi và về trên con
đường hiểm trở dẫn sang bên kia núi, mặc dù ở bên đó, Kiên biết, dưới
cái lũng âm u, hoang vắng nọ, trong khu trại tăng gia của huyện đội 67
đã nhiều năm bị bỏ quên trên bờ thác nước ấy chỉ có mỗi ba cô gái, chỉ
ba cô mà thôi đang sống và đang hàng đêm chờ đợi, mong ngóng bước chân
người lai vãng. Biết hết, và vì thế, lý ra là chỉ huy, anh cần ngăn chặn
hiện tượng vô kỷ luật quá quẩn này, cần phải, như người ta thường nói,
uốn nắn, chấn chỉnh, lập lại nề nếp khuôn khổ, đạo đức tác phong, cẩn
phải thẳng tay kéo đội viên của mình thoát khỏi tình trạng mê mẩn chẳng
khác nào bị chài ếm, cần phải... Song trái tim, trái tim của anh, trái
tim thực thụ của người lính chiến không đời nào cho phép anh ra tay hành
động như vậy. Không những nó năn nỉ anh mà trái tim anh nó buộc anh
phải im lặng, buộc anh phải hết lòng cảm thông. Chứ còn biết làm thế nào
khác được, thực thể trước tiếng gọi man sơ, hoang dã ấy của tuổi thanh
xuân?
Hồi đó chỉ trừ anh và Can, còn cả đội trinh sát đều ở dưới
tuổi đôi mươi, cho nên thử hỏi rằng... thực thể thử hỏi rằng... Vả
chăng, chỉ anh về đêm . . . khi ngủ. . . những giấc mơ đậm đặc cảm giác,
nóng bỏng và ngọt lịm như mật ứa ra trào lên lấp đầy cõi mộng mị. Trong
những đêm mưa ấy, từ giữa miền không gian xa xanh sâu thẳm khuất chìm
sâu sương mù ký ức, người con gái của thành phố quê hương lại hiện lên
và bước tới với anh trong bóng hình tiên nữ mờ ảo. Cả người gai lên,
xương thịt chờn rợn, run rẩy, rung động trong nỗi khát khao thèm muốn
được hưởng tới độ tột cùng cảm giác xúc tiếp êm ái, choáng ngợp, đáng
kinh hãi với cái hình hài yêu dấu, mong manh, mềm mại như cánh hồng ấy.
"Hai đứa mình có khi chết đi vẫn còn trong trắng... Vậy mà chúng mình
yêu nhau biết là dường nào...", những lời ấy của Phương văng vẳng làm
tim anh thắt đau. Mới mười bảy tuổi, thuở đó cả hai đứa còn biết chừng
nào là vụng dại. Giá như... "Nhưng hãy nghĩ nhanh đến một cái gì khác
đi, hãy nghĩ đến một cái gì khác?" - Tâm tưởng anh thổn thức kêu lên.
Lúc anh tỉnh giấc và nghe tiếng chân của các bạn mình từ bên kia núi trở
về thì ngoài vòm rừng trời đã ửng sáng. Trong lán của bọn anh, ngoài
mùi thơm của hồng ma còn thoang thoảng, là lạ một làn hương ngây ngây,
dìu dịu, không có thật và không đàn ông, không lính tráng một chút nào,
vương vấn mơ hồ, u uẩn trên tóc, trên áo, trong gió...

