Nỗi buồn chiến tranh - Chương 01
MÙA KHÔ ĐẦU TIÊN SAU CHIẾN TRANH ĐẾN với miền hậu cứ Cánh Bắc
của mặt trận B3 êm ả nhưng muộn màng. Tháng 9 và tháng 10, rồi tháng 11
nữa đã trôi qua, vậy mà trên dọc dòng Ya-crông-pôcô làn nước mùa mưa
xanh ngát vẫn tràn ắp đôi bờ. Thời tiết bấp bênh. Ngày nắng. Đêm mưa.
Mưa nhỏ thôi, nhưng mưa... Mưa... Núi non nhạt nhòa, những nẻo xa mờ
mịt. Cây rừng ướt át. Cảnh rừng lặng lẽ. Tối ngày đất rừng ngùn ngút bốc
hơi. Biển hơi màu lục, ngụt mùi lá mục.
Và, cho tới tận những
ngày đầu tháng Chạp tất thảy những ngả đường trong rừng vẫn còn đang lầy
lội khốn khổ, hư nát, bị hòa bình bỏ hoang, hầu như không thể qua lại
được, dần dần tụt chìm xuống, mất dấu tích giữa cây rừng cỏ tốt um tùm.
Hành
trình trong điều kiện thời tiết như thế, đường sá như thế cực nhọc, vất
vả không tả được. Chỉ có non năm chục cây số từ thung lũng hồ Cá Sấu ở
đông Sa Thầy ngang qua huyện 67 về ngã ba Đồi thánh giá trên bờ tây Pô
cô mà một chiếc Zil ba cầu vâm váp máy khỏe nhường ấy cật lực chạy cả
ngày không nghỉ vẫn để lỡ độ đường. Phải mãi tối mới tới cửa truông Gọi
Hồn. Xe đậu lại bên bờ một con suối rộng phủ đầy củi mục.
Người
lái ngủ trong ca bin, còn Kiên lên thùng xe mắc võng nằm một mình. Nửa
đêm mưa xuống. Một màn mờ mỏng, dịu như sương, êm lặng rơi hầu như không
thành tiếng. Tấm bạt xe cũ nát lấm tấm dột. Nước mưa rỉ xuống thong thả
rỏ giọt lên những bọc ni lông gói hài cốt tử sĩ xếp lát trên sàn xe.
Không khí ẩm sánh lại, quánh ướt, từ từ lùa những ngón tay dài ngoằng
lạnh toát vào bên trong bọc võng. Chảy rào rào buồn buồn, miên man như
là dòng thời gian trôi thành tiếng, nghe nửa tỉnh nửa mơ. Cả trong lẫn
ngoài giấc ngủ đều một đêm tối như bưng và mịt mùng hơi ẩm. Gió ướt rượi
thở dài. Tự nhiên có cảm giác là tuồng như chiếc xe bỗng dưng rời chỗ,
im lìm lăn bánh, chạy êm ru, không cần động cơ, không người cầm lái, một
mình mộng du trên con đường rừng cô quạnh. Và âm thầm lẫn trong tiếng
suối là tiếng thở dài của rừng sâu nghe vời vợi xa xôi và tuyệt mù hư ảo
như là âm vang vọng lại từ một thời nào đó, như là tiếng của làn lá
vàng rơi trên thảm cỏ từ lâu lắm rồi...
Vùng này là vùng Kiên
thông thuộc. Chính là ở đây vào cuối mùa khô năm 69, mùa khô cực kỳ cùng
khốn của toàn cõi B3, tiểu đoàn 27 độc lập, cái tiểu đoàn bất hạnh mà
anh là một trong mười người may mắn còn được sống đã bị bao vây rồi bị
tiêu diệt mất hoàn toàn phiên hiệu. Một trận đánh ghê rợn, độc ác bạo
tàn...
Mùa khô ấy, nắng to gió lớn, rừng bị ướt đẫm xăng đặc, cuồn
cuộn lửa luyện ngục. Các đại đội đã tan tác đang cố co cụm, lại bị đánh
tan tác. Tất cả bị na-pan (Bom na pan, bom lân tinh) tróc khỏi công sự,
hóa cuồng, không lính không quan gì nữa rùng rùng lao chạy trong lưới
đạn dày đặc, chết dúi ngã dụi vào biển lửa. Trên đầu trực thăng rà rạp
các ngọn cây và gần như thúc họng đại liên vào gáy từng người một mà
bắn. Máu tung xối, chảy tóe, ồng ộc, nhoe nhoét. Trên cái trảng hình
thoi ở giữa truông, cái trảng mà nghe nói đến ngày nay cỏ cây vẫn chưa
lại hồn để mọc lên nổi, thân thể giập vỡ, tanh bành, phùn phụt phì hơi
nóng.
" Thà chết không hàng. . . Anh em , thà chết . . . ? " -
tiểu đoàn trưởng gào to, như điên, mặt tái dại, hốt hoảng hoa súng ngắn
lên, và ngay trước mắt Kiên anh ta tự đọp vào đầu, phọt óc ra khỏi tai,
Kiên líu lưỡi, kêu oá oá trong họng. Bọn Mỹ xông tới, tiểu liên kẹp bên
sườn.
Đạn dày đặc tủa tới như đàn ong lửa. Kiên nấc to, buông súng
ôm lấy một bên hông và khuỵu ngã; thong thả lăn từng vòng, từng vòng
xuống lòng suối cạn, máu nóng hổi rưới đẫm bờ dốc thoải.
Những
ngày sau đó quạ bay rợp trời, và sau khi bọn Mỹ rút thì mưa mùa ập
xuống, lụt rừng. Bãi chiến trường biến thành đầm lầy, mặt nước màu nâu
thẫm nổi váng đỏ lòm. Trên mặt nước lềnh bềnh xác người sấp ngửa, xác
muông thú cháy thui, trương sình trôi lẫn với cành lá và những thân cây
to nhỏ bị mảnh pháo băm. Khi lũ tan, mọi vật trồi ra dưới nắng lầy nhầy
bọc trong lớp bùn đặc ghê tanh như thịt thối, Kiên lết dọc suối mồm và
vết thương không ngừng nhỏ máu, thứ máu của xác chết, lạnh và nhớt. Rắn
rết bò qua người anh. Thần chết sờ soạng.
Từ đó chẳng còn ai nhắc
đến tiểu đoàn 27 nữa, mặc dù vô khối hồn ma ra đời trong trận bại vong
ấy hiện vẫn lang thang khắp các xó xỉnh bụi bờ ven rừng, dọc suối chưa
chịu chầu trời. Còn cái truông núi vô danh mịt mù lam chướng này thì từ
bấy có tên là Gọi Hồn, cái tên nghe dựng cả tóc gáy. Đôi khi, có lẽ là
vào những kỳ lễ lạt nào đó của giới các âm hồn, các toán quân đã chết
của tiểu đoàn lại tụ họp trên trảng như là để điểm danh. Tiếng suối
chảy, tiếng gió núi hú lên chính là tiếng nói của những hồn hoang binh
lính mà người cõi dương ta thường nghe thấy và có thể thấu hiểu.
Kiên
nghe kể đi đêm ở vùng này có thể nghe thấy chim chóc khóc than như
người. Mà đúng là có loài chim như thế thật dù rằng chưa ai nhìn thấy
chúng vì chúng chẳng hề bay mà chỉ một mực kêu thôi. Và tìm - khắp Tây
Nguyên cũng không thể thấy ở đâu như ở đây các loại măng lại nhuốm một
màu đỏ dễ sợ đến vậy, đỏ au như những tảng thịt ròng ròng máu. Còn đom
đóm thì to kinh dị. Đã có người nom thấy những quầng sáng đom đóm lớn
tày cái mũ cối, có khi hơn.
Ở đây khi trời tối cây cối hòa giọng
với gió rên những bản nhạc ma. Và không một ai có thể quen được vì chẳng
góc rừng nào giống góc rừng nào, chẳng tối nào như tối nào. Có lẽ là
núi là rừng chứ không phải con người đã làm nảy sinh ra ở vùng này những
huyền thoại rùng rợn, những truyền thuyết man rợ, nguyên thủy nhất về
cuộc chiến tranh vừa qua. Nói chung những kẻ yếu bóng vía rất khó sống ở
đây. Sống ở đây có thể điên lên hoặc chết rũ vì khiếp sợ. Chính vì thế
nên vào mùa mưa năm 74 khi trung đoàn về náu quân ở vùng này, đám trinh
sát bọn Kiên đã phải lo lập bàn thờ và bí mật tổ chức cầu khấn, cúng giỗ
cho các hồn tiểu đoàn 27 còn tồn đọng trong truông. Lửa nhang ngày đêm
lập lòe. Mà cũng còn phải kể tới hồn ma của các dân thường nữa. ở gần
ngay chỗ chiếc Zil này đêm nay đang đỗ trước có dấu tích của con đường
mòn dẫn vào làng Hủi. Hồi trung đoàn 3 về đây làng đã hoang tàn, tuyệt
không một bóng người còn sống. Bệnh tật khủng khiếp và đói khổ triền
miên đã tận diệt cuộc sống nơi đây. Tuy nhiên những linh hồn lở loét
không manh áo che mình thì thấy bảo là vẫn đầy rẫy và vẫn không ngừng
làm bốc lên mùi hôi thối trong tưởng tượng của mọi người. Trung đoàn đã
cho người rưới xăng rồi phóng hỏa đốt sạch làng đó để diệt trùng tẩy uế,
song lính ta vẫn rất hãi, không dám bén mảng tới gần vì sợ ma và sợ
nhiễm hủi. Một hôm, Thịnh "con'! ở tiểu đoàn một đã liều mò tới đấy và
giữa tro tàn của ngôi làng cậu ta đã bắn chết một con vượn rất to, phải
bốn người kéo ra mới khiêng nổi con thú về chỗ lán của đội trinh sát.
Nhưng, lạy Chúa tôi, đến khi ngả nó ra, cạo sạch được bộ lông thì ôi
giời đất ôi, con vật hiện nguyên hình một mụ đàn bà béo xệ, da sùi lở
nửa xám nửa trắng hếu, cặp mắt trợn ngược. Cả lũ bọn Kiên thất kinh, rú
lên, ù té quẳng tiệt nồi niêu dao thớt. ở trung đoàn chẳng ai người ta
tin chuyện đó, nhưng chuyện đó là có thật. Bọn Kiên đã chôn cất, đắp
điếm tử tế mồ mả cho "người ấy", nhưng sự báo oán vẫn chẳng tránh được.
Một thời gian sau, Thịnh "con" bị giết. Và lần lượt, kế tiếp nhau hầu
hết trung đội đã bỏ mình. Còn sót lại có mình Kiên, như vậy đấy...
Thời ấy... thực ra thì mới chỉ năm ngoái đó thôi.
Mùa
mưa, trước ngày hành quân xuống cánh Nam Tiến đánh Buôn Ma Thuột, trung
đoàn 3 của Kiên hiện đã có gần cả hai tháng trời thả neo ở đây. So với
hồi đó cảnh vật bây giờ chưa chắc có gì thay đổi, số cây trong rừng chưa
thể kịp ít đi hay là nhiều hơn lên, và các lối mòn mà bọn anh từng hàng
ngày qua lại vẫn chưa hoàn toàn bị cỏ dại của đáy rừng nuốt chửng. Hồi
đó trinh sát chọn chỗ dựng lán ở ngay trên bờ con suối này nhưng dịch
sâu vào trong rừng kia chừng mười phút nữa, nơi triền suối đụng phải
chân núi, tẽ đôi, chảy dốc xuống theo hai lòng khe. Bây giờ chưa chừng
tại cái ngã ba suối ấy cái "am cỏ" của bọn anh vẫn còn, lúp xúp mái
gianh bên bờ nước giữa những vạt lau ướt lướt thướt. Hồi đó từ các cửa
xanh, trung đoàn thu quân về hậu cứ để chỉnh huấn. Liên miên chính trị.
Chính trị sáng, chính trị chiều, tối lại cũng chính trị... Ta thắng địch
thua, miền Bắc được mùa, thế giới chia làm ba phe rõ rệt. . . Tuy nhiên
cánh trinh sát con cưng bao giờ cũng được nể vì, ít bị ốp học nên cũng
có khối thì giờ để chơi bời, tranh thủ xả hơi trước khi trở lại vùng
chiến. Đi săn, đặt bẫy, tổ chức dốc cá và tối tối thì chơi bài. Cả đời
Kiên chưa khi nào máu mê cờ bạc như là hồi đó ở đây Bài bạc lu bù.
Thường là cứ chập tối cơm xong bắt đầu ngả chiếu bạc. Trong bầu không
khí ẩm rượt, nồng ngạt mùi mồ hôi và khét lẹt khói xông muỗi, các con
bạc châu quanh cỗ bài, tơi bời đỏ đen.
Tiền đặt cửa thường là
những tàu thuốc "đồng bào" hôi mù, cay cú hơn thì thuốc lào, đá lửa hoặc
sợi hồng ma một thứ tiền ma túy - hoặc là lương khô và ảnh nữa, ảnh con
gái các loại, bất kể gái tây hay gái ta, xấu hay đẹp, người yêu hay
người dưng, dùng tuốt, dốc hết ra mà sát phạt. Chẳng còn gì ăn thua nữa
thì quệt muội đèn, chơi trò bôi râu. Người đánh kẻ chầu rìa, vui vẻ, om
sòm nhiều hôm thâu đêm. Tuồng như là một thời kỳ sung sướng, bình yên,
nhàn cư, vô tư lự lắm vậy. Mà quả là cũng sung sướng thật, những ngày ấy
trong gần suốt mùa mưa chẳng phải đánh đấm gì, cả trung đội mười ba
đứa, vẫn còn đủ mặt. Kể cả Thịnh !'con!' cũng phải sống ở đây đến hơn
một tháng rồi mới bị giết. Can chưa đào ngũ. Rồi Vĩnh, Thịnh "nhớn", và
Cừ, Oanh rồi Tạc "voi" nữa còn sống cả. Vậy mà bây giờ ngoài một cỗ bài
sờn nát, quăn queo, lem nhem dấu tay của những người đã chết, Kiên chẳng
còn có thêm một kỷ vật nào nữa về trung đội mình.
- Chín - Mười - Zi này ?
- Qui - Ka - át này!
Thỉnh
thoảng anh vẫn mơ thấy chúng, những con bài ấy. Xướng lên và một mình
đỏ đen với mình. "Con cơ này, con rô này, và đây con chuồn...". Bản hành
khúc trung đoàn ca được lính tráng hát chệch lời đi - "đằng nào rồi
cũng phăng teo, mạnh tay mạnh tay ta quật, vui chơi xả láng cóc cần...".
CỖ bài được trang lần cuối, Kiên nhớ, khi trung đội chỉ còn lại bốn
mống: Từ, Thanh, Vân và Kiên.
Ấy là buổi tinh mơ mờ đất, nửa giờ
trước khi pháo cấp tập mở màn chiến dịch công phá Sài Gòn. Bên kia cánh
đồng hoang ngập đầy cỏ Mỹ là tuyến phòng thủ Củ Chi. Bọn ngụy đang khởi
động, cắc đoành nã cối và quờ quạng khua đại liên. Dưới các ngách hào và
hố cá nhân bộ binh vẫn đang cố tận hưởng những hớp cuối cùng của giấc
ngủ. Nhưng bốn tay trinh sát trung đoàn sắp sửa dẫn đầu phân đội mũi
nhọn xung phong thì lại đang mải miết "tiến lên".
Chơi tà tà nhé, - Kiên đề nghị - nếu dở ván thì trời để cho cả bốn thằng sống qua trận này, để còn chơi tiếp.
-
Khôn lỏi thế, - Thành nhăn răng cười - Trời có phải thằng ngốc đâu mà
bịp. Cố tình đánh dở ván lão sẽ cho cả bốn thằng "chui xuống dưới đó" mà
vặt lông nhau.
- Xuống cả làm gì bốn thằng, - Từ bảo - một mình
tao ôm cỗ bài xuống là được. Sẽ đánh xì, hoặc sẽ tổ chức bói bài tây cho
bọn quỉ sứ gác vạc dầu. Vui chán!
Sương mù như đột nhiên loãng
tuệch ra. Pháo hiệu vụt lên không. Bộ binh rầm rập thức giấc. Xe tăng
tiến ra tuyến xuất kích, tháp pháo lắc lư, xích nghiến nảy đất rung
chuyển làn gió mai.
- Thôi, dẹp? - Kiên quăng bài xuống, và không
nén nổi anh thốt lên dằn dỗi - đã bảo cố chơi chầm chậm cầu may, mà
thằng quái nào cũng háu ăn thua?
- Ơ mà này? - Vân còm vỗ đùi la,
vẻ hứng chí - Thế đếch nào mà mãi tới giờ tớ mới thấy khoái cái trò xì
át cạc tê này chứ lị. Phải tập chơi cho ra trò mới được. Tao chết chúng
mày nhớ liệng xuống hố cho nhau một cỗ bài nhé?
- Có mỗi một bộ mà
nó đòi cả, gớm thật là lỏi quá đấy? - Thanh kêu lên giọng chìm đi trong
tiếng đề pa của hàng chục họng tầm xa vừa đồng loạt gầm.
Sau đấy
chừng nửa giờ Vân chết cháy cùng với chiếc T54 đầu đàn. Thân xác ra tro
nên chẳng cần huyệt mộ. Còn Thanh thì chết ở Cầu Bông, và cũng bị thiêu
trong quan tài thép cùng với tổ lái. Chỉ có Từ là đã cùng Kiên đánh đến
cửa số 5 sân bay Tân Sơn Nhất rồi mới hy sinh.
Đêm 29 rạng ngày 30, khi hai thằng gặp nhau lần chót trên nóc nhà phở Tàu bay, Từ móc cỗ bài dưới đáy bồng ra trao cho Kiên.
-
Thế nào tớ cũng ngỏm trận này. Vậy cậu giữ lấy. Còn sống trở về thì
dùng nó mà đánh bạc với đời... Các quân hai, quân ba, quân bốn này chứa
hồn thiêng của cả trung đội đấy, bọn tớ sẽ phù hộ cho cậu trăm trận trăm
thắng. . .
Kiên lặng đi nhớ lại. Đêm nay hồn ai gọi hồn ai. Tiếng
hú cất lên từ đâu đó trong rừng thẳm, âm u truyền dọc theo những gờ núi
lạnh lẽo của truông Gọi Hồn. Cô đơn. Lạc lõng. Núi vẫn thế, rừng vẫn
thế, suối sông cũng vẫn thế thôi, bởi có là bao một năm trời. Chỉ có
điều hồi đó đang chiến tranh còn bây giờ trái lại, đã hòa bình rồi.
Cùng là một trang cuộc đời nhưng mà là hai thế giới, hai thời đại...
Hồi
đó, vào độ cuối tháng Tám, ven các cánh rừng dọc theo triền suối này
hoa hồng ma nở rộ trong mưa, đâm bông trắng xóa, thở hương thơm ngát.
Nhất là về đêm hương hoa như thể được cô đậm, ngọt, ngào ngạt, thẩm thấu
vào giấc ngủ làm thành bao nhiêu là giấc ngủ mơ kỳ lạ gây những ám ảnh
khoái lạc mê mẩn. Buổi sáng thức dậy hương hoa dẫu nhạt nhiều rồi song
ai nấy vẫn cảm thấy âm ỉ trong lòng một nỗi đắm đuối bí ẩn, vừa thích
vừa rợn. Nhưng cũng phải khá lâu sau mới khám phá được rằng nguyên nhân
của những ảo giác đêm khuya ở vùng này là hương thơm của hồng ma, cái
thứ hoa quỉ hoa ma này Kiên đã gặp ở các cánh rừng trên sườn tây Ngọc
Linh và cả xa xăm trong miền Tà Rệt bên Miên nữa, nhưng không ở đâu mọc
nhiều như ở đây. Bông hồng ma nom từa tựa tầm xuân nhưng nhỏ hơn, nở dày
hơn, cây hoa thường mọc tràn sát các mép suối. Loài cá mõm trâu ở vùng
này vì thường xuyên rỉa rê hồng ma nên thịt rất ngon nhưng dễ gây say
thậm chí có thể làm chết người. Chúng gây độc còn có thể hơn cả loài cá
ráu chuyên ăn mã tiền, người ta còn bảo hồng ma thường đặc biệt mọc dày ở
những vạt đất từng có nhiều người thiệt mạng, tử khí tụ lại nhiều. Có
nghĩa hồng ma là loại hoa ưa máu, tuy nhiên thật khó tin vì nó thơm như
thế cơ mà. Về sau chính đám trinh sát bọn Kiên ngồi rỗi rồi bày trò phơi
sấy, thái nhỏ hoa, lá và rễ hồng ma trộn với sợi thuốc rê. Thật là đã
hết sức đã. Chỉ sau vài hơi rất mạnh là đã lặng lẽ xiêu lịm đi như tà
khói mong manh trước gió. Nhờ khói hồng ma người ta có thể tự chế ra các
ảo giác tùy sở thích, có thể định hướng được mộng mị và hòa trộn các
giấc mơ vào nhau như thể pha cốc- tai. Có thể nhờ khói hồng ma mà quên
mọi nông nỗi đời lính, quên đói khổ, chết chóc, quên béng ngày mai. Bản
thân Kiên cứ mỗi bận thưởng thức thứ bả độc này thì lại thêm được một
lần nhập thân tràn ngập vào thế giới của những giấc mơ bí ẩn và tráng lệ
mà lúc bình thường tâm hồn chẳng thể với tới. Trong những cơn mưa đổ
đốn ấy, không gian tưởng tượng thật trong lành, bầu trời cao vọi, mây
nắng tuyệt vời gần như là tầng trời của những giấc chiêm bao thời thơ
ấu. Và dưới vòm trời sán lạn ấy, Kiên lại được thấy Hà Nội của anh, Hồ
Tây, chiều hạ, hàng phượng vĩ ven hồ, tiếng ve sầu ran lên khi hoàng hôn
xuống anh cũng nghe thấy, và cảm thấy gió hồ lộng thổi, cảm thấy sóng
vỗ mạn thuyền. Anh mơ thấy Phương đang cùng ở trên thuyền thoi với anh,
tóc vờn trước gió, trẻ trung xinh đẹp, không một nét sầu thương. Đồng
đội của anh thì cũng mỗi người mỗi kiểu say sưa mơ màng trong khói hồng
ma. Mỗi người mỗi lối đi lạc khỏi thực cảnh chung. Như là Cừ thì rượu
sắn hay hồng ma đều chỉ khuấy lên độc một cảnh tượng ủy mị, khó tin của
ngày trở về với những sum họp đoàn tụ dễ chịu đến nỗi nghe Cừ tả lại ai
cũng phải rớt nước mắt với hắn. Còn Vĩnh thì chỉ rặt mơ thấy đàn bà, và
hắn thường xuyên khoái trá tả thực cho anh em nghe về những cuộc làm
tình tưởng tượng vô cùng tham lam, phức tạp rất ngóc ngách, đầy kỳ thú
và sống sượng với chị em huyền thoại của hắn. Còn Tạo "voi" lại đặc biệt
hay mơ sự ăn uống. Không chỉ mơ dược ăn no, Tạo còn vẽ ra trong đầu
những mâm cỗ ăm ắp các món ăn béo bở do tâm thần mộng mị của hắn bịa tạc
nên. Trạng thái mụ mẫm do khói hồng ma đã từ lán trinh sát lây lan khắp
trung đoàn. Đến nỗi khi có lệnh của chính ủy nghiêm cấm sử dụng hồng ma
thì khắp Gọi Hồn loài hoa này đã bị lính ta săn lùng, đào xới, nhổ hái
tới tiệt giống. Cùng với thời kỳ bài bạc và hút xách ấy là thời kỳ mà
trung đoàn đầy rẫy những lời đồn đại, những sấm truyền và những điều
được tiên tri. Có thể là bởi những cơn mê lú hồng ma chăng mà lính ta đã
nhìn thấy tận mắt vô khối sự hão huyền. Người ta đã trông thấy nhiều
quái vật lông lá có cả cánh lẫn vú với cái đuôi kỳ nhông kéo lết và họ
ngửi thấy mùi tanh máu từ chúng, nghe thấy chúng gào rú và ca hát trong
các hang động tối om ở chân đèo Thăng Thiên bên kia truông Gọi Hồn.
Nhiều người đã chính mắt nom thấy những toán lính da đen không đầu chơi
trò rước đèn ở ven rừng. Song đặc biệt rùng rợn là những tiếng rú man
dại thường cất lên vào những buổi tinh mơ mờ mịt mưa giăng làm tái sạm
mặt mày những ai chẳng may mà nghe phải. Người ta ngờ rằng ấy là tiếng
hú gọi đàn của bầy vượn người thái cổ cuối cùng trên hành tinh
mà
sự tồn tại của các tổ tiên này ở Tây Nguyên đã từng được đồn đại từ
nhiều năm trước. Và tất nhiên tất cả những sự tai nghe mắt thấy đó đều
được quy thành điềm trời cảnh báo một thời tai họa, thảm khốc và đẫm
máu, có thể đẫm máu hơn cả hồi Mậu Thân, đang kề tới với mỗi nhân mạng
trên chiến trường này. Những tay sính chuyện hoang đường và những tay am
tường tử vi lén lút mách bảo số phận cho bạn bè. Bấy giờ ở khắp trung
đoàn, trong lán của các tiểu đội đều có bàn thờ cúng tế vong linh đồng
đội. Trong khói hương bài cay nồng, lính tráng rập đầu khấn khứa ". . .
Sống khổ chết đau, tử sinh đành nhẽ chung phận lính... xin hồn thiêng
phù hộ anh em vượt vòng binh lửa đánh trận rửa thù ...".
Trong
trời thì cứ mưa, ngày này qua ngày khác. Cuộc chiến có vẻ như bị vùi lấp
trong biển mênh mông mù mịt mùa mưa, thế nhưng nếu cứ để tâm lắng nghe
mãi tiếng mưa rơi trên mái rừng và ngước nhìn mãi bầu trời thâm xám,
thấp và tối như vòm hang thì người ta chỉ có thể nghĩ tới chỉ duy nhất
nó mà thôi: chiến tranh, chiến tranh. Bốn bề mìn mịt chỉ một màu mưa
trĩu lòng, một màu núi màu rừng ảm đạm và đói khổ. Khắp Tây Nguyên, từ
miền non cao Cánh Bắc tới Cánh Trung, Cánh Nam thảo nguyên bao la vô
định nơi thì im lìm chết lặng nơi thì rền vang tiếng súng. Cuộc đời của
bộ binh B3 thời hiệp định vẫn đằng đẵng chuỗi ngày cùng cực. Sau những
tháng ròng liên miên rút lui là những đợt đại phản công dữ dội, rồi lại
phải khiêng nhau mở đường máu chạy. Rồi lại phản công. . . Hết trận
thắng này đến trận thắng khác nhưng đường chiến tranh vẫn hun hút mịt
mù, tuyệt vọng vô phương.
Trong mưa đại bác vang rền nặng nề thúc
dội ra ngoài trăm dặm điềm báo trước một mùa khô hung gở đang áp tới bên
trời. Con Rốc. Măng Đen. Rồi Măng Bút. Vào tháng Chín ấy quân ta húc
mạnh ở vành đai phòng thủ thị xã Công Tum. Chiến sự lớn lao làm chuyển
rung như muốn lay bật từng thước vuông miền Cánh Bắc. Tại trung đoàn 3
lúc bấy giờ vẫn đang náu ở Gọi Hồn này, ai nấy nơm nớp một lệnh hành
quân ứng chiến, cấp tập quăng mình vào cõi một sống một chết. "Chân trời
chết chóc mở ra mênh mang, vô tận những nấm mồ bộ đội mọc lên nhấp nhô
tựa sóng cồn..." bên bếp lửa đàn ghi ta bập bùng, quân lính thời 74 hát,
lời ca khốc liệt làm ớn lạnh những đêm trường, "ôi chiến trận không bến
không bờ... ngày mai hay hôm nay, hôm nay hay ngày mai, nói đi số mệnh
ơi, bao giờ tôi sẽ...".
Cuối buổi chiều hôm Can bỏ trốn, một buổi
chiều mùa thu mưa dầm chán ngấy, Kiên đang ở bên suối ngồi câu. Mưa
chiều hôm ấy không to mà đều đều, âm âm, buồn thảm. Dòng lũ căng nhức
sôi réo lên, ầm ầm lao chảy như chực cuốn văng đi cả đôi bờ. Nhưng ngay
tại chỗ Kiên ngồi buông câu nước ngoạm sâu vào vách đất làm trơ rễ những
cây roi suối và tạo thành vũng lặng. Kiên thu mình trong tấm tơi lá, bó
gối nhìn làn nước cuồn cuộn, không muốn gì và không nghĩ ngợi gì cả.
Dạo
này hồng ma tiệt nọc rồi, tâm hồn chẳng còn víu vào đâu được nữa, cứ
như từ từ trôi lạc đi và hàng ngày Kiên có thể ngồi im lìm bên suối hàng
giờ, ảm đạm buông mình theo dòng ưu tư buồn ngủ. Mùa thu não nề, lê
thê, mùa mưa ê ẩm. Khẩu phần lương thực đang sụt xuống nhanh như thể
nước trong cái bình bị đập vỡ đáy. Khổ sở vì đói, vì sốt rét triền miên,
thối hết cả máu, vì áo quần bục nát tả tơi và vì những lở loét cùng
người như phong hủi, cả trung đội chẳng còn ai trông ra hồn thằng trinh
sát nữa. Mặt mày ai nấy như lên rêu. Ủ dột. Yếm thế. Đời sống mục ra.
Đôi khi để gượng lên, Kiên ép mình vào một suy nghĩ nào đó. Anh cố khơi
dòng ký ức, cố nhớ, cố hồi tưởng để tâm trí mình lên. Nhưng uổng công.
Toàn bộ cuộc đời, từ đầu, từ thủa thiếu thời đến giờ cơ hồ đã tách khỏi
anh, trôi dạt, xa lắc xa lơ trong miền vô cảm.
Có lẽ chưa bao giờ
cái biệt hiệu Thần Sầu phải mang từ hồi mới nhập ngũ lại chí lý với hình
ảnh con người Kiên như vào những ngày mưa sầu thảm sống ở Gọi Hồn này.
Lãnh đạm và ơ hờ với mọi người, với mọi sự xung quanh, anh như đang âm
thầm vĩnh biệt chính mình.
Anh đón đợi cái chết, nhưng ngay cả nó,
cái chết cũng tầm thường và vô vị. Kiên thản nhiên nhìn nhận nó với đôi
chút ưu sầu, và đôi khi với cả niềm mỉa mai, kỳ cục như thế đấy. Tuần
trước, khi đụng độ với bọn thám báo ở bên kia núi, Kiên đã thực sự vờn
mặt tử thần. Trong khi tất cả ta và địch đang nhanh chóng tản khai, nhào
núp vào sau các thân cây và bắn loạn xạ thì Kiên cứ lừng lững tiến
thẳng lên. Khẩu AK của tên địch núp sau gốc cây trước mặt dồn dập nã.
Kiên chẳng buồn khom người xuống, thong thả đi tới, vẻ khinh thị đầy uể
oải. Tên ngụy hấp tấp bắn. Hắn cuống. Đạn nổ inh tai. Song cả ba chục
viên đạn quạt căng rát kỳ thay không một viên gãi vào Kiên. Anh không
bắn trả, chỉ còn cách con mồi vài bước nữa, vẫn không bắn. Tuồng như anh
muốn ban cho tên ngụy cơ hội để sống còn: kịp thay băng, ngắm kỹ mà bắn
gục anh. Nhưng chính sự chán chường táo tợn của Kiên đã làm xiêu lạc
hồn phách hắn. Run bần bật, hắn đánh rớt khẩu tiểu liên.