Gia đình Penderwick ở phố Gardam - Chương 13 - Nyet!

CHƯƠNG MƯỜI BA

Nyet!

Rosalind tìm
được chỗ yêu thích nhất của mình trong Rừng Quigley cách đây đã lâu lắm rồi.
Lúc ấy em đang đi dạo trong rừng với mẹ, chỉ hai mẹ con với nhau. Skye và Jane
thì đang - Rosalind không nhớ nổi khi ấy hai đứa đang ở đâu nữa. Em chỉ nhớ
thật tuyệt vời biết bao khi được có mẹ cho riêng mình. Hai mẹ con đã đi dọc
theo dòng suối, vừa đi vừa vui vẻ trò chuyện, cho đến khi gặp một bức tường đá
thấp. Khi ấy đang là mùa thu, cũng như bây giờ, và mẹ em đã gạt lá rụng trên
bức tường đá để hai mẹ con ngồi xuống ngắm dòng suối róc rách chảy. Mùa xuân
sang năm hai mẹ con mình sẽ làm một cuộc picnic ở đây, Rosy nhé, mẹ em hứa.
Nhưng đến mùa xuân sang năm thì…

Rosalind ghìm
mình lại. Em không đến nơi yêu thích của mình trong Rừng Quigley để than thân
trách phận. Gần đây em đã làm thế quá nhiều rồi. Không, em đứa Batty và Ben đến
đây chỉ để được ra khỏi nhà một lúc, bởi vì Jane và Skye đang ở nhà tập vở kịch
Hai chị em và sự hi sinh - vừa tập
vừa cãi cọ - như chúng đã làm suốt cả tuần. Ngày mai thật nhẹ nhõm khi Skye đi
Boston, vì sẽ không có ai để nhắc đến người Aztec gì hết, suốt hai ngày liền.

“Máu! Máu trong
trắng! Nói thử đi, Ben”.

“Batty, đừng dạy
em bé câu ấy!”. Rosalind bước lạo xạo trên lớp lá khô đến chỗ Batty và Ben đang
cố nhét Cún vào chiếc xe đẩy màu đỏ.

“Nhưng bé phải
học từ mới”.

“Từ ấy thì không
được”. Rosalind bế Ben lên và hôn hai má bụ bẫm của bé. “Nói ‘chó’ đi, Ben. Nói
‘Cún’ đi. Nói ‘Batty’ đi. Nhưng đừng có nói ‘máu’…”.

Ben chẳng nói gì
cả.

“Thế còn ‘Cầu
Vồng’ thì sao? Nói ‘Cầu Vồng’ đi, Ben”, Batty thử.

“Từ ấy cũng
không được”. Rosalind lắc đầu với Ben để ngăn mọi ý nghĩ về người Aztec lại. Bé
vui vẻ vỗ vỗ lên má em, rồi chỉ xuống đất.

“Bé muốn xuống
đấy”, Batty nói.

Vậy là Rosalind
đặt Ben xuống, quay lại chỗ bức tường đá và mở một quyển thơ Shakespeare ra. Em
phải học thuộc lòng một bài thơ để đọc trong lớp tiếng Anh, và em đã xung phong
nhận học thơ Shakespeare mà không nhận ra phần lớn các bài thơ của thi hào này
đều viết về tình yêu. Ví dụ như “Xin hãy nói người đã bỏ rơi ta vì một điều lầm
lỗi”, hay là “Ta không sầu não vì ngươi có được nàng”. Vì Rosalind không muốn
nói đến chuyện yêu đương trước mặt cả lớp, em phải tìm một bài thơ nào khó hiểu
đến nỗi không ai nhận ra nó nói về tình yêu. Rosalind lật lật các trang sách.
Bài này có vẻ được đây: “Sao người lại hứa với ta một ngày tươi đẹp, Và bắt ta
ra đi không mảnh áo choàng vai…”.

Em bị Cún lôi kéo
ra khỏi Shakespeare. Nó vừa làm đổ chiếc xe đẩy, và giờ đang thu mình trong tư
thế sẵn sàng chiến đấu, mũi hếch về phía sâu trong Rừng Quigley, theo hướng
ngược lại với phố Gardam. Và nó đang gầm gừ.

“Có chuyện gì
thế, Batty?”, em hỏi, vì cả Batty lẫn Ben cũng đang nằm bẹp xuống đất bên cạnh
Cún, mũi chĩa về cùng một hướng.

“Bọn em nghe
thấy tiếng người đang đến. Có lẽ là Người-Bọ đấy”.

Rosalind chẳng
nghe thấy gì cả. “Sao em và Ben không lo lắng về kẻ nào khác nhỉ? Người ngoài
hành tinh chẳng hạn”.

“Vì trên phố
Gardam không có người ngoài hành tinh nào cả”, Batty kiên nhẫn giải thích.

“Và cũng không
có Người-Bọ nào…”. Rosalind ngưng lại, vì giờ thì quả là em có nghe thấy tiếng
gì đó thật. Tiếng rầm rầm, giống như rất nhiều bàn chân đang chạy. Nếu đó đúng là
Người-Bọ đang tiến đến từ trong lòng Rừng Quigley thì hắn bét ra cũng phải là
một con rết trăm chân. Trừ phi hắn có thêm nhiều gã Người-Bọ khác đi theo mình.

Giờ thì em có
thể nghe thấy tiếng hát hò hòa lẫn tiếng bước chân nện thình thịch. Em căng tai
nghe ngóng. “Tê” gì gì đấy. “Tê hát” gì gì đấy thì phải.

Cún đã chuyển từ
gầm gừ sang sủa váng lên, còn Batty thì kéo Ben tránh xa chiếc xe đẩy rồi giấu
em bé - và cả mình nữa - sau bức tường đá. Nhưng Rosalind không định trốn đi
đâu hết. Em đứng thẳng, bên cạnh Cún, tay chống hông, sẵn sàng đối mặt với bất
kì kẻ nào sắp chạy rầm rầm qua nơi yêu thích của em. Chúng đang tiến đến gần
hơn, tiếng hô của chúng nghe rõ hơn, và Rosalind nhận ra đó không phải từ ngữ
gì hết - chỉ là các chữ cái thôi.

“T-H-C”, em nói.
“Trung học Cameron”.

Bây giờ thì một
hàng dài các cậu con trai cao lớn mặc đồng phục bóng bầu dục đã hiện ra trước
mắt em, họ chạy xuyên qua rừng, thình
thịch
, thình thịch. Rosalind kéo
Cún bước lùi lại, tránh xa lối mòn, vì em không cần và cũng không hề muốn phải
đối mặt với ba mươi cậu học sinh trung học đang tập chạy. Thật ra, em ước gì
mình đang trốn sau bức tường đá kia với Batty và Ben, phòng khi một trong những
gã khổng lồ đội mũ bảo hiểm nọ là Nick Geiger và anh chàng lại nổi hứng muốn
làm em bẽ mặt.

“ROSY!”.

Em rên lên.
Không những Nick có ở đây mà anh còn là người dẫn đầu cả đội nữa, và khi anh
dừng lại trước mặt em thì những cầu thủ bóng bầu dục khác cũng dừng theo.

“Chào anh Nick”,
em nói, mặt đỏ bừng lên và bực tức vì đã đỏ mặt như vậy.

“Các cậu! Nghỉ
lấy hơi!”, Nick hét. “Và chào ROSALIND đi!”.

Từ mấy chục cổ
họng con trai phát ra những tiếng chào ậm ừ. Rosalind mong sao một cái cây đổ
rầm xuống đầu Nick.

“Anh đang làm
trò gì thế?”, em rít giọng hỏi.

“Tập luyện trên
địa hình gồ ghề. Anh đã thử nghiệm lí thuyết của anh về bài tập này với Tommy,
và huấn luyện viên của đội rất hứng thú nên đã cho phép anh dùng cả đội để
nghiên cứu thêm. Miễn là không ai gãy chân cẳng gì là được, thầy ấy bảo thế”.
Nick quay người và lại hét lên với các cầu thủ khác. “Đã ai bị gãy cái gì
chưa?”.

Thêm mấy tiếng
ậm ừ nữa, làn này có vẻ bất mãn hơn.

“Nick”. Rosalind
nói, thật chậm rãi và thận trọng như với một người không hiểu tiếng Anh vậy. “Ý
em định hỏi là, tại sao anh - và đội của anh - lại dừng ở đây?”.

“Vì em đang đứng
đây, và anh chợt nhớ ra là anh cần nói chuyện riêng với em”.

“Nói chuyện
riêng!”.

“Đừng để ý đến
bọn nó”, Nick thản nhiên nói, cởi mũ ra. “Em mới học lớp bảy thôi mà. Bọn nó
gần như không biết là có em ở đây đâu”.

Anh nói đúng.
Không đồng đội nào của Nick để ý chút xíu đến em, mặc dù có mấy cậu đang chơi
với Cún. Em thư giãn hơn một chút. “Anh cần nói về chuyện gì?”.

“Về vụ Tommy với
Trilby ấy mà”.

Em biết anh định
nói gì, vì cả tuần nay Anna đã nhồi nhét chuyện đó vào đầu em rồi. Tommy và
Trilby ngồi với nhau trong canteen, trong thư viện, trong phòng tập thể dục.
Tommy và Trilby cùng ăn chung một khay thức ăn trưa, liếc mắt đưa tình, nắm tay
nắm chân. Theo ý kiến của Rosalind thì toàn những cử chỉ đáng ghê tởm cả.
“Chuyện đó chẳng liên quan gì đến em cả, anh Nick ạ”.

“Nhưng nó cần
được giúp đỡ, Rosy. Con bé Trilby ấy nói với tất cả mọi người rằng Tommy là bạn
trai nó. Tối nào nó cũng gọi điện cho Tommy, có khi còn hai ba lần nữa, và
chuyện này mới là tồi tệ hơn cả - nó đến xem tất cả các buổi tập của Tommy và
cổ vũ thằng bé”. Nick giả giọng the thé. “Tiến lên, Tommy, tiến lên! Cậu là
người cừ nhất!”.

“Em đồng ý là
chuyện ấy ghê rợn thật, nhưng mà em thì làm được gì chứ?”.

“Nói chuyện với
nó đi. Anh đã thử, nhưng nó không chịu nghe anh”.

Rosalind liếc nhìn
Nick, tự hỏi liệu có phải anh đang trêu chọc mình hay không? “Cậu ấy cũng chẳng
chịu nghe em đâu, anh Nick ạ. Hơn nữa, nếu có thể khiến ai đó ngưng chuyện hẹn
hò chỉ bằng cách nói chuyện với họ, thì em sẽ bắt đầu từ bố em”.

“Tội nghiệp bác
Pen. Bác ấy có gặp lại cái cô Marianne đó không?”.

“Chưa”. Rosalind
nhấn mạnh từ chưa. Bố em không nói gì
về kế hoạch cuối tuần này của ông, và em sợ là điều xấu nhất sẽ xảy ra.

“Hiểm họa đang
lơ lửng trên đầu hả? Anh rất tiếc”. Nick trông có vẻ thông cảm thật, và Rosalind
rất lấy làm biết ơn, nhưng mặc dù tỏ ra thông cảm với em, anh vẫn không chịu
bỏ cuộc chuyện Tommy. “Rosy, nghe này. Trilby muốn Tommy làm lễ kỉ niệm với nó.
Kỉ niệm một tuần hẹn hò. Với một
người đàn ông, một người nhà Geiger, thì đó quả là sự tụt dốc đáng buồn. Em hứa
là em sẽ cố làm cho Tommy hiểu được chút lí lẽ đi, xin em đấy”.

“Em không thể”.
Vì nếu em làm thế thì lỡ Tommy lại tưởng em quan tâm đến cậu ta thì sao? Mà tất
nhiên là em không quan tâm rồi.

“Đấy là câu trả
lời cuối cùng của em đấy à?”.

“Vâng”.

“Vậy thì được
rồi. Anh không muốn làm thế này, nhưng em khiến anh không còn lựa chọn nào
khác”, anh nói, rồi gọi cầu thủ bóng bầu dục đang chơi với Cún. “Jorge, lại
đây!”.

Một trong những
anh chàng to cao nhất nhóm lù lù tiến đến. “Gì thế?”.

“Bảo Rosalind là
em ấy phải nói chuyện với Tommy về vụ Trilby”.

“Em phải nói
chuyện với Tommy về vụ Trilby”, anh chàng Jorge cao lênh khênh nói vọng xuống.

“Cảm ơn”. Nick
cho Jorge đi, rồi gọi một gã khổng lồ khác. “Lachlan, đến lượt cậu đấy!”.

Rosalind giơ tay
đầu hàng. “Thôi được rồi, Nick, anh thắng”. Em biết anh hoàn toàn có thể bắt
từng cầu thủ diễu hành đến trước mặt em cho đến khi em bị đánh gục mới thôi.

“Hết sảy”, Nick
nói, xua Lachlan đi. “Rồi, Rosy, em phải hứa là em sẽ nói chuyện với Tommy về
Trilby”.

“Do bị ép buộc,
em xin hứa” - em nói, lừ mắt nhìn Nick - “em sẽ nói chuyện với Tommy về Trilby.
Anh hài lòng chưa?”.

“Tuyệt. Anh hi
vọng là cái Danh dự nổi tiếng của Gia đình Penderwick các em sẽ khiến em cố hết
sức”. Anh chụp lại cái mũ lên đầu. “Nói với nó câu gì bằng tiếng Nga ấy. Nó sẽ
thích cho mà xem”.

“Từ tiếng Nga
duy nhất em biết là nyet, nghĩa là
không”.

“Thế cũng được.
Chỉ cần em nói chuyện với nó thôi”. Nick quay lại đối diện với đội bóng. “Hết
giờ nghỉ rồi! Tiến lên, các cậu!”.

Đội bóng bầu dục
lại bắt đầu hô vang - “T-H-C! T-H-C!” - và rầm rập chạy xuôi lối mòn. Khi người
cuối cùng đã khuất và tiếng ồn của cả đội đã chìm phía đằng xa, Rosalind và Cún
nhòm qua bức tường đá tìm Batty và Ben. Hai đứa đang sung sướng nằm cuộn tròn
bên nhau trên một đống lá khô.

“Chỉ là anh Nick
và các bạn anh ấy thôi”, Rosalind bảo chúng. “Không có gì phải sợ cả”.

“Bọn em có sợ
đâu, phải không Ben?”.

Ben ngáp và đập
hai nắm tay vào nhau.

“Thế có nghĩa là
bé đồng ý với em đấy”.

“Chị nghĩ thế có
nghĩa là bé đang đói thì đúng hơn”. Rosalind bế Ben lên và ghì chặt bé trong
tay mình. Ôm bé trong tay khiến em thấy như được an ủi, thật dễ chịu biết bao.
“Mình đưa bé về nhà thôi”.

Batty trèo vào
trong xe đẩy, và cái nhóm nhỏ men theo lối mòn quay về. Lối đi giờ đã bị giẫm
đạp tan tác hơn lúc chúng đi vào rừng nhiều, vì đội bóng bầu dục không được nhẹ
chân cho lắm. Lớp lá khô nát như tương, những chiếc lá tuyệt đẹp bị giẫm phẳng
lì, và đây đó những cành cây bị gãy do bị những anh chàng hậu vệ với đôi vai
quá rộng quệt phải. Rừng Quigley nom chẳng khá hơn chút nào vì bài tập địa hình
gồ ghề, và Rosalind phải tự hỏi không biết đội bóng bầu dục có khá lên nhờ bài
tập ấy không. Các bài tập do Nick nghĩ ra thường như vậy - có thể sẽ rát hữu
ích, nhưng cũng có thể rất rồ dại nữa. Thế còn ý tưởng khác của anh ấy, cái ý
tưởng Rosalind nên nói chuyện về Trilby với Tommy thì sao? Chắc chắn là rồ dại
rồi. Tommy rất ghét bị người khác sai bảo, một kết quả tự nhiên của bao nhiêu
năm sống với anh Nick thích chỉ huy. Cuộc trò chuyện này sẽ chẳng lấy gì làm dễ
chịu cho mà xem.

Khi cả bọn về
đến nhà cô Iantha, Rosalind phủi sạch lá cùng bụi đất mà Ben đã thu thập được
trong Rừng Quigley. Đây là lần đầu tiên em một mình trông Ben, và em muốn đem
em bé về trong tình trạng sạch sẽ ổn thỏa. Cho chắc ăn hơn, em còn phủi sạch
người Batty, rồi đến Cún, rồi cả em nữa, và đến khi xong xuôi hết, em mới bấm
chuông.

Khi cô Iantha ra
mở cửa, cô đang cầm một chiếc bút đỏ, còn có thêm mấy chiếc bút nữa cài sau tai
và nhét trong túi áo.

“Chúng cháu có
cắt ngang giờ làm việc của cô không ạ?”, Rosalind hỏi. Em đã đưa hai em bé vào
rừng cho cô Iantha được nghỉ ngơi một chút, và để bù lại những buổi chiều Batty
đã ở bên nhà cô, gây ra những hỗn loạn gì thì có trời mới biết được. “Bọn cháu
quay về sớm quá ạ?”.

“Không đâu, cháu
về đúng lúc lắm. Cô bị một đồng nghiệp cũ bất mãn gọi điện làm phiền suốt, và
khi không phải cãi cọ với hắn ta thì cô lại phát điên lên vì đọc bài luận sinh
viên của cô viết. Có vẻ là mấy đứa trong số đó nghĩ rằng Kính Viễn Vọng Không
Gian Hubble (1) được dùng để tìm ống điếu hubble (2) trong vũ trụ. Vào nhà đi,
vào nhà đi”.

(1. Kĩnh viễn
vọng của NASA, nằm trong một quỹ đạo cách Trái Đất khoảng 610 km, được đặt theo
tên nhà thiên văn học Edwin Hubble (1889 - 1953).

2. Loại tẩu có
ống dài uốn cong để hút thuốc lá sợi, thông dụng ở các nước Ả Rập.)

Cún nằm xuống
bậc thềm bên cạnh chiếc xe đẩy màu đỏ, hi vọng sẽ được nhìn thấy anh bạn Asimov
của mình, trong khi mấy đứa đi vào nhà. Rosalind vẫn có cảm giác kì lạ khi bước
vào phòng, vì người chủ nhà trước rất khó gần, đặc biệt là với trẻ con. Những
kỉ niệm ít ỏi em có được về nơi ấy là một ngôi nhà xám xịt, bụi bặm, mành cửa
lúc nào cũng buông kín. Giờ khi cô Iantha đã chuyển đến thì căn nhà không còn
gì giống như thế nữa. Toàn bộ tường đều được sơn lại thành màu xanh nhạt hoặc
màu ngà, và không còn mành cửa nữa mà chỉ có những tấm rèm mỏng được vén lên
cho ánh sáng chiếu vào. Và ngôi nhà có mùi rất dễ chịu nữa, giống như là -
Rosalind hít thử - mùi cam chăng?
Khi cô Iantha đưa Ben và Batty vào bếp lấy đồ ăn vặt thì Rosalind lang thang
quanh phòng khách ngắm nghía những bức ảnh gia đình được bày ở đó. Có mấy tấm
ảnh của Ben - một em bé sơ sinh bụ bẫm chỉ lơ thơ một nhúm tóc đỏ, rồi là một
em bé sáu tháng tuổi bụ bẫm, chưa chi đã có cái cười ngộ nghĩnh toe toét hết
cỡ, em bé một tuổi không còn bụ bẫm như trước nữa - rồi có một tấm ảnh cô
Iantha đang nắm tay một người đàn ông cao lớn tóc vàng. Rosalind cúi xuống gần
hơn để xem cho rõ.

“Chú Dan, chồng
cô đấy”. Cô Iantha đã quay lại cùng Batty và Ben, đem theo một đĩa bánh quy yến
mạch và - a - mấy lát cam.

“Cháu xin lỗi”,
Rosalind nói. “Cháu không định tọc mạch đâu ạ”.

“Cháu có tọc
mạch đâu. Đây, cháu ăn gì đi”.

“Chú ấy đẹp trai
quá ạ”.

“Ừ, và còn thông
minh hơn cả đẹp trai nữa. Cháu có biết sao chú ấy mất không? Một gã tài xế say
rượu đã đâm vào xe chú ấy. Chuyện xảy ra sáu tháng trước khi Ben ra đời”, cô
Iantha kể. “Đó là chuyện khiến cô buồn nhất, chú ấy chưa bao giờ được gặp Ben”.

“Cô có…”.
Rosalind không biết phải hỏi như thế nào. “Cô có quen được không ạ?”.

“Có”. Cô Iantha
mỉm cười. “Sau một thời gian”.

Ben và Batty đã
chạy ngang qua phòng đến chỗ cửa sổ, thì thào với nhau ở đó trong khi Asimov
lượn lờ quanh chân chúng. Rosalind sợ hai đứa lại nhìn thấy Người-Bọ nữa, nhưng
mấy phút sau, khi Batty quả thực trông thấy một người thật, thì kẻ đó hóa ra
còn tệ hơn cả Người-Bọ nữa.

“Là anh Tommy
đấy! Anh Tommy về nhà rồi!”, bé reo to. “Chị Rosalind ơi!”.

“Chị nghe thấy
rồi, Batty ạ”, em đáp, mừng thầm là cửa sổ đóng kín, không thì Tommy hẳn cũng
nghe thấy tiếng bé, mặc dù cậu ở tận bên kia phố.

“Tommy là anh
chàng tử tế đấy. Và xinh trai nữa”, cô Iantha nói. “Cô nghĩ cả hai anh em nhà
Geiger đều thế. Nhưng cô nhớ hồi cô còn nhỏ, dường như người lớn không bao giờ
hiểu được những chuyện ấy cả. Cháu nghĩ thế nào?”.

“Cháu cho là họ
cũng tạm được ạ”. Rosalind chưa bao giờ chú ý đến vẻ ngoài của anh em nhà
Geiger. “Hầu như lúc nào họ cũng chỉ gây phiền nhiễu thôi, nhất là hôm nay. Anh
Nick bắt cháu phải hứa sẽ nói chuyện với Tommy về một vấn đề mà cháu chẳng muốn
nói với cậu ấy tí nào, và Tommy cũng sẽ không chịu nói với cháu về chuyện đó
đâu. Rồi sẽ tồi tệ lắm cho mà xem. Cô thường bắt đầu một cuộc nói chuyện như
vậy bằng cách nào ạ?”.

“Cháu có muốn
tập thử không? Giả vờ cô là Tommy đi”.

Rosalind nheo
mắt nhìn cô Iantha, cố hình dung cô trông giống Tommy, nhưng thật là không thể.
Không ai lại có trí tưởng tượng phong phú đến mức ấy. “Cháu không biết nữa”.

“Thế này có giúp
được gì không?”.

Cô Iantha lấy
một cái chụp đèn từ cái đèn gần đó và úp nó lên đầu. “Giờ thì cô là Tommy đang
đội cái mũ chơi bóng bầu dục. Cháu hãy nói ‘Xin chào Tommy’ và tiếp tục từ đấy
đi”.

“Xin chào,
Tommy. Tớ muốn…”. Rosalind không nói thêm được gì nữa vì em đã cười phá lên.

“Rosy, cháu không
tập trung rồi”.

“Cháu có đấy
chứ!”, em cãi lại, càng cười dữ hơn.

Bị tiếng cười
thu hút, Batty và Ben rời khỏi ô cửa sổ và chạy lại ngắm hai người lớn. Có khán
giả ở đó không giúp Rosalind tập trung được ý nghĩ của mình hơn là bao, và khi Asimov
nhảy phóc một cái từ ghế lên và làm cái chụp đèn rơi khỏi đầu cô Iantha thì Rosalind
bỏ cuộc hoàn toàn và chịu đầu hàng trước những trận cười điên loạn.

“Có lẽ cháu nên
gặp quách Tommy bây giờ và nói cho xong chuyện đi thôi”, em nói khi đã lấy lại được
hơi.

“Cháu có chắc không?”,
cô Iantha hỏi. “Cô cháu mình có thể luyện tập thêm mà”.

“Thôi, không tập
nữa ạ”.

“Thế thì chúc
cháu may mắn. Cháu sẽ cừ lắm đấy”.

“Và em sẽ đi với
chị, chị Rosalind”, Batty nói. “Anh Tommy là bạn tốt của em mà”.

Nói chuyện về
Trilby đã đủ khó khăn lắm rồi, không cần phải có Batty xía vào nữa. “Lần này
thì không được, Batty bé bỏng ạ”.

“Sao lại không ạ?”.

“Batty, cưng à,
cháu ở lại đây với cô và em Ben trong khi chị Rosalind đến gặp anh Tommy nhé”,
cô Iantha nói.

“Nhưng tại sao
ạ?”.

“Vì thỉnh thoảng
các chị lớn cần được ở một mình với người khác, không có các cô em ở bên”.

Câu trả lời này
lại khiến Batty hỏi thêm một tràng nữa, và cô Iantha khéo léo trả lời hết, cho Rosalind
cơ hội lẻn đi mà không bị ai chú ý. Em đi qua phố sang nhà Geiger, vòng ra sau
nhà và gõ cửa bếp, như em đã làm cả ngàn lần trước kia. Nhưng lần này không phải
người nhà Geiger ra mở cửa, mà lại là Brendan, một cậu bạn cùng đội bóng bầu
dục với Tommy. Chiều hôm đó Rosalind đụng phải các cầu thủ bóng bầu dục thế là
đủ lắm rồi, nhưng mọi chuyện còn tệ hơn nữa, vì khi bước vào, em thấy Tommy đã không
chỉ dẫn một mình Brendan về nhà. Trong bếp chật ních một lũ con trai - Simon,
Josh, Kalim, Hong, Byron, và Jack - cùng các thứ thức ăn mà chúng đang ngốn
ngấu. Tất cả mặt phẳng trong bếp đều chất đầy những hộp sữa, hàng tảng pho mát,
bánh pizza nguội, hoa quả hoặc những gì còn lại của chúng, những lọ đựng cái gì
có trời mới biết, và hàng ổ, hàng ổ bánh mì.

“Ê, Rosy, ăn
bánh mì kẹp không?”. Từ đầu bên kia phòng, Tommy vẫy em bằng một miếng bánh mì
phết bơ lạc.

“Không, cảm ơn.
Thật ra tớ có chuyện cần nói với cậu”.

“Được thôi”. Cậu
ăn hết miếng bánh mì và chộp lấy một miếng khác.

“Ý tớ là không có
mặt các cậu ấy cơ”.

Brendan hú lên
một tiếng đến là ghét, nhưng Rosalind liếc nhìn cậu ta với vẻ khinh thường đầy
vương giả. Đám con trai còn lại không muốn phải chịu vẻ khinh miệt ấy, liền
tránh đường cho em đến chỗ Tommy, và để yên cho em kéo cậu ta cùng với miếng
bánh mì kẹp vào trong tiền sảnh.

“Xin chào,
Tommy. Tớ…”. Giờ thì sao đây? Em nhận ra, một cách quá muộn, rằng quả thực mình
cần được tập dượt. Để tìm cách đánh trống lảng, em nhìn cậu từ đầu đến chân,
như một người bạn cũ quan sát bạn mình. “Cậu đã cao lên vài phân đấy”.

“Tớ biết”.

“Nhưng vẫn gầy
quá”.

“Cái đấy tớ cũng
biết”. Cậu nhét nốt miếng bánh mì vào miệng. “Cậu có chắc là cậu không muốn ăn
gì không?”.

“Có, tớ chắc,
cảm ơn cậu”.

“Thế thì cậu
muốn gì chứ?”, Tommy hỏi một cách rất chi là hợp lí.

Trong một thoáng
ngắn ngủi, em đã nghĩ đến chuyện bảo cậu đặt một cái chụp đèn lên đầu. Ôi, cứ
nói thẳng đi! “Tớ muốn…”.

Đâu đó trên gác,
điện thoại reo vang. Tommy bước ngang qua tiền sảnh và hét vọng lên cầu thang. “Mẹ
ơi, đừng nghe máy nhé!”.

Nhưng hẳn bà
Geiger đã không nghe thấy, vì một thoáng sau, bà đi xuống, cầm theo cái ống
nghe. “A, Rosy, bác rất vui được gặp cháu với đôi má hồng hào này. Bác thề là
cháu càng ngày càng xinh hơn đấy”.

“Mẹ?”, Tommy chỉ
cái điện thoại.

“À, phải rồi,
cưng à, lại là Trilby đấy”. Bà Geiger đưa cậu chiếc điện thoại, vẫy chào Rosalind,
rồi lại đi lên nhà.

Rosalind nhìn
lên trần nhà trong khi Tommy nói chuyện điện thoại, cố hết sức không lắng nghe,
mặc dù cũng chẳng có gì mấy để nghe vì có vẻ như chỉ mình Trilby nói thôi. Sau
khoảng một chục câu ậm ừ chung chung, Tommy dập máy và ngượng nghịu quay sang Rosalind.
Giờ thì em đã biết phải bắt đầu như thế nào rồi.

“Hóa ra đấy là
Trilby. Cô ta có hay gọi điện cho cậu không?”.

“Tớ cho là có”.

“Chắc là khó
chịu lắm nhỉ”.

“Cũng không hẳn”,
cậu đáp, mặt đột nhiên trơ ra tựa núi Rushmore (1) vậy, sau này Rosalind kể lại
với Anna như thế.

(1. Một núi đá ở
bang Nam Dakota, được nhà điêu khắc Gutzon Borglum tạc khuôn mặt của bốn vị
tổng thống Mĩ nổi tiếng (George Washington, Thomas Jefferson, Theodore
Roosevelt và Abraham Lincoln) vào năm 1941.)

“Ồ, chắc chắn là
có chứ”, em nói, tuôn ra một tràng, mặc cho Tommy không lộ ra chút khuyến khích
nào. “Chuyện đó và chuyện cổ vũ lúc tập bóng bầu dục và chuyện lễ kỉ niệm một
tuần và, ờ, vân vân. Chắc là nó phải khiến cậu phát điên lên ấy chứ”.

“Vân vân ấy à?”.

“Cậu biết đấy,
vân vân và vân vân ấy mà”.

Cậu khoanh tay
lại và trông càng giống núi Rushmore hơn. “Cậu ghen à?”.

“Ghen với Trilby
ấy à?”. Em kinh ngạc trước sự ngớ ngẩn của cậu ta. “Nyet! Nyet, nyet, nyet, nyet”.

“Thế thì chuyện
này liên quan gì đến cậu chứ?”.

“Chẳng liên quan
gì cả. Cậu nói đúng, chẳng liên quan gì sất. Sao tớ lại phải quan tâm xem cậu
làm những trò gì chứ? Tớ đã bảo anh Nick thế, nhưng anh ấy…”.

“Anh Nick ấy à?
Cậu với anh Nick đã nói chuyện về tớ à? Nàng Rosalind vĩ đại hoàn hảo và ông
anh trai vĩ đại hoàn hảo của tớ đã quyết định xem cái gì là tốt nhất cho tớ à?”.
Tommy giậm chân thình thịch đi một vòng rồi quay lại trừng mắt nhìn em. “Chính chuyện đó mới làm tớ phát điên thì có!”.

Khi bị thúc ép -
và chắc chắn Rosalind đang cảm thấy bị thúc ép - thì em có thể trừng mắt giận
dữ không kém gì ai, và những cái trừng mắt giận dữ qua lại trong buổi chiều hôm
đó quả là đáng sợ. Vì không đấu thủ nào chịu lùi bước, nên hẳn hai đứa sẽ đứng
đó hàng giờ nếu Simon không đi vào tiền sảnh.

“Geiger, mày hết
bơ lạc rồi”, cậu ta nói, rồi đột nhiên co rúm lại, vì tất cả những cái trừng
mắt bỗng chĩa thẳng vào cậu ta. “Không có gì”.

Simon chạy biến
đi, và Rosalind thấy em không còn trừng mắt nổi, và cũng không nói nổi nữa. Em
thật ngu ngốc vì đã bắt đầu chuyện này, thật ngu ngốc vì đã hứa với anh Nick,
một con ngốc hoàn toàn.

“Tớ xin lỗi,
Tommy”, em nói.

“Được thôi”. Ít
ra thì cậu vẫn còn lại khá đủ sức để trừng mắt.

“Tớ về đây”.

“Cũng được nốt”.

Không thể quay
về căn bếp chật ních bọn con trai đó được, nên lần này Rosalind đi qua cửa
trước. Bất chấp những ý định tốt đẹp của mình, em vẫn đóng sầm cánh cửa lại khi
đi ra.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.