Chương 20: Người Gilyak đáng thương - P2
Mất
khá nhiều thời gian để chọn sách. Anh không quen đọc thành tiếng, vì vậy mà
không thể quyết định cuốn nào thích hợp để đọc to. Trù trừ một lúc, anh rút ra
cuốn Đảo Sakhalin của Anton Chekhov vừa đọc xong tuần trước. Vì anh đã dán giấy
nhớ đánh dấu những chỗ thú vị, nên chắc là sẽ tiện tìm chỗ thích hợp đọc to cho
Fukaeri nghe.
Trước
khi đọc, Tengo giới thiệu sơ qua về cuốn sách này. Năm 1890, khi Chekhov đến đảo
Sakhalin du lịch, ông mới ba mươi tuổi. Là nhà văn trẻ được đánh giá cao thuộc
thế hệ sau Leo Tolstoy và Fyodor Dostoyevsky, một người thành thị đang sống cuộc
sống xa hoa ở thủ đô Matxcơva như Chekhov, tại sao lại quyết định một mình đến
vùng đất xa xôi Sakhalin, lại còn ở đó suốt một thời gian khá dài. Không ai biết
lý do thực sự. Sakhalin chủ yếu là vùng đất được khai khẩn để làm nơi lưu đày
những người tù khổ sai, đối với người bình thường, đó chỉ là biểu tượng của bi
thảm và sự chẳng lành. Huống hồ thời bây giờ vẫn chưa có đường sắt Tây Siberia,
ông chỉ có thể ngồi xe ngựa rong ruổi hơn bốn nghìn cây số giữa trời đất giá
băng, cuộc hành xác ấy đã khiến thân thể vốn không được khỏe mạnh của ông bị
tàn phá nặng nề. Và cuốn sách Đảo Sakhalin, thành quả sau chuyến đi dài tám
tháng đến miền Viễn Đông ấy, khiến không ít đọc giả phải bối rối. Bởi vì đây là
một tác phẩm bóp nghẹt các yếu tố văn chương, giống như một bản báo cáo điều
tra thực tế hay dư địa chí nhiều hơn. “Tại sao Chekhov lại làm chuyện nhọc công
vô ích, chẳng có ý nghĩa gì trong giai đoạn vô cùng quan trọng với một nhà văn
như thế?” Những người xung quanh đều xì xào bàn tán. Thậm chí có nhà phê bình
còn khẳng định đó là hành vi “Cố ý gây chấn động, mượn cớ để nổi danh”. Cũng có
người đoán rằng “Đã không còn biết viết gì nữa, nên đi để tìm kiếm tư liệu sống.”
Tengo cho Fukaeri xem tấm bản đồ in kèm theo sách, chỉ cho cô vị trí của
Sakhalin.
“Tại
sao Chekhov lại đi Sakhalin.”
“Em hỏi
anh nghĩ thế nào về chuyện này à?”
“Phải.
Anh đọc sách này rồi.”
“Đọc
rồi.”
“Anh
nghĩ thế nào.”
“Có lẽ
chính bản thân Chekhov cũng không biết nguyên nhân thực sự,” Tengo nói. “Hay là
nói thế này nhé, đột nhiên ông nảy ra ý tưởng, muốn đến đó xem thử thế nào. Chẳng
hạn, khi nhìn trên bản đồ thấy hình dáng của đảo Sakhalin, ông không sao kiềm
chế được sự thôi thúc, muốn đến tận nơi xem tận mắt. Anh cũng từng có những trải
nghiệm tương tự vậy. Có một số nơi, anh nhìn trên bản đồ, bất chợt thấy dâng
lên một ý muốn: ‘Cho dù thế nào, mình cũng phải đến đó xem!’ Không hiểu sao, rất
nhiều trường hợp, đó đều là những nơi xa xôi bất tiện. Phong cảnh ở đó như thế
nào? Đang xảy ra chuyện gì? Tóm lại, chỉ một mực muốn đến xem thử thế nào. Cảm
giác ấy giống như sự ngứa ngáy, vì vậy không thể nói cho người khác biết nguồn
gốc của tâm trạng bị thôi thúc ấy. Chỉ là lòng hiếu kỳ thuần túy. Một thứ linh
cảm không thể nói rõ ra được. Thời bấy giờ, từ Matxcơva đi Sakhalin là chuyện
khó khăn đến mức không thể tưởng tượng được, vì vậy anh nghĩ, chắc rằng Chekhov
không chỉ có lý do đấy thôi đâu.”
“Ví dụ
như.”
“Chekhov
không chỉ là nhà văn, ông ấy còn là bác sĩ. Vì vậy, là một nhà khoa học, có lẽ
ông ấy muốn tận mắt kiểm tra vết thương của nước Nga vĩ đại. Cái sự thật bản
thân là nhà văn nổi tiếng cư trú ở thành thị khiến Chekhov cảm thấy khó chịu.
Ông chán ghét không khí của văn đàn Matxcơva, không thể hòa hợp được với đám bạn
văn ngày ngày làm bộ làm tịch, hoặc động một tí là phá đám nhau. Còn những nhà
phê bình tâm địa bất trắc ấy, ông chỉ thấy chán ghét. Có khi chuyến đi Sakhalin
chính là một cuộc hành hương gột rửa hết những vết nhơ của văn học. Hơn nữa, đảo
Sakhalin ở nhiều tầng ý nghĩa đã làm ông cảm thấy chấn động sâu sắc. Có lẽ
chính vì vậy, Chekhov mới không thể viết được một tác phẩm văn học lấy chuyến
du hành đến Sakhalin làm đề tài. Đó tuyệt đối không phải chuyện nông cạn có thể
tùy tiện lấy ra làm đề tài tiểu thuyết được. Hơn thế, vết thương này có thể nói
đã trở thành một phần của thân thể ông. Không chừng đây mới là thứ mà ông ấy
theo đuổi.”
“Cuốn
sách ấy thú vị,” Fukaeri hỏi.
“Anh
đọc thì thấy rất thú vị. Trong sách liệt kê rất nhiều con số và thống kê thực tế,
vừa nãy anh cũng nói rồi, không có sắc thái văn học lắm. Nó thể hiện một cách mạnh
mẽ khía cạnh nhà khoa học ở Chekhov. Nhưng ở đó, anh đọc được quyết tâm cao quý
của ông. Hơn nữa, trong những ghi chép mang tính thực tế đó, thi thoảng cũng
kèm những đoạn miêu tả nhân vật và phong cảnh mang lại ấn tượng sâu sắc. Thậm
chí, ngay cả những đoạn văn mang tính thực tế chỉ liệt kê sự thực cũng không tồi
chút nào. Đôi lúc còn rất đẹp là đằng khác. Như đoạn miêu tả về người Gilyak chẳng
hạn.”
“Người
Gilyak,” Fukaeri hỏi.
“Người
Gilyak là những thổ dân sinh sống ở Sakhalin từ rất lâu trước khi bị người Nga
đến chiếm đất. Bọn họ vốn sống ở phương Nam, nhưng vì bị người Ainu đến từ
Hokkaido áp bức nên phải chạy đến cư trú ở miền Trung. Người Ainu cũng bị người
Hòa[3] bức bách, nên mới phải rời khỏi Hokkaido. Chekhov đã quan sát đời sống
văn hóa đang tiêu vong nhanh chóng vì sự Nga hóa tại Sakhalin ở cự li gần, đồng
thời gắng sức ghi chép lại một cách chuẩn xác.”
[3]Người
Nhật.
Tengo
lớn giọng đọc đoạn văn miêu tả về người Gilyak. Để dễ hiểu hơn, có một số chỗ
anh đã lược bớt và sửa đổi cho phù hợp.
Người
Gilyak có thân hình thấp đậm nhưng rắn chắc. Khó có thể nói là tầm thước, mà có
lẽ thuộc loại thấp nhỏ thì đúng hơn. Nếu thân hình cao lớn, hẳn là họ sẽ cảm thấy
vướng víu trong rừng rậm. Đặc trưng của họ là xương lớn, những chỗ đầu xương có
mật độ cơ bắp dày đặc, xương cột sống, xương khớp đều rất phát triển. Điều này
làm người ta liên tưởng đến cuộc đấu tranh căng thẳng và không ngừng nghỉ giữa
các cơ bắp mạnh mẽ, rắn chắc với tự nhiên. Cơ thể họ gầy guộc và săn chắc,
không có mỡ dưới da. Bạn đừng hòng gặp được người Gilyak nào to béo. Hiển
nhiên, tất cả mỡ của họ đều đã tiêu hao để duy trì nhiệt độ cơ thể. Để bù đắp
phần thân nhiệt mất đi do nhiệt độ thấp và độ ẩm cực cao, những người ở
Sakhalin không thể không tạo ra trong cơ thể mình một thân nhiệt tương ứng. Từ
đây, có thể lý giải được tại sao người Gilyak lại có nhu cầu ăn nhiều mỡ đến thế.
Thịt hải báo béo ngậy, mỡ cá hồi, cá tầm và cá voi, những miếng thịt còn rỏ
máu, tất cả những thứ đó họ đều ăn sống, hoặc phơi khô, và phần lớn trường hợp
là để đông lạnh. Họ ăn rất nhiều. Vì ăn những thực phẩm thô cứng như thế, nên
những bộ phận tập trung nhiều cơ nhai của họ phát triển dị thường, răng thì cái
nào cái nấy đều mòn vẹt. Họ chuyên ăn thịt, chỉ những khi ăn ở nhà hoặc uống rượu,
mới ăn thêm tỏi Mãn Châu và dâu tây kèm với thịt và cá. Theo tường trình của
Gennady Ivanovich Nevelskoy[4], người Gilyak coi nông nghiệp là một tội ác ghê
gớm, họ tin rằng người nào tự ý đào đất lên để định trồng thứ gì đó chắc chắn sẽ
chết. Nhưng bánh mì mà người Nga cho họ, thì lại rất được yêu thích, cho là món
ngon. Ngày nay, ở Alexandrovsk và làng Orekhov, cũng không hiếm gặp những người
Gilyak kẹp dưới nách cái bánh mì tròn loại lớn nữa.
[4]
Gennady Ivanovich Nevelskoy (1813-1876): nhà hàng hải, nhà thám hiểm, quân nhân
hải quân người Nga.
Tengo
đọc tới đây thì dừng lại nghỉ một lúc. Anh không đoán được cảm tưởng của
Fukaeri từ trên gương mặt đang lắng nghe say sưa ấy.
“Thế
nào? Vẫn đọc tiếp chứ? Có cần anh đổi cuốn khác không?” anh hỏi.
“Em vẫn
muốn biết thêm về người Gilyak.”
“Vậy
thì anh tiếp tục đọc nhé.”
“Em nằm
trên giường được không,” Fukaeri hỏi.
“Được
chứ,” Tengo trả lời.
Vậy
là hai người bèn chuyển sang phòng ngủ. Fukaeri leo lên giường, Tengo đem ghế
kê bên cạnh, ngồi xuống, sau đó tiếp tục đọc.
Người
Gilyak không bao giờ rửa mặt, nên ngay cả các nhà nhân loại học cũng không dám
khẳng định màu da thật sự của họ là gì. Họ cũng không giặt đồ lót, còn các thứ
quần áo, giày ủng bằng da và lông thì như thể mới được lột từ trên mình con chó
chết ra vậy. Bản thân người Gilyak cũng phát ra một mùi xú uế nồng nặc khiến
người ta phát mửa. Nếu nhà của họ ở gần đâu đó, thì có thể biết ngay nhờ vào
mùi khó chịu, đôi lúc thậm chí không thể chịu nổi của cá khô và nội tạng cá rữa
nát. Bất cứ nhà nào, bên cạnh cũng đều có một sân phơi đầy những con cá xẻ đôi,
nhìn từ đằng xa, đặc biệt lúc mặt trời chói lóa, trông như bãi san hô. Ở gần
sân phơi này, Krusenstern[5] từng phát hiện một ổ dòi bọ nhung nhúc phủ kín cả
mặt đất, dày đến ba xăng ti mét.
[5]Ivan
Fyodorovich Krusenstern (1770-1846): nhà thám hiểm, tư lệnh hải quân người Nga.
“Krusenstern.”
“Anh
đoán ông ta là một nhà thám hiểm thời kỳ trước đó, Chekhov là người cần cù
nghiên cứu, ông ấy đã đọc hết loạt các sách viết về Sakhalin.”
“Đọc
tiếp đi.”
Đến
mùa đông, trong căn nhà nhỏ, khói đặc sẽ bay ra từ bếp lò, thêm nữa, người
Gilyak kể cả phụ nữ và trẻ con, ai nấy đều hút thuốc lá. Tuy chưa có bất cứ số
liệu nào về tình hình bệnh tật và tỷ lệ tử vong của người Gilyak, nhưng cần phải
thấy rõ điều kiện vệ sinh tệ hại như vậy chắc chắn sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe
của họ. Rất có thể nguyên nhân họ lùn nhỏ, mặt mũi phù thũng, động tác thiếu sức
sống, tỏ ra mệt mỏi là do điều kiện vệ sinh ấy gây ra.
“Người
Gilyak đáng thương,” Fukaeri nói.
Về
tính cách của người Gilyak, các tác giả đưa ra những giải thích khác nhau,
nhưng đều nhất trí ở một điểm, đó là họ không hiếu chiến, không thích tranh luận
và ẩu đả, là một dân tộc có thể sống hòa bình với bất cứ hàng xóm nào. Mỗi khi
có người mới xuất hiện, họ sẽ dò xét bằng cái nhìn đa nghi vì lo lắng cho tương
lai, nhưng không hề có ý đồ phản kháng, và bao giờ cũng đón tiếp một cách hòa
nhã. Giả sử họ cho rằng việc mô tả Sakhalin như một nơi buồn tẻ sẽ khiến những
dân tộc khác rời khỏi đảo này ra đi, và họ bèn nói dối, thì đó đã là sự phản
kháng ở mức độ cao nhất của họ. Họ rất hữu hảo với đoàn người của Krusenstern,
thậm chí còn ôm hôn thắm thiết, khi L.I.Schlenk[6] mắc bệnh, tin tức này lập tức
lan truyền trong cộng đồng Gilyak, và họ xót xa thực sự. Họ chỉ nói dối khi mua
bán, và đôi lúc nói chuyện với những người khả nghi hay những nhân vật mà họ
cho là nguy hiểm; chẳng những vậy, trước khi nói dối, họ còn phải đưa mắt nhìn
nhau, bộ dạng chẳng khác nào con nít. Còn trong giao tiếp xã hội thông thường
không liên quan đến buôn bán, tất cả những lời dối trá và khoe khoang đều làm họ
thấy chán ghét.
[7]
L.I.Chlenk (1826-1894): nhà nhân chủng học, động vật địa lý học người Nga, từng
khảo sát tại đảo Sakhalin ba năm.
“Người
Sakhalin tuyệt vời,” Fukaeri nói.
Khi
đã hứa với người khác việc gì, người Gilyak nhất định sẽ thực hiện bằng được.
Cho đến giờ vẫn chưa từng có chuyện người Gilyak giữa đường vứt bỏ bưu kiện, hoặc
lạm dụng đồ đạc của người khác. Họ dũng cảm, tiếp thu nhanh, vui tính, dễ gần,
khi ngồi cùng với những người quyền thế hay giàu có cũng thản nhiên như không.
Họ không chấp nhận bất cứ thứ quyền lực nào, giữa họ dường như không tồn tại
ngay cả khái niệm kẻ trên người dưới. Thường xuyên có người nói hoặc viết rằng,
trong cộng đồng người Gilyak, chế độ gia trưởng không được tôn trọng. Người cha
không cho rằng mình là bề trên của con trai, còn con trai cũng chẳng hề kính trọng
cha, cứ sống thỏa mái tùy ý. Ở trong nhà, bà mẹ già cũng không có quyền lợi gì
hơn đứa con gái vẫn còn mũi dãi lòng thòng. Theo ghi chép của Vasili Danilivich
Poyarkov[8], ông từng không chỉ một lần mục kích cảnh con trai đấm đá mẹ ruột của
mình đuổi ra khỏi nhà, vậy mà cũng không có người nào ra mặt khuyên ngăn. Trong
gia đình, đàn ông nhất loạt đều bình đẳng. Nếu bạn mời người Gilyak uống rượu
vodka, thì cần mời cả cậu bé trai chưa trưởng thành nữa.
[8]
Vassili Danilovich Poyarkov (?-1668): nhà thám hiểm người Nga đầu tiên đến khu
vực Amur (dòng sông chảy giữa Trung Quốc và Nga).
Mặt
khác, phụ nữ, dù là bà nội, mẹ hay đứa trẻ vẫn đang bú, đều không có quyền lợi
như nhau. Bị bỏ rơi, bán đi, hay đánh đập như đối xử với loài chó, tất cả đều
không thành vấn đề, bị đối xử cay nghiệt như đối với đồ vật hay gia súc. Người
Gilyak có thể cưng chiều một con chó, nhưng tuyệt không bao giờ vui vẻ nói cười
với phụ nữ. Họ cảm thấy việc kết hôn cực kỳ vô vị, nói gọn là còn không quan trọng
bằng việc vui chơi uống rượu. Họ cũng không thực hiện bất cứ nghi thức tôn giáo
hay mê tín nào. Người Gilyak dùng giáo dài, thuyền nhỏ hoặc thậm chí cả chó đi
đổi lấy phụ nữ, gánh về lều mình, ném lên tấm da gấu ngủ với nhau… vậy là xong.
Họ cũng thừa nhận chế độ một vợ một chồng, nhưng dù thế nào thì đàn bà vẫn nhiều
hơn bọn đàn ông, thành thử chế độ này cũng không phổ biến. Coi phụ nữ như động
vật hạ đẳng hoặc đồ vật, trong cộng đồng người Gilyak, phụ nữ thậm chí còn
không được coi bằng nô lệ. Hiển nhiên, đối với họ, phụ nữ cũng giống như thuốc
lá và vải bông vậy, đều là đối tượng để giao dịch. Nhà văn Thụy Điển August
Strindberg, một người căm ghét đàn bà nổi tiếng, chỉ mong phụ nữ thành nô lệ,
chỉ cần nghe theo sự vui giận bất thường của đàn ông là tốt nhất. Về bản chất,
ông ta có tư tưởng tương đương với người Gilyak. Nếu đến phía bắc Sakhalin thì
chắc chắn ông ta sẽ được người Gilyak hoan nghênh lắm.
Tengo
dừng lại nghỉ một chút. Fukaeri không phát biểu cảm tưởng gì. Chỉ im lặng. Anh
lại tiếp tục đọc.
Chỗ của
họ không có tòa án, cũng không biết việc xét xử có ý nghĩa gì. Đến giờ họ vẫn
không thể hiểu được vai trò của đường sá, chỉ từ chuyện này thôi có lẽ đã có thể
làm rõ được một điều: đối với họ, thật khó khăn để hiểu được chúng ta. Cả ở những
nơi đường đã được làm xong, họ vẫn cứ đi xuyên qua rừng rậm như trước. Thường
xuyên có thể nhìn thấy cả nhà họ dẫn theo chó xếp thành một hàng dài, khó nhọc
bước đi trong đám bùn lầy lội ngay bên cạnh đường cái quan.
Fukaeri
nhắm mắt, hơi thở hết sức bình yên. Tengo chăm chú quan sát gương mặt cô một
lúc. Nhưng rốt cuộc cô đã ngủ chưa, thì anh không biết. Vậy là, anh bèn lật một
trang khác, tiếp tục đọc, tự nhủ nếu cô đã ngủ rồi thì để cô ngủ say hơn nữa, đồng
thời, anh cũng muốn đọc thành tiếng thêm vài đoạn văn nữa của Chekhov.
Ở cửa
sông Najawa, trước đây có một đồn gác, được xây dựng vào năm 1886. Khi công sứ
Nga tới đây, tổng cộng nhà có người ở và nhà trống có mười tám căn, còn có cả
giáo đường, tiệm thực phẩm. Theo bài viết của một nhà báo đến đây vào năm 1871,
nơi này hình như có hai mươi binh sĩ đồn trú dưới sự chỉ huy của một viên sĩ
quan dự bị. Ông ta còn viết rằng trong nhà, một người vợ lính xinh đẹp đã khoản
đãi nhà báo bằng trứng gà tươi và bánh mì đen, hết lời khen ngợi cuộc sống ở
đây, chỉ phàn nàn một điều rằng giá đường cát cao quá. Giờ đây những căn nhà gỗ
đó đều đã biến mất, dõi mắt nhìn khung cảnh hoang lương xung quanh, câu chuyện
về người vợ lính xinh đẹp thật chẳng khác nào thần thoại. Giờ ở nơi đây chỉ có
một khu nhà mới cất, không phải đồn gác thì là nhà trọ. Ngước mắt nhìn ra xa là
biển lớn lạnh lẽo đục ngầu, đang gầm gừ quất tung những con sóng trắng xóa cao
bốn năm mét vào bờ cát, trông như thể đang bị giam cầm trong tuyệt vọng, rên rỉ
rằng “Thượng đế ơi, tại sao Người tạo ra chúng con”. Nơi đây đã là Thái Bình Dương.
Ở bờ biển, có thể nghe thấy tiếng đập búa của những người tù vang lên trên khắp
công trình xây dựng, còn bên bờ đối diện xa xôi kia, là nước Mỹ. Phía trái có
thể thấy doi đất Sakhalin bị mây mù che phủ, bên phải cũng là doi đất… bốn bề
không thấy bóng người, cả một con chim, một con nhặng cũng chẳng thấy. Ở nơi
này, sóng biển rốt cuộc đang thét gào vì ai? Có ai hàng đêm lắng nghe tiếng
sóng? Sóng biển đang tìm kiếm gì? Sau khi tôi rời khỏi đây, sóng biển lại tiếp
tục gào thét vì ai… cả điều này cũng không thể biết được. Đứng bên bờ biển này,
bản thân ta đã trở thành một tên tù u uất và không còn tư tưởng. Một nỗi sợ vô
cớ, nhưng đồng thời cũng khiến người ta có cảm giác muốn đứng mãi ở nơi đây,
dõi mắt ngắm nhìn sóng biển đơn điệu cuộn dâng, lắng nghe tiếng gầm điếc tai của
nó.
Hình
như Fukaeri đã ngủ say hẳn. Lắng tai nghe, chỉ thấy vang lên tiếng thở đều đặn,
nhẹ nhàng của cô. Tengo gấp sách lại, đặt lên chiếc bàn nhỏ đầu giường, sau đó
đứng lên, tắt đèn phòng ngủ. Cuối cùng lại đưa mắt nhìn gương mặt Fukaeri một lần
nữa. Cô ngửa mặt lên trần nhà, miệng mím chặt thành một đường thẳng, ngủ rất
bình yên. Tengo khép cửa lại, trở ra bếp.
Nhưng
anh không thể nào viết tiếp được nữa. Phong cảnh nơi bờ biển hoang lương ở
Sakhalin mà Chekhov miêu tả đã ăn sâu vào tâm thức anh. Tengo có thể nghe thấy
tiếng sóng biển đang gầm thét ấy. Vừa nhắm mắt lại, anh liền một mình đứng bên
bờ biển Okhotsk hoang vắng không vết dấu của con người, trở thành tên tù đang đắm
chìm trong trầm tư mặc tưởng. Anh có thể cảm nhận được tâm tư u uất vì không có
nơi dốc lòng ấy của Chekhov. Chắc hẳn ở chốn góc biển chân trời ấy, ông đã bị một
thứ cảm giác bất lực áp đảo. Là một nhà văn Nga cuối thế kỷ mười chín, có lẽ
cũng đồng nghĩa với việc gánh trên lưng sứ mệnh dữ dội của kẻ cùng đường mạt lộ.
Họ càng muốn thoát khỏi nước Nga, nước Nga lại càng nuốt chửng họ vào cơ thể rộng
lớn của mình.
Tengo
lấy nước rửa sạch ly rượu vang, vào nhà vệ sinh đánh răng, tắt đèn bếp nằm xuống
sofa, đắp chăn lên người, định bụng sẽ ngủ. Sâu trong tai anh, tiếng sóng ầm ầm
vẫn không ngừng vang động. Mặc dù vậy, không lâu sau, ý thức anh dần trở nên mơ
hồi, rồi anh bị kéo vào một giấc ngủ sâu lúc nào chẳng hay.
Lúc
anh tỉnh giấc thì đã tám rưỡi sáng. Trên giường không thấy Fukaeri. Bộ đồ ngủ
anh cho cô mượn vo viên thành một đống, ném vào máy giặt trong nhà vệ sinh. Chỗ
ống tay và ống chân vẫn còn xắn lên. Trên bàn bếp có một lời nhắn viết bằng bút
bi trên mẩu giấy nhớ: “Người Gilyak giờ thế nào rồi. Em về nhà đây.” Chữ nhỏ, cứng
và góc cạnh, nhìn có vẻ không được tự nhiên lắm. Cảm giác như thể từ trên không
quan sát những hàng chữ xếp bằng vỏ sò trên bãi cát. Anh gấp tờ giấy lại, cho
vào ngăn kéo. Nếu để người tình đến lúc mười một giờ nhìn thấy, chắc chắn cô sẽ
làm ầm lên.
Tengo
dọn sạch giường, cất tác phẩm công phu của Chekhov lên giá. Sau đó đi pha cà
phê, nướng bánh mì lát. Vừa ăn sáng, anh vừa cảm thấy có thứ gì đó cứ đè nặng
trong ngực mình không chịu tan đi. Mất một lúc lâu mới hiểu được đó là gì. Đó
là gương mặt bình thản của Fukaeri.
Chẳng
lẽ mình đã nảy sinh tình cảm với cô bé này rồi sao? Không đúng, không thể có
chuyện ấy. Tengo tự nhủ. Chỉ là trên người cô có thứ gì đó, vô tình đã làm rung
động trái tim mình theo lối cơ học. Thế nhưng, tại sao mình lại để ý đến bộ đồ
ngủ cô ấy đã mặc như thế? Tại sao lại (và không ý thức được một cách sâu sắc) cầm
lên ngửi mùi hương còn sót lại trên đó?
Những
câu hỏi cứ nổi lên. “Nhà văn không phải là người giải quyết vấn đề, mà là người
đưa ra vấn đề.” Người nói câu này hình như chính là Chekhov. Một câu danh ngôn sâu
sắc. Nhưng Chekhov không chỉ đối xử với tác phẩm của mình như thế, mà khi đối mặt
với cuộc đời mình, ông cũng luôn giữ thái độ ấy. Chỉ có vấn đề đặt ra, nhưng
không có vấn đề được giải quyết. Ông biết mình đã mắc bệnh phổi nan y (bản thân
ông chính là bác sĩ, không thể nào không biết), nhưng lại cố gắng bỏ qua sự thật
này, cho đến lúc chết cũng không chịu tin rằng mình đang trên con đường đến với
cái chết. Ông không ngừng ho ra máu, ra đi khi tuổi vẫn còn trẻ.
Tengo
lắc đầu, đứng lên khỏi bàn. Hôm nay là ngày người tình của mình đến, tiếp theo
còn phải giặt quần áo, quét dọn nhà cửa. Việc suy nghĩ để sau hãy tính.

