Những đứa con của nửa đêm - Phần III - Chương 30 - Phần 2
Như một câu thần chú, lời giễu cợt của người bán trầu đã mở ra cánh cửa cho Saleem trở về thành phố chôn nhau cắt rốn, nơi trú ngụ của nỗi hoài nhớ sâu sắc nhất trong gã. Phải, đó là một câu “vừng ơi mở ra,” và khi chúng tôi quay về dãy lều nát dưới gầm cầu đường sắt, Picture Singh bới đất rồi moi lên chiếc khăn mùi soa buộc túm đựng đồ bảo mệnh của anh, mảnh vải bạc màu bụi đất nơi anh tích cóp những đồng xu cho lúc tuổi già; và khi Durga mụ thợ giặt từ chối đi cùng anh, “Ông nghĩ sao vậy, Pictureji, tôi là loại đàn bà triệu phú hay sao mà có thời gian nghỉ mát kiểu đấy?”, anh quay sang tôi với điều gì đó rất gần với sự van nài trong ánh mắt và ngỏ lời muốn tôi đi cùng, để anh không phải bước vào trận chiến ác liệt nhất, thử thách với tuổi tác của anh, mà không có một người bạn... phải, và Aadam cũng nghe thấy - với đôi tai phấp phới nó đã nghe thấy nhịp điệu của câu thần chú, tôi thấy mắt nó sáng lên khi tôi đồng ý, và thế là chúng tôi ngồi trong một khoang tàu hạng ba chạy về phía Nam Nam Nam, và trongsự đơn điệu năm âm tiết của những bánh xe, tôi đã nghe thấy mật ngữ ấy: abracadabra abracadabra abracadabra, tiếng hát của bánh xe khi chúng đưa chúng tôi bay-về-Bom.
Phải, tôi đã bỏ khu trại của giới ảo thuật lại sau mãi mãi, tôi đang abracadabra abracadabrahướng đến trái tim của một nỗi hoài nhớ sẽ giữ tôi sống đủ lâu để viết những dòng này (và tạo ra một số tương ứng những lọ ngâm); Aadam cùng Saleem và Picture Singh nhồi nhét trong toa hạng ba, đem theo một cơ số sọt đã buộc dây, những chiếc sọt làm phần nhân loại bị nhồi-như-thịt-hộp trong toa kinh hãi vì kêu phì phì liên tục, khiến đám đông dồn ra sau sau sau, tránh xa hiểm họa bầy rắn, nhường cho chúng tôi một sự thoải mái và rộng rãi nhất định; trong khi những bánh xe hát bài abracadabra cho đôi tai phấp phới của Aadam.
Càng gần đến Bombay, vẻ bi quan ở Picture Singh càng lớn dần lên cho tới khi dường nó như đã trở thành một thực thể vật chất chỉ có bề ngoài là giống người dụ rắn ngày xưa. Đến ga Mathura, một gã trai người Mỹ cằm đầy mụn và đầu cạo trọc như quả trứng lên toa chúng tôi cùng đội quân hàng rong nhộn nhạo bán con giống đất sét và chaloo-chai[2] theo cốc; gã phe phẩy một cái quạt lông công, và vận đen từ mớlông công càng làm Picture Singh trầm uất ngoài sức tưởng tượng. Trong khi sự bằng phẳng bất tận của bình nguyên Ấn-Hằng trải rộng ngoài cửa sổ, phả hơi nóng điên dại của gió sa mạc[3]về chiều vào hành hạ chúng tôi, tay Mỹ trọc giảng giải cho hành khách trong toa về tính phức tạp của đạo Hindu và bắt đầu dạy họ chân ngôn trong khi tay chìa ra một cái bát ăn xin bằng gỗ hồ đào; Picture Singh như mù trước cảnh tượng kỳ thú này và như điếc trước điệp khúc abracadabra của đoàn bánh xe. “Chẳng ích gì đâu, đội trưởng,” anh buồn thảm giãi bày, “tay Bombay này sẽ trẻ và khỏe, và từ nay anh sẽ chỉ còn là người đàn ông dụ hoặc thứ hai.” Khi chúng tôi tới ga Kotah, mùi đen đủi bốc ratừ cây quạt lông công đã hoàn toàn chiếm lĩnh Picture Singh, ăn mòn anh một cách đáng báo động đến nỗi mặc dù mọi người trên toa đều xuống tàu ở phía bên kia so với sân ga để tiểu tiện lên thành tàu, anh không có dấu hiệu gì là cần đi cả. Đến Giao lộ Ratlam, trong khi cơn phấn khích của tôi dâng cao, anh chìm vào một cơn hôn mê không phải là ngủ mà là sự tê liệt đang lớn dần của tâm lý bi quan. “Cứ cái đà này,” tôi nghĩ, “khéo anh ấy còn chẳng thách đấu được.” Qua Baroda: vẫn thế. Tại Surat, cảng tập kết của John Company ngày xưa[4], tôi nhận ra rằng mình cần phải hành động ngay, bởi vì mỗi phút abracadabra lại đem chúng tôi đến gần Bombay hơn, thế là cuối cùng tôi nhặt cây sáo gỗ cũ của Picture Singh lên, và bằng cách thổi nó một cách vụng về tệ hại đến nỗi tất cả lũ rắn rít lên đau đớn và làm gã trai người Mỹ nín bặt vì khiếp đảm, bằng cách phát ra một âm thanh ma tru quỷ khóc đến nỗi không ai nhận ra tàu đã chạy qua đường Bassein, Kurla, Mahim, tôi đã phá vỡ màn âm khí của lông công; sau cùng Picture Singh đã rùng mình tỉnh dậy từ cơn tuyệt vọng với một cái nhệch cười yếu ớt và nói, “Tốt hơn là cậu thôi đi, đội trưởng, và đưa tôi thổi cho; không thì có người chắc chết vì đau đớn mất.”
[2] Trà sữa pha đường.
[3] Nguyên văn: loo-wind, thứ gió mùa mang hơi nóng của sa mạc vào lục địa Ấn Độ.
[4] John Company: tên gọi khác của Công ty Đông Ấn thuộc Anh.
Bầy rắn nguôi dần trong sọt; thế rồi bánh xe thôi hát, và chúng tôi đến nơi:
Bombay! Tôi ôm ghì lấy Aadam, và không cưỡng được bật ra một tiếng reo xa xưa: “Bay-về-Bom!” Tôi reo mừng, trước vẻ ngơ ngác của gã trai người Mỹ, kẻ chưa bao giờ biết đến câu chân ngôn ấy; và nhắc đi, và nhắc lại, nhắc đi, nhắc lại: Bay-về-Bom! Về-Bom!”
Bắt xe buýt xuôi đường Bellasis, tới vòng cua Tardeo, chúng tôi đi qua những người Parsee mắt trũng sâu, qua những tiệm sửa xe đạp và quán café Iran; rồi đến Hornby Vellard bên phải chúng tôi - nơi khách bộ hành chứng kiến cảnh Sherri con chó lai bị vứt bỏ cho ộc máu ra chết! Nơi hình nộm bằng bìa của các đồ vật vẫn ngất ngưởng trên các lối vào ở sân vận động Vallabhbhai Patel! - chúng tôi xóc nảy tưng tưng qua những cảnh sát giao thông dưới ô che nắng, qua đền Mahalaxmi – rồi đến đường Warden! Bể bơi Breach Candy! Và kia, nhìn kìa, các cửa hàng... nhưng tất cả đã đổi tên: còn đâu nữa Thiên Đường của Độc giả với hàng chồng truyện tranh Siêu nhân? Còn đâu, Tiệm giặt Band Box và hàng bánh kẹo Bombelli’s, với những thanh Sô Cô La Dài Cả Mét? Và, lạy Chúa, nhìn kia, trên đỉnh quả đồi hai tầng nơi những biệt thự của William Methwold từng đứng dưới vòm hoa giấy và kiêu hãnh nhìn ra biển... nhìn nó đi, con quái vật khổng lồ da hồng hình tòa nhà, ngọn tháp chọc trời sắc đào của đám đàn bà nhà Narlikar, lừng lững đứng đó và xóa sổ hoàn toàn vòng xuyến của tuổi thơ…phải, đây là Bombay của tôi, mà cũng không-phải-của-tôi, bởi vì khi đến Kemp’s Corner, chúng tôi thấy biển quảng cáo cậu bé rajah của Air- India với Thằng nhóc Kolynos đã biến mất, biến mất mãi mãi, và bản thân Thomas Kempand Co. cũng đã tan biến vào hư không... cầu vượt chằng chịt mọc lên ở nơi, ngày xửa ngày xưa, thuốc được bán theo đơn và một tiểu tinh linh đội mũ diệp lục nở nụ cười sáng bóng với xe cộ qua lại. Rất đỗi bi thương, tôi lầm rầm trong hơi thở: “Giữ Răng Sạch và Giữ Răng Sáng! Giữ Răng Kolynos Cực Bóng Loáng!” Nhưng mặc cho tôi niệm chú, quá khứ vẫn không tái hiện; chúng tôi lạch xạch đi xuống đường Gibbs và xuống xe gần Chowpatty Beach.
Ít ra, còn có Chowpatty là chưa thay đổi mấy: một dải cát bẩn thỉu nhan nhản bọn móc túi, và ma cà bông, và những người bán rong channa-nóng-đây, hoặc kulfi và bhel-puri và chutter-mutter[5]; nhưng phải xuôi xuống Marine Drive tôi mới được thấy chiến tích của đội quân tetrapod. Trên vùng đất mà liên doanh Narlikar đã lấn được của biển, một bầy quái vật khổng lổ vươn thẳng lên bầu trời, mang những cái tên ngoại lai kỳ quái: OBEROI - SHERATON hét vào mặt tôi từ xa. Và còn đâu tấm biển neon Jeep?... “Đi thôi, Pictureji,” tôi nói sau một hồi lâu, ấp Aadam vào ngực, “Hãy đến nơi chúng ta cần đến và giải quyết cho xong đi; thành phố này đã bị thay đổi rồi.”
[5] Những đồ ăn vặt phổ thông ở Bombay: kulfi lã một loại kem nhiều sữa; bheh-puri là một món ăn nhẹ gồm bỏng gạo, mì xào giòn, hành tây và khoai tây; chutter-muttor là một kiểu xa lát rau của Ấn Độ.
Tôi biết nói gì về Câu lạc bộ Nửa đêm-Riêng tư? Rằng nó nằm dưới lòng đất, ở một địa điểm bí mật (song không bí mật với những anh bán trầu vạn sự thông); cửa ra vào, không ký hiệu; khách hàng, giới tinh hoa của thành Bombay.Còn gì nữa? À, phải rồi: chịu sự quản lý của một tay Anand “Andy” Shroff, doanh nhân vàplayboy, người hầu như ngày nào ta cũng thấy phơi nắng tại Khách sạn Sun ’n’ Sand trên Bãi biển Juhu giữa các minh tinh màn bạc và những bà hoàng bị truất ngôi. Xin hỏi quý vị: một người Ấn, tắm nắng? Nhưng hiển nhiên đây là chuyện rất bình thường, những quy tắc quốc tế của giới playboy phải được tuân thủ nghiêm ngặt, trong đó có điều khoản về việc phải sùng bái mặt trời mỗi ngày, tôi cho là vậy.
Tôi mới ngây thơ làm sao (vậy mà tôi từng nghĩ Sonny, đầu bẹp forcep, mới là thằng đơn giản!) - tôi chưa bao giờ nghĩ rằng trên đời có những chỗ như Nửa đêm-Riêng tư! Nhưng tất nhiên là có; tay nắm chặt những cây sáo và những sọt rắn, ba chúng tôi gõ cửa.
Có bóng người thấp thoáng, sau tấm lưới sắt nhỏ ở ngang tầm mắt: một giọng nữ ngọt ngào khe khẽ yêu cầu chúng tôi cho biết mục đích cuộc viếng thăm. Picture Singh tuyên bố: “Tôi là Người Đàn Ông Dụ Hoặc Nhất Thế Gian. Quý vị đang thuê một người dụ rắn khác biểu diễn tạp kỹ ở đây; tôi sẽ thách đấu với anh ta để chứng tỏ mình xuất sắc hơn. Tôi không đòi trả tiền cho việc này. Đó là, đội trưởng gái ạ, vấn đề danh dự.”
Lúc đó là buổi tối; Ngài Anand “Andy” Shroff, may mắn thay, đang có mặt. Và, để khỏi rườm lời: lời khiêu chiến của Picture Singh được chấp thuận, chúng tôi tiến vào nơi mà cái tên chưa gì đã làm tôi ít nhiều mất can đảm, bởi vì nó chứa chữ nửa đêm, và bởi vì những chữ viết tắt của nó đã từng hàm chứa thế giới bí mật của riêng tôi: M.C.C., có nghĩa là Metro Cub Club, và cũng từng chỉ Hội nghị Những đứa trẻ Nửa đêm[6], nhưng nay đã bị hộp đêm bí mật này tiếm đoạt. Nói tóm lại: tôi cảm thấy bị xâm phạm.
[6] Tên tiếng Anh của câu lạc bộ này là Midnite-Confidential Club.
Hai vấn đề song hành của giới trẻ thành thị sành điệu: làm thế nào để tiêu thụ đồ uống có cồn ở một quốc gia cấm rượu; và làm sao để cua gái theo đúng kiểu Tây xịn nhất, nghĩa là bằng cách đưa các em đi ăn chơi đập phá, trong khi vẫn bảo đảm tuyệt đối bí mật, nhằm tránh nỗi ô nhục rất Á Đông của một vụ tai tiếng? Nửa đêm Riêng tư là giải pháp của Ngài Shroff cho những khó khăn day dứt này của giới trẻ lá ngọc cành vàng của thành phố. Dưới không gian ngầm của sự phóng đãng ấy, gã đã tạo ra một thế giới tối tăm như chốn u minh, đen như địa ngục; giữa không gian bí mật của bóng tối nửa đêm, các tình nhân của thành phố gặp nhau, uống rượu, và yêu đương; được bao bọc trong màn đêm cách biệt, nhân tạo, họ mơn trớn nhau mà không bị trừng phạt. Địa ngục là huyễn tưởng của nhân loại: mọi truyền thuyết đòi hỏi ít nhất một kẻ phải sa xuống Jahannum, và tôi theo sau Picture Singh vào đêm đen như mực của Câu lạc bộ, ôm đứa con trai bé bỏng trên tay.
Chúng tôi được dẫn xuống trên một tấm thảm đen thăm thẳm - đen-của-đêm, đen như lời nói dối, đen-của-quạ, đen-của-thịnh-nộ, đen trong “ê này, thằng đen!”; tóm lại, một tấm thảm tối sẫm - bởi một nữ nhân viên với vẻ hấp dẫn nhục cảm mê hồn, với tấm sari gợi tình vấn trễ ngang hông, một đóa hoa nhài cài trên rốn; nhưng khi tiến sâu vào bóng tối, cô quay sang chúng tôi và nở nụ cười trấn an, tôi nhận ra rằng cô nhắm mắt; một đôi mắt long lanh kỳ dị đã được vẽ lên mí mắt cô. Tồi nhịn không nổi phải hỏi, “Vì sao...” Cô đáp lại, đơn giản: “Tôi bị mù; và hơn nữa, không ai đến đây muốn bị nhìn thấy. Ở đây là một thế giới không diện mạo hay tên tuổi; ở đây con người không có ký ức, gia đình, hay quá khứ; nơi đây là cho hiện tại, và chỉ hiện tại mà thôi.”
Và bóng tối vây phủ chúng tôi; cô dẫn chúng tôi qua hố thẳm ác mộng ấy, nơi ánh sáng bị gông cùm và xiềng xích, cái nơi nằm ngoài thời gian, cái chốn phủ nhận lịch sử ấy... “Ngồi đây,” cô nói, “Người dụ rắn kia sẽ sớm có mặt. Khi đến lúc, một ngọn đèn sẽ rọi vào các anh; lúc đó hãy bắt đầu cuộc đấu.”
Chúng tôi ngồi đó trong - bao lâu? vài phút, vài giờ, vài tuần? - và trong đêm lóng lánh ánh mắt của những cô gái mù dẫn những vị khách vô hình vào chỗ ngồi; và dần dà, trong bóng tối, tôi bắt đầu ý thức được: vây quanh mình là những xì xầm se sẽ, đê mê như thể một đàn chuột nhung đang giao phối; tôi nghe tiếng leng keng của ly tách trên những cánh tay xoắn xuýt vào nhau, tiếng cọ xát dịu dàng từ những đôi môi; với một tai lành và một tai điếc, tôi nghe thấy âm thanh của dục tình cấm kỵ tràn ngập bầu không khí nửa đêm... nhưng không, tôi không muốn biết điều gì đang xảy ra; mặc dù mũi tôi có thể ngửi thấy, trong cái lặng lẽ xì xầm của hộp đêm, đủ thể loại câu chuyện và khởi đầu mới, đủ loại ái tình lạ lẫm và cấm kỵ, và những mâu thuẫn vụn vặt vô hình và kẻ-nào-đang-đi-quá-xa, nghĩa là đủ thứ chuyện ngồi lê đôi mách sốt dẻo, tôi quyết định phớt lờ tất cả, bởi vì đây là một thế giới mới, và tôi không có chỗ đây. Tuy nhiên, con trai tôi. Aadam, ngồi cạnh tôi với đôi tai nóng rực lên vì hứng thú; mắt nó sáng lên trong bóng tối trong khi nó lắng nghe, và ghi nhớ, và học hỏi… thế rồi ánh sáng bừng lên.
Một luồng sáng duy nhất đổ xuống thành một quầng sáng trên sân Câu lạc bộ Nửa đêm-Riêng tư. Từ bóng đêm nằm ngoài phạm vi vùng ánh sáng, Aadam và tôi trông thấy Picture Singh ngồi cứng đờ, chân khoanh lại, cạnh một thanh niên đẹp trai đầu vuốt Brylcreem[7]; xung quanh mỗi người là nhạc cụ và những chiếc sọt đậy kín của môn nghệ thuật họ sắp trình diễn. Có tiếng loa thông báo: trận đấu huyền thoại giành danh hiệu Người Đàn Ông Dụ Hoặc Nhất Thế Gian sắp bắt đầu; nhưng có ai lắng nghe? Thậm chí, có ai buồn chú ý đến họ, hay tất cả đều đang mê mải với môi lưỡi tay? Đây là tên đối thủ của Pictureji: Tiểu vương xứ Cooch Naheen.
[7] Một loại dầu bóng vuốt tóc xuất xứ từ Anh.
(Tôi không biết: tự đặt danh hiệu là việc chẳng khó khăn gì. Nhưng có lẽ, có lẽ anh ta đích thực là cháu nội của vị Quận chúa từng một thời, lâu lắm rồi, là bạn của Bác sĩ Aziz; có lẽ hậu nhân của người-ủng-hộ-con-Chim-ngân-nga đã được cử ra thi đấu, trớ trêu thay, với người lẽ ra đã có thể trở thành Mian Abdullah thứ hai! Không loại trừ khả năng này: không ít tiểu vương đã lâm cảnh bần hàn từ khi mụ Góa phụ xóa tên họ trong danh sách được chính phủ trả lương.)
Họ đã quyết đấu bao lâu, dưới lòng hang không ánh mặt trời ấy? Hàng tháng, hàng năm, hàng thế kỷ? Tôi không biết nữa: tôi chứng kiến, như bị thôi miên, cảnh họ nỗ lực vượt lên đối thủ, mê hoặc đủ mọi loại rắn con người có thể hình dung ra, yêu cầu mang đến những loài rắn hiếm từ trại rắn Bombay (nơi Bác sĩ Schaapsteker từng...); và anh chàng tiểu vương ngang tài với Picture Singh ở từng loại rắn, thậm chí dụ được cả trăn, điều từ trước đến giờ chỉ có Picture làm nổi. Dưới cái Hộp đêm hỏa ngục ấy, nơi bóng tối là một khía cạnh trong nỗi ám ảnh của chủ nhân với màu đen (nguyên nhân khiến gã tắm nắng ở Sun ’n’ Sand cho da ngày một đen hơn), hai nghệ sĩ bậc thầy thúc bách lũ rắn thực hiện những màn trình diễn không tưởng, bắt chúng tự thắt nút, cúi đầu chào, thuyết phục chúng uống nước từ ly đựng rượu, và nhảy qua vòng lửa... thách đố sự mệt mỏi, cái đói và tuổi tác, Picture Singh thi thố màn trình diễn của đời anh (nhưng liệu có ai xem? Bất cứ một ai?) - và sau cùng rõ ràng người trẻ hơn đang xuống sức trước; rắn của anh ta không còn nhảy múa nhịp nhàng theo tiếng sáo; và cuối cùng, bằng một tuyệt chiêu nhanh đến mức tôi không kịp hiểu điều gì vừa diễn ra, Picture đã thắt một con hổ mang chúa quanh cổ chàng tiểu vương.
Lời Picture nói: “Nhận thua đi, đội trưởng, nếu không ta sẽ bảo nó cắn.”
Trận đấu kết thúc ở đó. Vị tiểu vương bị nhục rời Câu lạc bộ và sau đấy có tin anh ta đã tự sát bằng súng trên taxi. Và trên sàn đấu của trận chiến vĩ đại cuối cùng của anh, Picture Singh đổ sập xuống như một gốc bồ đề gục ngã... các nữ tiếp viên mù (tôi gửi Aadam cho một người trông hộ) giúp tôi khiêng anh rời hiện trường.
Nhưng Nửa đêm-Riêng tư còn một trò chơi khăm nữa giấu sau tay áo. Một lần mỗi đêm - như một chút gia vị rắc thêm - ngọn đèn pha di động tìm đến một trong những cặp đôi cấm kỵ, rồi phơi bày họ dưới ánh mắt ẩn kín của những người đồng hội: một dạng Cò quay Nga[8] phát quang, không nghi ngờ gì nữa, làm cuộc sống thêm phần kích thích với giới trẻ thời thượng của thành phố... và đêm đó ai là nạn nhân bị rọi trúng? Ai, sừng-thái-dương mặt nhọ mũi dưa chuột, bị nhận chìm trong luồng ánh sáng tai tiếng? Ai, bị lòa như các nữ tiếp viên bởi luồng mắt thị dâm của những bóng đèn, suýt nữa đánh rơi chân người bạn đang bất tỉnh?
[8] Một trò chơi may rủi chết người bằng súng lục ổ quay. Trong ổ đạn sẽ chỉ lắp một viên, mỗi người chơi đến lượt mình sẽ quay ổ đạn rồi cầm súng tự bắn vào đầu mình.
Saleem trở về thành phố chôn rau cắt rốn để đứng dưới ánh đèn trong một căn hầm, trong khi dân Bombay rúc rích cười gã từ trong bóng tối.
Một cách mau chóng, vì ta đã đến đoạn kết của những tai biến, tôi ghi lại rằng, trong một căn phòng hậu trường, nơi được phép bật đèn, picture Singh hồi tỉnh từ cơn ngất; và trong lúc Aadam ngủ ngon lành, một trong những nữ phục vụ mù dọn cho chúng tôi bữa ăn mừng thắng lợi và hồi sức. Trên bàn tiệc khải hoàn là samosa, pakora, gạo, dal, puri; và chutney xanh. Phải, một bác nhôm nhỏ chutney, xanh, lạy Chúa, xanh như châu chấu... và nhoáng cái một chiếc puri đã nằm trong tay tôi và chutney đã ở trên puri; và tôi đã nếm một miếng, và suýt nữa tái diễn màn ngất xỉu của Picture Singh, bởi vì nó đã đem tôi về lại cái ngày tôi ra viện với chín ngón tay và bước vào kiếp lưu đày ở nhà Hanif Aziz, và được cho ăn thứ chutney ngon nhất trần đời... mùi chutney này không chỉ là sự đồng vọng của một mùi vị xa xưa - nó chính là mùi vị của ngày xưa, đích thị mùi vị ấy, với sức mạnh đem quá khứ trở về như thể nó chưa bao giờ xa khuất... trong cơn kinh hỉ của niềm phấn khích, tôi túm chặt tay người nữ phục vụ mù; khó khăn lắm mới kiềm chế nổi bản chân, tôi bật ra: “Món chutney! Của ai làm?” Chắc tôi đã thét lên, bởi Picture, “Yên nào, đội trưởng, cậu làm thằng bé dậy mất... mà làm sao thế? Trông cậu như vừa nhìn thấy hồn ma kẻ thù đáng sợ nhất ấy!” Và, người nữ phục vụ mù, có chút lạnh lùng: “Cậu không thích món chutney à?” Tôi phải ghìm lại một tiếng gầm dữ tợn. “Tôi thích chứ,” tôi nói bằng cái giọng bị nhốt trong lồng sắt, “Tôi thích chứ! - giờ cô hãy cho tôi biết nó từ đâu đến?” Và cô ta, kinh sợ, bồn chồn muốn bỏ đi: “Là Rau quả dầm Braganza; ngon nhất Bombay, ai cũng biết.”
Tôi bảo cô đem cho tôi cái lọ; và kia, trên bao bì, là địa chỉ: của một tòa nhà với vị nữ thần neon nhấp nháy màu nghệ-và-xanh trên cổng, một nhà máy được sự bảo hộ của Mumbadevi huỳnh quang, trong khi những đoàn tàu nội hạt chạy vàng-và-nâu qua: Công ty TNHH (Tư nhân) Rau quả dầm Braganza, ở khu đô thị hóa Bắc thành phố.
Một lần nữa, một câu Abracadabra, một câu Vừng ơi mở ra: những chữ in trên một lọ chutney, đã mở ra cánh cửa cuối cùng của đời tôi... Tôi bị bóp nghẹt bởi một quyết tâm không gì cưỡng nổi là tìm ra tác giả của thứ chutney không tưởng của ký ức này, và nói, “Pictureji, em phải đi...”
Tôi không rõ chuyện của Picture Singh kết thúc ra sao; anh từ chối đi cùng tôi trong cuộc truy tìm này, và trong mắt anh tôi nhận ra rằng những nỗ lực chiến đấu đã làm tan vỡ một điều gì đấy trong anh, rằng chiến thắng của anh là, kỳ thực, một thất bại; nhưng liệu anh vẫn ở Bombay (có lẽ làm thuê cho Ngài Shroff), hay đã trở về với mụ thợ giặt của anh; liệu anh còn sống hay đã chết, tôi cũng không biết nữa... “Làm sao em bỏ anh được?” tôi hỏi, trong tuyệt vọng, nhưng anh trả lời, “Đừng ngốc thế, đội trưởng. Cậu đã có chuyện phải làm, thì chẳng có cách gì khác mà phải làm thôi. Đi đi, tôi cần gì cậu chứ? Như mụ Resham vẫn bảo cậu ấy: đi, đi mau đi!”
Mang Aadam theo cùng, tôi đi.

