35. Nỗi Bất Hạnh Đời Tôi (Thùy Nhiên)
Chuyện Kể Hành Trình Biển Đông
Nỗi Bất Hạnh Đời Tôi
Thùy Nhiên
Đôi lời vào truyện:
Tôi tên Nguyễn Bá Quang, là một sĩ quan QLVNCH cấp bậc
Đại Úy thuộc đơn vị 101 P2-Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Ở tù Cộng sản Việt Nam tại
trại tù Tiên Lãnh, Quảng Nam, Đà Nẵng suốt hơn mười hai năm. Qua Mỹ với diện
H.O.5 năm 1991. Hiện cư ngụ tại Rếda, Califonia. Trong thời gian tôi ở tù chưa
được thả, gia đình vợ con tôi vượt biển tìm tự do tại Cà Mau, tỉnh Minh Hải.
Trong chuyến vượt biển hãi hùng ngày 22-2-1985 vợ và sáu người con trai của tôi
đã bỏ xác trên biển cả vì bọn hải tặc làm đắm thuyền. Ngoài ra còn có cả nhạc
phụ của tôi và các em vợ cùng các cháu đã chết một cách tức tưởi trên chuyến
tàu đau thương ấy. Chỉ còn sống sót người con gái yêu thương của tôi tên Thùy
Nhiên và dì ruột của cháu là Phạm Thị Sa. Năm 1975 mất nước con gái tôi mới có
tám tuổi, khi Cộng Sản Bắc Việt chiếm miền Nam chúng dọa nạt, đầy ải gia đình
của các sĩ quan QLVNCH đi cải tạo tại các trại lao động khổ sai. Vợ con tôi
phải đi kinh tế mới tại Cà Mau, Minh Hải, việc học hành khó khăn, cháu chỉ học
tới lớp bảy rồi phải bỏ lỡ dở đi buôn cá tại vùng ven sông thuộc Cà Mau để kiếm
tiền nuôi gia đình và các em trai còn nhỏ tiếp tục đi học, vì thế nên cháu chỉ
có thể thuật lại “Nỗi bất hạnh của đời tôi” một cách trung thực. Là ba của cháu
tôi cũng chỉ sửa những lỗi văn phạm, chính tả. Qua sự thúc bách của tôi, cháu
mới có thể thuật lại câu chuyện thương tâm, vì mỗi lần nhớ lại những cảnh đau
thương tang tóc của gia đình thì cháu đâm thẫn thờ, ngơ ngẩn hết mấy ngày, và
lòng tôi cũng quặn đau vô vàn. Hiện cháu đã lập gia đình và sống với chồng con
tại Úc.
* Viết để kính dâng linh hồn mẹ Phạm Thị Khanh, Ông
ngoại Phạm Văn Đình, Cậu Phạm Văn Tiếng, các Anh: Nguyễn Bá Liêm, Nguyễn Bá
Chương, Nguyễn Bá Long, cá em, Nguyễn Bá Phú, Nguyễn Bá Đạt, Nguyễn Bá Hoài,
Chú nguyễn Văn Dậu, các em con dì Nguyễn thị Minh Châu, Nguyễn thị Minh Xuân,
Nguyễn Minh Toàn, và Linh mục Hồ Quang Liêm, chú Hồ Quang Lập và các anh bà con
với cha Liêm mà tôi không nhớ tên.
* Viết cho Ba là Nguyễn Bá Quang, ba và con cùng NỔI
BẤT HẠNH trên cuộc đời này.
Sau bao tháng ngày mẹ và các
anh chuẩn bị ghe thuyền, từng can dầu, gom góp từng gói lương khô như gạo sấy,
thuốc men v.v... một cách bí mật. Ông ngoại, gia đình bà dì ruột, gia đình của
cha Liêm, từng tốp, từng tốp len lỏi trong đêm tối lần lượt đến điểm tập trung
tai bãi Đá Bạc, Cà Mau thuộc tỉnh Minh Hải.
Tất cả chúng tôi yên lặng lên
thuyền, gồm có hai mươi hai người đã có mặt đầy đủ. Tiếng nổ giòn của máy lướt
sóng ra khơi, mọi người chúng tôi nín thở hồi hộp.
Qua mấy giờ lầm lũi chạy
trong đêm, trời đã sáng, ánh nắng chan hòa, chúng tôi đã rời khỏi hải phận Việt
Nam, mọi người thở ra nhẹ nhỏm, vui mừng, bồi hồi xúc động vì đã thoát qua được
chặng đường đầu đầy nguy hiểm và bất trắc nhất, vì nếu chẳng may mà bị Việt
Cộng bắt lại, thì bị tù tội, tịch thu tài sản, tất cả đều mất sạch. Niềm vui
thoát được khỏi bọn công an Việt Cộng đang miên man trong đầu óc mọi người,
bỗng nhìn đằng xa có chiếc tàu lớn hiện ra, tim tôi đánh thình thịch, tàu của
ai đây? Của Cộng Sản hay của thế giớ tự do? Càng lại gần thì càng hồi hộp, một
thoáng chán nản và sợ sệt hiện rõ trên nét mặt mọi người khi nhìn rõ màu cờ máu
Liên Xô. Thuyền của chúng tôi cố ý lái chệch hướng chiếc tàu lớn, cứ thế tiến
thẳng, đã qua thêm một sự nguy hiểm, và cũng vì thế thuyền đã chệch hướng đi
như ban đầu đã định trước của mình. Chạy thêm vài giờ nữa thì đằng trước hiện
lên một chiếc thuyền đánh cá treo cờ Việt Cộng (cờ đỏ sao vàng), bên hông tàu
thấy hai chữ Kiên Giang, giây phút trọng đại, mọi người như nín thở, từ thuyền
bên kia phát loa yêu cầu thuyền chúng tôi ngừng lại để cho họ kiểm soát.
Không thể để bị bắt, rồi phải
ngồi tù, tài sản bị mất sạch, nên thuyền chúng tôi quyết định mở hết tốc lực.
Một loạn đạn AK nổ dòn bắn về phía chúng tôi, tái công lúc đó là anh Hai Liêm
của tôi bị thương ở cánh tay, mẹ bị thương ở bả vai, ông ngoại bị thương nhẹ ở
đầu. Thuyền bắt buộc phải ngừng lại. Tất cả bàng hoàng chờ đợi những gì xấu
nhất sắp xảy ra. Thuyền Kiên Giang là thuyền đánh cá nhưng có cán bộ Việt Cộng,
công an mang theo súng, bọn chúng bước qua thuyền chúng tôi lục soát từng người
một kể cả những em bé ba, bốn tuổi, tịch thu một số vàng và tiền bạc (đô la) mà
mọi người mang theo, chúng lấy một máy lớn của thuyền chúng tôi và dọa sẽ đưa
trở lại vào bờ giao công an địa phương “xử lý”. Ông ngoại tôi là người lớn tuổi
nhất trong thuyền, ôm vết thương còn chảy máu trên đầu loang xuống mặt, cố gắng
năn nỉ giải thích: “Các anh cho chúng tôi đi, nếu đưa chúng tôi trở lại bờ Việt
Nam thì các anh chẳng có lợi gì cả, chúng tôi bị tù tội, tiền, vàng của các anh
vừa tịch thu thì cũng phải giao nạp cho công an thôi.” Sau đó bọn họ cho chúng
tôi đi, và chỉ hướng cho tàu chạy.
Còn lại một máy nhỏ, thuyền
tiếp tục chạy một cách nặng nhọc, chậm chạp lướt sóng tiến về vùng biển Thái
Lan. Chạy được một giờ đồng hồ nữa thấy có một chiếc thuyền giống thuyền đánh
cá xuất hiện, khi chiếc thuyền này tiến lại gần không thấy treo cờ nước nào cả,
nhưng dấu hiệu trên mạn thuyền được bôi lem, chạy với tốc độ nhanh rồi quay đầu
chặn ngang thuyền chúng tôi. Đã trải qua nhiều hiểm nguy, lần này tôi hồi hộp
và lo sợ, tất cả như nín thở, những đứa nhỏ cũng biết được những gì quan trọng
sắp xảy ra nên chúng ngồi thu mình vào thành ghe im re trông thật tội nghiệp.
Tất cả không một tiếng động.
Tiếng nói ở thuyền bên kia là
một tiếng lạ không ai hiểu gì, lúc đó cha Liêm là người biết tiếng Anh nói xin
họ giúp đỡ. Toán người kia như không nghe biết, với cử chỉ hung hăng dữ tợn,
cặp vào thuyền chúng tôi la hét lục soát từng người một. Một lần nữa vơ vét sạch
những gì tàu Kiên Giang Việt Cộng vơ vét còn sót lại. Thấy kết quả lục soát
chúng chẳng được là bao, chúng đi tìm những bộ mặt một, nhất là nhìn chằm chằm
vào những người đàn bà con gái. Mẹ tôi còn trẻ đẹp nhưng vừa bị thương mất máu
co ro, mặt mày tái mét nên chúng bỏ qua không để ý tới. Chúng đến gần tôi và
chị H, bạn gái của anh Hai, chúng liền nắm áo chúng tôi kéo qua thuyền chúng
nó.
Trước cảnh dã man này mấy anh
tôi không kềm hãm được nên đã có phản ứng bênh vực em mình (tôi lúc đó mới được
mười tám tuổi, cô kia xấp xỉ tuổi tôi hoặc lớn hơn một tuổi) nên đã la ó phản
đối. Mẹ tôi cúi lạy xin chúng tha. Ông ngoại, cha Liêm năn nỉ nài nỉ chúng
chẳng nghe. Chúng đẩy chúng tôi qua thuyền chúng. Phẫn uất trước hành động tàn
bạo này, mấy anh tôi đánh trả lại chúng. Chúng rút súng lục ra uy hiếp và chế
ngự mấy anh. Lúc đó chúng lôi chúng tôi xuống nhốt dưới hầm tàu tối đen. Từ đó
không hay biết chi nữa những việc xảy ra bên ngoài.
Sau khi bắt chúng tôi, chúng
nổ máy cho tàu chạy, sau đó quay trở lại đâm vào thuyền chúng tôi làm vỡ
thuyền, thuyền chìm, chuyện xảy ra tôi sẽ kể tiếp phần sau khi tôi gặp lại
người dì ruột tại trại Song La.
Ngồi trong hầm tàu tối đen mà
lòng tan nát, tôi chấn tĩnh mình bằng lới cầu nguyện với Đức Trinh Nữ Maria,
hiện ra trước mặt tôi là hình ảnh của mẹ, các anh, em tôi và ba tôi. Ba mẹ, các
anh em tôi giờ đây trên biển cả mênh mông đã trôi dạt về đâu rồi? Đã được tàu
của thế giới tự do vớt chưa? Ba tôi trong trại tù Cộng Sản tại trại Tiên Lãnh,
Quảng Nam Đà Nẵng, ba là sĩ quan QLVNCH ở tù mười năm rồi tương lai sẽ ra sao
đây. Tôi nhớ hết những người thân thương, đầu óc tôi rối bời như có trăm ngàn
mũi kim nhọn đâm vào quả tim bé nhỏ của tôi tan nát. Chưa bao giờ tôi nghĩ đến
hoặc tưởng tượng ra hoàn cảnh mà tôi phải gánh chịu như hôm nay. Nước mắt tràn
đầy ra má mà chẳng hay biết gì, nước mắt đã làm dịu cơn khủng hoảng của tôi.
Một niềm hy vọng lóe lên trong đầu, chắc mẹ và các anh em của mình còn sống sẽ
được tàu vớt, sẽ vượt qua nguy hiểm để đến bến bờ tự do và mình sẽ được gặp lại.
Ở trên tàu của bọn cướp được
vài hôm, chúng chuyển tôi qua tàu đánh cá thứ hai, còn chị H. thì ở lại trên tàu
của chúng nói tiếng Thái với nhau tôi không hiểu một tí gì cả chỉ biết cảm nhận
theo linh tính của mình, thấy tàu này chuyên lo đánh cá, chắc là họ vừa đánh cá
vừa làm hải tặc ăn cướp chăng? Một tuần sau chúng lại chuyển tôi qua tàu khác,
cứ thế lênh đênh trên biển cả qua ngày thứ năm mươi mốt, ngày này chúng chuyển
qua một tàu khác nữa, người trên tàu có vẻ hung tợn dữ dằn hơn những chiếc tàu
trước đây.
Vào khoảng nửa đêm một tên
đàn ông vào kéo tôi dậy, nhìn cặp mắt nó, thấy dễ sợ như muốn ăn tươi nuốt sống
tôi. Người tôi run bần bật, miệng thầm đọc kinh xin ơn trên phù hộ cứ giúp.
Chúng nó sờ mó và bắt cởi hết quần áo, chúng nói gì với nhau tôi không hiểu,
chỉ biết kẹp hai chân cứng lại, hai tay ôm chặt lấy ngực, và nhìn vào vết thẹo
nổi đỏ trên cánh tay tôi. Lúc nhỏ khoảng hai tuổi bị tai nạn phỏng dầu làm
đường đến năm mươi phần trăm khi chữa lành vẫn còn vết thẹo luôn ửng đỏ. Không
biết ai xui khiến cho tôi cứ nhìn vào vết thẹo ấy và kêu la thảm thiết. Bọn
chúng nói với nhau những điều gì, tôi cảm nhận như chúng e ngại về vết thẹo của
tôi là bị bệnh phong cùi gì chăng? Sau khi bàn bạc chúng đã xô tôi xuống biển
không cho một vật gì có thể trôi nổi trên mặt biển.
Nước lạnh làm tỉnh hẳn người,
tôi đã thoát qua những bàn tay con quỷ dữ, cố gắng vợi hai chân để người mình
nổi lên trên mặt nước (ở Cà Mau tôi sống bên sông nên bơi lội cũng khá giỏi.
Trên biển giữa đêm đen, có gì ghê rợn bằng. Tôi cố sức mình chống chọi với bao
ý nghĩ bi thương, bản năng sinh tồn lại đến với tôi mãnh liệt, tôi kêu xin mẹ
Maria bổn mạng hãy cứu giúp tôi. Một lần nữa hình ảnh của mẹ, anh, em và ba tôi
ở trại cải tạo lại hiện ra như khuyến khích tôi hãy ra sức cố gắng chống chọi
với tử thần để ráng sống may đau có người cứu vớt. Vì thế mà đã qua được năm
tiếng đồng hồ dưới biển lạnh.
Trời đã hừng đông, một tia hy
vọng đến với tôi, nhưng người càng ngày càng bị lạnh cóng, sắp sửa không chịu
đựng nổi nữa rồi, thì may thay, nghe có tiếng động cơ của thuyền chạy đến. Tôi
cố giơ tay lên nhưng thân hoàn toàn cóng cứng, rất may trên thuyền nhìn thấy,
dừng thuyền lại và vớt tôi lên. Nguyện xin đây là một chiếc thuyền làm ăn lương
thiện để tôi còn được sống an bình. Thật quả như lòng mong ước, tôi được những
người này săn sóc tận tình, cho quần áo để mặc, cho ăn uống đàng hoàng và dùng
máy vô tuyến gọi police (cảnh sát) Thái cho tàu ra đón tôi vào bờ và đưa đến
trại Song La và đến trại Sikiw.
Hằng ngày ở trại, cô đơn lạc
lõng, thân gái dặm trường, hằng đêm nguyện cầu cho lòng vơi đi ít niềm đau.
Mong chờ mẹ, anh em sẽ đến với mình, nhưng càng ngày càng thấy bặt tăm vô âm
tín, lòng buồn rười rượi. Mỗi khi có người mới nhập trại tôi thường đến để cầu
mong gặp người thân. Hôm nay bất thần tôi thấy dì Sa - em mẹ thất thểu bước vào
trại, dì cháu gặp lại nhau, nước mắt tuôn trào như mưa, và dì đã kể lại những
gì xảy ra kế tiếp khi tôi bị hải tặc bắt qua tàu của chúng.
“Sau khi bọn hải tặc bắt con
và H qua tàu của chúng. Vì không chịu nổi những uất ức các anh con đã phản ứng
mãnh liệt đánh lại chúng nó. Nhưng chúng có súng, nên các anh con đánh thúc
thủ. Chúng lồng lộn lên lục soát nát bét trên tàu, bắt mọi người cởi bỏ hết
quần áo chỉ cho mặc một quần lót mỏng, lấy hết những gì còn lại trên tàu, rồi
rú máy cho tàu chạy.
Mọi người chư kịp hoàn hồn
thì thấy tàu hải tặc quay đầu trở lại, và chạy rất nhanh đâm thẳng vào hông
thuyền của mình đánh rầm, thuyền vỡ làm đôi, một số người văng xuống biển. Đồ
vật nặng chìm xuống nước, những vật nhẹ nổi lềnh bềnh. Trong lúc hỗn loạn, mỗi
người đều bơi lội, vớ lấy can đựng dầu, đụng nước làm phao. Các anh con,
Chương, Long bơi vớt những tấm ván để kết làm bè, kèm lên phần thuyền cón lại
nổi trên mặt nước. Phần bè và thuyền nổi cho mẹ, dì, con của dì và Đạt, Hoài,
hai em con. Ông ngoại và anh Liêm đã ra đi trong lúc thuyền bị đánh chìm vì cả
hai đều bị thương.
Trời bắt đầu sập tối, nỗi
kinh hoàng xâm chiếm lòng người. Màn đêm đem đến sự sợ hãi cho mọi người trong
cảnh thập tử nhất sinh, lạnh đói và khát, nhưng vẫn cố gắng bu lấy bên nhau,
cùng nhau sống chết. Thấy các em con vì đói khát và lạnh, quá tội nghiệp nên
Chương liều bơi, lặn xuống lòng thuyền may ra tìm được nước uống hoặc thức ăn.
Nhưng đã lâu khong thấy Chương trở lại, mẹ và dì kêu gào thật lâu chẳng có
tiếng trả lời. Hễ người nào chịu không nổi buông tay ra là đi vĩnh viễn. Thấy
những người thân lần lượt ra đi, lòng mẹ và dì tan nát nhưng biết làm sao đây
hỡi trời, chỉ biết đọc kinh cầu nguyện Chúa, Mẹ cứu giúp, hộ phù. Phía bên kia
có Linh mục Hồ Quang Liêm và người em Hồ Quang Lập cùng mấy người bà con của
cha trong đêm đó cũng ra đi.
Ngày thứ hai kể từ ngày đắm
thuyền chỉ còn có dì, mẹ và mấy đứa nhỏ vì được ngồi trên bè, nên chống được sự
lạnh cóng. Mẹ con bị thương máu ra nhiều, không ăn, không uống nên người mệt lả
đi, hơi thở yếu dần, dì gọi mẹ không trả lời nổi, mẹ tức tưởi ra đi. Đạt, Hoài
hai em của con ôm mẹ khóc thảm thiết, dì đứt cả ruột gan. Các cháu cứ muốn giữ
mẹ lại bên cạnh không xa rời, dì khuyên nhiều lần các cháu mới chịu để mẹ con
xuống lòng đại dương. Còn lại con Châu, con Xuân của dì mềm người vì đói khát
lặng lẽ ra đi. Dì như người mất hồn, không còn biết gì nữa, đặt con mình xuống
nước cho dòng nước trôi xuôi, đau đớn vô cùng.
Ngày thứ ba chỉ còn lại dì, em
Đạt của con, mệt quá gục trên tấm ván, bỗng nó ngồi nhổm dậy nói: “Để con lấy
nước cho dì, con thấy có dòng suối trong xanh, nước ngọt lắm dì ơi” Nó định
bước xuống nước để đi Dì cầm tay nó kéo lại: “Con ơi không có đâu, đó chỉ là ảo
ảnh mà thôi, con ngồi xuống đây đọc kinh với với dì xin ngài ban phước”. Sau
khi kinh nguyện, yên tĩnh được một lúc, nó lại kêu lên khát nước quá dì ơi con
chịu hết nổi rồi. Dì nói trong vô thức hay con uống đại một hớp nước biển xem
có chống chọi được không? Sau khi uống một miếng nước vào bụng, tức thì cháu ôm
bụng rên la khủng khiếp, nước bọt trào ra nơi, nước bọt giống như bọt xà phòng
trào ra, trào ra, cháu lịm người dần và nằm bất động, người cuối cùng ở bên
cạnh dì cũng ra đi.
Còn lại một mình đang nằm chờ
chết dưới ánh nắng như thiêu như đốt bỗng thấy có đám mây đen kéo đến trời đột
nhiên dịu xuống, một vài giọt mưa rơi trên mặt dì, dì liếm từng giọt nước,
nhưng người dì đã kiệt sức không còn hay biết gì nữa cả. Khi tỉnh dậy thì thấy
mình đang nằm trên thuyền đánh cá của người Thái Lan. Theo tàu họ trên biển, mười
lăm ngày sau thì được đưa vào trại Batani, qua trại Song La và dì gặp con tại
đây.
Ôi! Những biến cố đó trong
đời tôi làm toi điên dại, sống dưới ánh nắng mặt trời mà như trong hang âm u.
Tôi đã mất mẹ, mất anh, mất em, mất ông ngoại, cậu, cháu và những người thân
yêu, mười tám người đã chết tức tưởi, bỏ mình trên biển cả đó là tất cả NỖI BẤT
HẠNH CỦA ĐỜI TÔI.
Mẹ ơi! Sao mẹ nỡ xa lìa con,
xa lìa ba, ba đã chịu bao nhiêu điều cay đắng tủi nhục trong ngục tù Cộng Sản.
Các anh ơi! Các em ơi! Tất cả đã xa lìa tôi, vĩnh viễn li biệt tôi một cách tức
tưởi: Khổ đau tột đỉnh, hận thành non cao. “Biển xa sóng lớn dạt dào, nhớ anh,
em, mẹ có ngày nào nguôi”.
Australia 12-2002
Thùy Nhiên

