33. Đồi Bông (Nguyên Sương)
Chuyện Kể Hành Trình Biển Đông
Đồi Bông
Nguyên Sương
Một hai ba, nhứt nhựt quá
tam, đã hai lần rồi ra đi không thoát, lần thứ ba này không thoát có nước về
nhà đi ăn mày, rồi đời sống sẽ ra sao, ngủ đình ngủ chợ, tương lai của đám con
về đâu, bạn bè ngoảnh mặt người thân lánh xa, sống vô gia cư như vậy một ngày
sẽ bị ruồng bỏ, không may mà bị bắt trở lại đưa về vùng kinh tế mới thì sẽ
làm ma mới rừng thiêng nước độc đó mà thôi.
Đã nhiều người lắm tiền
nhiều của năm bảy lần ra đi thất bại còn tiền về mua chuộc phường ấp
cho dù hồn ma cũng sống lại như chơi, còn bốn mẹ con chúng tôi kể từ
ngày trở về thành phố, sống coi như đã chết bởi vì không còn hậu
khẩu, tên tuổi đã bị cướp đi vào một đêm tối trời áp giải lên xe đưa
đến một nơi không thể sống được, đào tẩu trở về không nơi nương tựa,
tôi đã cắm lều che vải sống như kẻ du mục rày đây mai đó trong cảnh
màn trời chiếu đất làm bạn với đám cô hồn uổng tử trong các bãi
tha ma, đêm nào mưa gió nhiều tạt ướt đành phải ôm con ngồi chờ đến
sáng. Rồi không biết từ đâu đổ về càng ngày càng nhiều người đến
ở, cho nên đêm đêm thấy chập chờn thấp thoáng ở bãi tha ma nhiều oan
hồn sống lang thang giữa đêm trường đói rét.
Hồi chiều, người chủ tàu
báo cho tôi biết không còn chờ đợi được nữa, phải ra đi trước Tết sẽ
khởi hành vào đêm ba mươi mà hôm nay đã là hai mươi tám Tết rồi, vỏn
vẹn chỉ còn hai ngày nữa là tôi sẽ rời bỏ nơi này, tự nhiên tôi cảm
thấy bùi ngùi không như những lần ra đi trước kia, lòng nôn nao man mác
không biết nên buồn hay vui, mười phần chết chỉ còn một phần sống,
giao sinh mạng cả bốn mẹ con cho biển cả hỏi sao không hồi hộp, phần
lo đi không suông bị bắt nhưng thôi đến nước này thì đành phải đưa chân,
biết đâu trong cái chết tìm ra con đường sống.
Ông ta nói vợ chồng tôi
thương hoàn cảnh lam lũ của chị cho mẹ con chị theo chúng tôi, nhưng
lương thực chị phải lo phụ với chúng tôi, chúng tôi cũng đã hết sạch
bởi những lần đi thất bại, chúng đã nhớ mặt, nếu không may cho
chuyến đi này tôi bị bắt lại thì tôi chỉ có con đường chết, cho nên
mọi việc chị phải cẩn thận, ngày mai thực phẩm và con trai lớn của
chị theo tôi nằm dưới ghe trước, còn vợ tôi sẽ đón chị theo điểm
hẹn, nói xong ông ta vội lẩn nhanh vào bóng đêm. Còn lại mình tôi tần
ngần giữa trời tối. Mùi rong biển theo gió thoảng đưa vào bờ, tôi
hít vô lòng phổi để nghe mát rượi ngọt ngào yêu thương, nơi đây là quê
hương nơi tôi đã được sinh ra và lớn lên với những hàng tre già cao
ngất, thân thương những buổi hẹn hò đầu đời khi vừa tuổi trăng tròn mười
sáu, bao dấu yêu với kỷ niệm thời thơ dại, yêu đương nồng thắm người
chồng mà hằng đêm thường thức ghìm ta súng dõi mắt với quân thù, bao
nhiêu thương nhớ có lúc xót xa với kỷ niệm, mà ngày mai tôi sẽ rời
xa, trong một chuyến ra đi vô định chỉ có trời xanh mây nước, trong sự
sống chết may rủi để tìm một con đường sống cho bốn mẹ con chúng
tôi.
Sống dưới chế độ Cộng
Sản không có con đường nào khác hơn để lựa chọn biết rằng cầm chín
phần chết trong tay nhưng cũng phải ra đi, nước mất nhà tan, bao nhiêu
con rồng cháu tiên phải bồng bế nhau chạy ngược xuôi để tìm con đường
sống trong cái chết, mà loài vô thần đang chực vây quanh để thiêu hủy
nó đi, nghĩ đến điều đau thương đó tôi lần thần khấn nguyện xin ơn
trên hãy che chở cho chúng con, Chúa hãy ban phước lành nâng đỡ chúng
con qua vùng bóng tối đau thương này, tôi là người ngoại đạo nhưng tôi
xin có Chúa hằng cứu giúp, Chúa là đấng toàn năng, nếu trên con
đường con đi chẳng may có mệnh hệ nào, xin Chúa hãy ra ơn dìu dắt
những đứa con của con được bình yên đến bến bờ tự do.
Người bán hàng rong khuya
đánh thức tôi trở về thực tế, thì ra tôi ngồi nơi này đã lâu, đứng
dậy phủi hết lớp đất cát dính trên người, trở về túp lều mà bốn
mẹ con tôi tạm sống, đứa con trai lớn vẫn còn thao thức chờ tôi, nó
nói hôm nay con không bán được hết vé số nên không có tiền cho mẹ mua
gạo, con đã nấu mấy củ khoai ngày qua còn lại mẹ hãy ăn đi, tôi nức
nở, tội nghiệp con tôi, ôm nó vào lòng nghe mùi khét nắng trong tóc,
đôi chân nhỏ bé của nó đã phải lang thang khắp trong cùng ngõ hẻm để
kiếm sống, tuổi thơ của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa đây sao? Đâu
đâu cũng giăng đầy biểu ngữ nào hòa bình tự do hạnh phúc mà con tôi,
đứa con đầu đời với tình yêu tuyệt vời của tôi, nó đã khổ sở như
thế này đây! Tôi thầm nói, không nhất định là không, ngày mai con sẽ
không khổ nữa, mẹ phải tranh đấu để không thể lùi bước cho dù sự
sống ra đi là rất mong manh, nhưng cũng phải đi.
Nhớ người chủ tàu nói
lại lấy tiền đâu ra mua thực phẩm đây, tất cả có cái gì cũng đã
bán hết rồi từ hai đợt đi kỳ trước, chỉ ngoại trừ đôi bông còn sót
lại là chưa bán, đã có nhiều lần định bán để cho đám con no lòng trong
những ngày đói kém, nhưng tôi đã cố giữ nó lại không bán đi, bỏi lẽ
tình yêu kỷ niệm của người chồng thân yêu, mà mãi sau ngày cưới anh
mới kể cho tôi nghe rằng gia đình anh nghèo cưới em anh phải bán chiếc xe
đạp cộng thêm tiền dạy kèm mỗi đêm mới đủ mua đôi bông cho tôi trong
ngày cưới, cho nên đã bao nhiêu năm tháng với đời sống khó khăn tôi
cũng không nỡ bán nó, tôi trân trọng tấm tình yêu của anh đã chắt chiu
cho tôi, nhưng đến hôm nay tôi không thể giữ nó được nữa, phải bán nó
đi để cho cục diện ngày mai, ít nhiều gì có còn hơn không, đám con
anh cần sống, em phải bán nó đi, kỷ niệm của tình anh, làm sao em
không khỏi đau lòng xót xa nhớ đến ngày anh phải cuốc bộ nhiều cây số
để làm thêm mới đủ. Bởi vì vườn hồng vừa hé nụ vương hoa kết trái,
rồi thời gian thấm thoát chưa được bao lâu, đứa con đầu lòng chưa ra
đời, thì có lệnh tổng động viên, anh phải lên đường nhập ngũ. Tình yêu
của chúng mình ngày ấy chưa thấm màu thì đã phải chia xa, anh vào
Thủ Đức, tình yêu cũng xa dần từ dạo đó. Rồi sau đó một năm họa hoằn
về phép được vài ngày lại vội vã ra đi khi mà cuộc chiến ngày càng
khốc liệt. Anh nói anh không thể bỏ bạn bè chiến đấu cho dù ngày mai
anh không biết sự sống còn ra sao, cho nên anh vội vã.
Rồi những đứa con tình
yêu của chúng tôi cũng vội vã theo thời gian lần lượt ra đời. Anh nhớ
ngày đó chỉ còn kỷ niệm đôi bông ngày cưới và cuối cùng là chiếc
áo, với tấm thẻ bài mà người bạn cùng khóa mang về, ngày ấy tôi
đã khóc ngất lên ngất xuống. Thế là hết! Anh đã chối bỏ cuộc sống
xa lìa tình yêu của tôi, của người vợ trẻ đang độ tuổi thanh xuân
đương độ, mà đêm đêm với giấc ngủ chập chờn khi nghe tiếng súng xa
vọng về.
Ngày đó tôi còn nhớ lần
về phép cuối cùng như một điều chẳng lành báo trước, đêm cuối cùng
của ngày phép. Tay gối đầu, hai đứa tôi yên lặng bên nhau, qua khung
cửa ánh trăng buồn treo lơ lửng soi xuống trần thế đau thương như cuộc
tình sắp chia xa của chúng tôi, chiến tranh thật là tàn ác, nó làm
chia lìa và ly tan, tang thương giày xéo đổ lên đầu người dân Việt từ
đời này qua đời khác. Nằm trong vòng tay êm ấm của anh tôi ấm ức, anh
dỗ dành nói chiến tranh là vậy, mình phải hy sinh không thể sống
riêng tư cho mình được, rồi tiếp tục nói: “Lỡ mai anh không về, em hãy đem
con về quê nhờ mẹ mà nuôi con cho khôn lớn”. Đó là lời cuối cùng anh để lại cho
tôi. Nhưng anh biết không lời của anh khi miền Nam vẫn còn là miền Nam, chứ
Cộng Sản chiếm cứ rồi thì thôn quê hay thành thị đều giống nhau.
Rồi không như anh tưởng, miền
Nam thật sự thất thủ. Người dân biết được mặt thật của Cộng Sản thì đã quá trễ
vì cá đã vào rọ. Đêm đêm loa phóng thanh hội họp người dân rời thành phố để đi
xây dựng vùng đất hứa hẹn. Mang danh là vợ Ngụy quân cộng thêm tội buôn bán
trái phép, tên tôi đứng đầu sổ để ra đi đến vùng kinh tế mới mà thời gian ở đó
tôi còn nhớ là một vùng khô cằn sỏi đá cây còn mọc không được thì làm sao khoai
có củ. Nhà ở thì không ra nhà, lá thì không ra lá, tôi còn nhớ tôi chắp vá bất
cứ thứ gì có thể chắn gió che mưa, đêm nào trời giông gió nhiều, thổi lạnh buốt
xương không tài nào chịu được. Phần bụng đói, nhìn con trong giấc ngủ hồn
nhiên, lòng tôi quặn thắt, tôi muốn khóc nhưng không sao khóc được, mà nếu có
khóc có lẽ sẽ là máu trong nước mắt. Tôi thấy mình nhỏ bé và cô thế quá, biết
về đâu, biết ai đây, không ai. Tôi nghĩ đến Chúa, chỉ có Chúa mới có quyền năng
dắt mẹ con chúng tôi ra khỏi địa ngục đọa đày này, cho nên ngày ấy tôi đã cầu
nguyện hàng giờ khi ảnh vật im lìm chìm vào giấc ngủ, chỉ còn nghe xa xa tiếng
chim rừng vọng đến trong đêm trường cô tịch não nùng cho những kẻ đang đói
lòng.
Rồi ngày ấy, trời bắt đầu
chuyển sang mùa đông, mưa phùn lất phất, tôi nhớ đã đếm đầu ngón tay gần một
tháng hơn chờ tiếp tế lương thực nhưng vẫn chưa thấy, như lời hứa suông, không
khác nào đem con bỏ chợ. Tôi suy nghĩ mãi làm cách nào đây, bốn mẹ con chúng
tôi không thể chết nơi rừng núi hoang vu này, rồi tôi tự nói với chính mình
phải can đảm rời bỏ nơi này cho dù lưỡi lê hay búa rìu cũng không sợ, và không
thể để yếu hèn mà ngã quỵ thì không bao giờ có cơ hội mà đứng dậy. Cho nên tôi
rất cần tinh thần minh mẫn trong lúc này và tôi gọi thầm tên người chồng thân
yêu nơi nào đó một góc trời hoang vu của núi đồi: “Nếu hồn thiêng anh còn hiển
linh hãy giúp em nhiều nghị lực để vượt qua cơn sóng dữ này.” Và tôi gọi tên
anh với những lời thân thương nhất: “Anh biết không. Vì tình yêu của anh, em
phải sống.” Tôi nhớ lúc đó thật là đau thương, tôi ôm tấm áo của chồng tôi,
chiếc áo cũ rích, rách nhiều chỗ chàm vá và đã bạc màu cùng với ngày tháng cực
khổ, tôi đã mặc nó trong những ngày trời đông rét mướt, nó đã theo
tôi khắp nông trường đó.
Rồi ngày đó trong sự chờ
đợi, càng ngày càng tuyệt vọng, lương thực như một cái bóng mờ trong
sa mạc mà chúng đã hứa cả mấy tháng hơn rồi, không thể ngồi chờ trong một đêm
kiên quyết tôi phải rời bỏ nơi này nhanh chừng nào hay chừng nấy, vẫn biết ngày
mai rồi sẽ ra sao, có ra sao cũng mặc, khuya đêm nay phải ra đi tôi không hề
chợp mắt, cầu nguyện và cầu nguyện, Chúa hãy giúp con, kẻng vừa đổ canh tư là
tôi lặng lẽ dắt con tôi xuống đồi. May mắn làm sao, đêm nay, sương khuya vẫn
còn dày đặc cho nên mẹ con tôi qua cổng trại mà đám lính canh không ai hay biết
gì, có lẽ nhờ ơn Chúa nên hôm nay sương khuya mới dày đặc hơn mọi khi, nghĩ đến
điều được ơn Chúa, nước mắt tôi tuôn rơi mà những ngày đó tôi lại không có giọt
nước mắt để mà khóc.
Thế là thoát nạn, người dân
ngày đó biết được bốn mẹ con chúng tôi từ kinh tế mới trở về, họ thương cảm nên
cũng no lòng. Để rồi về đến quê nhà, tưởng mẹ già ra đón nào ngờ cửa đóng then
cài, nhà đã bị tịch biên sang chủ mới. Người hàng xóm nhanh miệng cho tôi biết,
mẹ già không chống chọi được. Ruộng vườn chia cắt, bao nỗi ưu phiền, mẹ đã nằm
xuống không người thân bên cạnh, khi những chiếc lá vàng cuối sắp sửa lìa cành
là lúc mẹ lìa đời. Mộ mẹ bên đồi hoang vắng, hàng xóm đắp sơ sài. Lúc dó tôi
còn nhớ đã khóc như một đứa trẻ ngày nào còn nhỏ cần mẹ, đắp thêm mộ phần mẹ
khắc chữ dựng bia để thương nhớ. Tưởng đâu tuổi già bóng xế được nương cậy, nhờ
thời son trẻ mẹ đã một đời lặn lội lên non, xuống đoài, nuôi con không lớn quên
mẹ, vứt tuổi xuân bên đường chồng chất đôi vai không một ngày vui hạnh phúc.
Chiến tranh như hung thần, tôi thù ghét nó, nó đã giết đi bao cuộc đời son trẻ
của người đàn bà Việt Nam. Nhìn đám con tủi phận cho mình niềm hy vọng cuối
cùng đã tan về đâu đêm nay, con sáo trên cành như cám cảnh tiếng hót như thương
xót cho đời người sao lắm đau thương.
Thế rồi sau ngày đó, ngày mới
bắt đầu. Ngày ngày lội sâu bới từng đống rác tìm bao bịch nylon, mùi hôi thối
xông lên nồng nặc nhưng biết làm sao hơn. Những đứa con cần sống rồi tôi đã
không nan từ với công việc gì buôn bán mánh mung giành giựt với những tên quản
lý thị trường, mà ngày đó tôi còn nhớ không còn sợ báng súng là gì.
Những ngày đêm mưa nắng, đêm
về thì ngủ dưới gầm cầu mai thì bãi tha ma, đêm nào nghe động tĩnh thì ba hồn
bảy vía chạy cho nhanh để chúng bắt được trả về kinh tế mới thì có nước chết.
Cho nên tôi phải tranh đấu, tôi lúc đó như con hổ đói, lúc nào cũng chực sẵn giành
mồi, để sau đó rồi một mình trong đêm vắng, tôi thổn thức, tôi không còn là ngày
xưa của anh nữa, của người chồng thân yêu, của những lúc hẹn hò... anh thường
vuốt tóc tôi rồi khen mái tóc tôi dài như bóng dừa quê anh. “Anh biết không,
mái tóc ngày xưa anh yêu quý không còn nữa, em đã cắt mái tóc đó kể từ ngày
Cộng Sản chiếm miền Nam, thay vào đó em đã cột từ trước ra sau gáy nhiều khi
nhìn gương em không còn nghĩ là em nữa. Tại thời thế tạo em như vậy. Tình của
em đã theo anh chết từ ngày hay tin anh nằm xuống, không một lời từ giã với em,
với người mẹ già hằng đêm cầu kinh khi hỏa châu rơi. Ai đã vuốt mắt cho anh,
bạn bè có còn không hay họ đã vội vã chạy để giữ mạng sống, để dành từng tấc
đất hơi thở cho miền Nam thân yêu trong lửa bỏng dầu sôi, nên họ không còn nhớ
đã bỏ quên anh nơi nào đó trong chốn rừng thiêng mà chỉ có tiếng chim buồn tiễn
đưa anh. Cho nên em phải sống, sống cho những đứa con tình yêu của chúng mình
ắt đến bờ Tự Do”. Nhìn con trong giấc ngủ mê say, chúng đâu biết rắng mẹ chúng
ngày mai bán đôi bông kỷ niệm, để dọn cho chúng một lối đi đầy hứa hẹn.
Thế rồi ngày ra đi đã đến. Từ
chiều giờ nằm ở điểm hẹn vẫn không thấy động tĩnh gì cả, chẳng lẽ có chuyện gì
không may xảy ra? Canh một qua rồi, bụng nghe cồn cào bởi lúc chiều lo quá nên
quen ăn, phần thì bị muỗi cắn. Đêm ba mươi sao tối đen như vậy, đưa ta không
thấy xa xa nghe sóng vỗ vô bờ lóng nôn nao, rồi tôi lại bắt đầu cầu nguyện để
lấy lại tinh thần. Tôi rất hy vọng ở một đấng tối cao, ngài sẽ không bỏ rơi mẹ
con tôi. Đang miên man suy nghĩ chợt nghe tiếng chim rú ba lần, tôi biết giờ đi
đã đến, mạnh dạn cõng đứa con nhỏ trên lưng với chiếc đai cột từ sau ra trước
thật chặt, và tôi thầm nói với chính mình, phải bảo vệ đứa con, kỷ niệm tình
yêu cuối cùng này của tôi. Con hãy ngủ yên nhé, ngày mai bình minh sẽ đến với
con, đứa con kế nó như hiểu biết lặng lẽ đi xuống tàu.
Mọi việc êm xuôi, đúng ngay
mai có bình minh nhưng bến bờ là mênh mông, nhưng dầu sao cũng đã thoát khi đã
định thần lại mới biết tàu dài độ hai mươi mét, người thì lố nhố khoảng bảy,
tám chục nhiều là đàn bà và con nít, có những người chưa bao giờ biết biển là
gì nên say sóng nằm như chết, riêng mẹ con chúng tôi tuy ốm nhưng dai sức bởi
vì năm tháng dãi dầu lăn lộn với cuộc sống sương gió nên tôi cũng khỏe hơn mấy
người đàn bà cùng chuyến tàu.
Đi đã ba ngày hai đêm, tàu
nhẹ nhàng lướt theo ánh trăng im lìm mà đi. Biển êm trời êm sương lạnh rồi tôi
nghe mặn ở bờ môi thì ra tôi đã khóc mà những ngày gian khổ với bọn vô thần,
tôi đã khô cằn chai lì để bây giờ nước mắt cứ trào dâng. Tôi không buồn lâu,
thương người chồng xấu số, thương cho dân Việt đau thương muôn đời bị trị trong
thống khổ đành bỏ nước lìa xứ xa quê, nơi chôn nhau cắt rốn bao giờ trở về được
hát khúc hoan ca.
Thuyền vẫn êm đềm trôi đi hy
vọng được tàu vớt. Trong niềm hy vọng mong manh bất chợt từ xa nhón lên một
chấm đen tiến lần lần lại chúng tôi. Chúng tôi mừng quá đỗi hy vọng gặp được
tàu vớt bởi vì trên tàu của chúng tôi vài người bắt đầu yếu sức vì thiếu nước,
lúc đó chúng tôi dùng hết khả năng để báo hiệu. Dần dần sự báo hiệu đó tiến lại
gần, thì ra lũ đầu trâu mặt ngựa, hai tàu chúng ép thuyền chúng tôi vào giữa và
bắt đầu lục soát. Sau là đến đàn bà con gái, khi chúng trả những người đàn bà
về chỉ còn nằm lả đi vì phần bị sóng, bị đói mấy ngày qua. Tôi may mắn không bị
chúng để ý đến, có lẽ mặt mày tôi bôi đầy dầu mỡ, tóc tai rối bù. Sau khi chúng
nhổ neo không quên mang theo ba em gái khoảng mười bốn đến mười bảy. Tôi ứa
nước mắt không biết các em có còn sống để rồi biệt mù tăm cá, tội nghiệp các em
quá hay sau cơn dục vọng chúng quăng các em xuống biển để làm mồi cho cá.
Tàu lại tiếp tục đi độ nửa
ngày đường nữa thì gặp thêm một bọn quỷ dạ xoa, lần này không còn gì nữa thì
chúng hung dữ dã man hơn hết. Bắt đàn bà con gái sang tàu chúng hãm hiếp hơn
nửa ngày, có người đàn ông nóng lòng cho vợ, chúng đập đầu ngay và liệng xuống
biển. Nên sau đó không ai còn dám hó hé tụi nó muốn làm gì thì làm. Thực ra đói
quá còn hơi sức đâu nữa mà chống cự nổi những tên hải tặc dã man cầm thú.
Sao trời laị để cho những tên
gian ác sống, còn những người vô tội phải chết oan trong đau đớn. Khi chúng thả
neo trong đó có người đàn bà về đến tàu chỉ thều thào mấy câu nhờ giúp đỡ con
của chị, chị nắm tay tôi gửi gắm nhẹ nhàng ra đi. Dù không quen biết nhưng mấy
ngày qua nằm gần bên nhau trên tàu sống chết này tôi cũng buồn rưng rức thương
cho số phận không may của chị trên bước đường tìm tự do chưa tới đích thì chị
đã nằm xuống.
Bây giờ thì lòng biển cả tiếp
nhận chị, chúng tôi cầu nguyện và đưa xác chị xuống lòng biển, tôi thầm khấn
vái hồn chị linh thiêng hãy giúp chúng tôi đến được bến bờ tự do. Đã hai lần
tàu bị cướp tôi đều thoát nạn như lời cầu xin của tôi được chúa ban ơn, tôi
nghĩ như vậy dù tôi có dơ dáy cỡ nào cũng khó lòng thoát với lũ man rợ. Đêm lại
xuống, tàu chúng tôi bây giờ như bóng con tàu ma, tất cả nằm như chết muốn ra
sao thì ra, tàu bây giờ thả trôi theo sóng biển chỉ còn tôi và một vài người
đàn bà là còn chút sức vì vậy chúng tôi mới giúp đỡ cho những người bên cạnh.
Nhìn những vì sao đêm rời rạc
cũng như chúng tôi đang lạc loài cô đơn trong đêm đen, chưa thấy đâu bến bờ.
Lần này chúng tôi không còn hơi sức đâu làm hiệu nữa, hai lần tín hiệu hai mất
mát, may mắn lắm mới được từ cõi chết trở về, cho nên lần này phó mặc cho trời
đất.
Rồi lần thứ ba lại đến, thằng
đầu xỏ không qua nó sai đàn em bắt hết đàn bà con gái lớn nhỏ qua tàu hắn, lần
này coi như chết nắm phần chắc trong tay. Những bước chân đi xiêu vẹo đến từng
người một bước qua, lúc này tâm trí tôi không còn nghĩ gì hơn tại sao có loại
người dã man vô cùng tận giống như loài quỷ, không phải con người vừa thoát
khỏi loài vô thần quỷ đỏ thì lại gặp phải những con thú dữ không còn tánh
người, những đứa nhỏ đáng con chúng cũng không từ. Đứng trước mặt nó lúc đó tôi
không biết một động cơ nào thúc đẩy. Tôi quắc mắt nhìn nó một cách không sợ hãi
hầu như thách thức tụi nó.
Và tôi cũng không còn nghĩ
điều gì hơn thiệt nữa, ba bảy cũng phải liều. Nhìn đứa con gái mà tôi vuốt mắt
cho mẹ nó lúc sáng hứa sẽ bảo vệ... đành lòng nào để cho nó rơi vào tay ác quỷ.
Nghĩ đến điều đó tôi bước mạnh dạn ra khỏi hàng như người hùng xiên áo sẵn sàng
lâm trận. Tôi giơ tay dùng hết mọi khả năng để cho nó biết rằng không còn ai có
thể cầm cự nếu nó tiếp tục cướp và hãm hiếp. Tôi chỉ trời đất nguyền rủa nó chứ
không van xin, mà những ngày sống với Cộng Sản ở nông trường đói quá đâm liều
mới đủ gạo buổi chiều đó cho bốn mẹ con, cho nên lúc đó tôi không còn đếm xỉa
đến hắn. Biết chống là chết nhưng tôi nghĩ lúc đó có chết cũng phải vùng lên dù
là một khoảng khắc để rồi sau đó tắt lịm còn hơn cứ để chúng vời chơi như mèo
vờn chuột, trước sau gì cũng chết. Nghĩ đến điều đó tôi quỳ xuống trong thư
thái bình thản, mặc cho bọn chúng reo hò, tôi bắt đầu cầu nguyện. Tôi gọi Chúa,
chỉ có Chúa mới cứu được chúng con trong lúc này thôi, bởi cái chết như sợi chỉ
treo, lương thực đã hết, nước khô cạn. Hôm qua có người đàn ông không chịu nổi
khát uống chai dầu gió bứt ruột mà chết, khi cơn đói khát làm hoa mắt chẳng còn
biết cái gì nữa.
Nếu một người như tôi có chết
đi mà cứ hết đoàn tàu trong đó có những đứa con thân yêu của tôi được dến bến
bờ, được quỳ dưới chân Nữ Thần Tự Do thì cái hy này không còn gì sung sướng
bằng, tôi cứ nghĩ miên man và điềm tĩnh nhắm mắt cầu nguyện không còn sợ hãi
nữa, đón nhận những gì đưa đến cho mình.
Rồi trong khoảng khắc không
biết bao nhiêu lâu đứa con tôi lay vai tôi gọi: “Mẹ, chúng nó cho nước rồi thả
hết người rồi mẹ, mẹ đứng dậy đi nó không bắt mẹ đâu.” Tôi như từ một vùng cơn
mơ bước ra, không thể nào tin được những tên hải tặc bôn ba khắp vùng biển cả
để săn mồi lẽ nào bỏ qua con mồi ở trong tay chúng. Về đến tàu, tôi vẫn chưa
hoàn hồn, Chúa đã giúp chúng tôi, tôi ôm đứa con nhỏ nước mắt ràn rụa. Chúa đã
cứu mẹ mặc dù mẹ chưa sức dầu là con chiên của Chúa. Chỉ có Chúa tối cao mới có
quyền năng từ một con sư tử, trở thành một con nai hiền lành, cho nên tàu chúng
tôi mới thoát nạn.
Bây giờ cả tàu lấy lại được
chút niền tin và sức sống nhớ có chút nước cầm hơi. Một ngày sau chúng tôi được
tàu Đức vớt. Thế là cuộc hành trình trong nỗi kinh hoàng biển đông mà người
Việt đi tìm tự do phải gánh chịu mọi gian nan trong cái chết tìm con đường
sống, bao nỗi giày vò đói khát cướp bóc hãm hiếp, làm mồi cho cá trời nước mênh
mông không thấy đâu là bờ bến mà ngày ấy đã mang may mắn cho tôi gió lặng sóng
êm, những cơn sóng ngủ vùi dưới lòng biển cả nên đã bỏ quên chúng tôi.
Nhiều khi trong giấc ngủ chợt
giật mình nhớ lại ngày ấy tại sao mà có thể can đảm liều mạng đem sinh mạng mấy
mẹ con mà giỡn với tử thần.
Bây giờ nơi miền đất tự do,
năm đứa con, hai đứa của người đàn bà xấu số, cũng đã nên người. Mùa xuân lại
về, đêm ba mươi ngồi một mình trong căn nhà vắng vẻ ôn lại chuyện cũ đã qua,
mới ngày nào thoáng chốc đã hai mươi năm, tóc bây giờ đã ngả màu, có biết bao
điều thay đổi nhưng quê nhà vẫn lầm than. Bao giờ người dân việt mới được hưởng
mùa xuân thật sự không bị trị và kềm kẹp, để cùng nhau hát khúc thanh bình
trong những đêm trăng sáng quê nhà...
Nguyên Sương