22. Người Con Gái Không Nịt Ngực (Amy Phương Lê)
Chuyện Kể Hành Trình Biển Đông
Người Con Gái Không Nịt Ngực
Amy Phương Lê
Sau khi được tàu Mỹ vớt,
chúng tôi nằm la liệt trên sàn tàu. Mười sáu ngày vùi dập bởi sóng biển, đói
khát, rét lạnh làm mọi người tơi tả. Một em bé sanh ra trên tàu được cấp tốc
đưa vô phòng cấp cứu. Chiếc tàu nhỏ loại đánh cá chở chúng tôi đi buộc dây kéo
theo sau, nhỏ bé như con kiến đi cạnh con voi. Chỉ một thời gian ngắn sau, các
miếng gỗ của tàu cũng sứt ra từng mảnh, trôi lênh đênh...
Ôi! Chiếc tàu nhỏ, quá nhỏ,
chỉ ba mươi ba người mà đã chật không còn chỗ ngồi hay đứng. Chỉ mới qua đêm
thôi, khi ngồi bó gối trong thân tàu, bị sóng biển nhấn chìm, đưa lên rồi lại
bị nhấn chìm sâu hơn nữa vào trong lòng biển lạnh, rồi nghe tiếng kêu răng rắc
của những mạnh gỗ bắt đầu bị lồi ra những cây đinh thì chúng tôi hiểu rằng
chiếc tàu thân yêu không còn có thể gánh vác mạng sống của chúng tôi xa hơn
được nữa.
Tôi đưa mắt nhìn những thủy
thủ trên tàu Mỹ, lòng tràn ngập niềm vui và niềm biết ơn khó diễn tả. Và lon Coca
mà tôi được phát, chao ôi sao mà nó ngon! Trôi tuột vào cổ họng khô khát... Có
lẽ đó là lon Coca ngon nhất trên đời tôi được uống. Chỉ mới hôm qua thôi, ngày
thứ mười lăm, khi một em nhỏ trên tàu thoi thóp khóc vì quá khát thì mẹ em đã
gieo cho em chút hy vọng: “Ráng đi con, khi nào có tàu vớt thì con sẽ được uống
nhiều nước. Có khi lại có Coca!”. Lúc ấy chúng tôi mới chỉ nghĩ đó như một giấc
mơ. Hai đứa em tôi nằm bên cạnh, rên lên khi nghe nói tới nước... Từ cả hơn
mười mấy ngày trước, khi đói và khát quá thì thằng nhỏ nhất bắt đầu mơ tưởng
đến đồ ăn thức uống: “Chị ơi! Em đói quá! Em thèm một tô phở. Và một ly trà đá
thật bự! Hay cái gì cũng được! Một tô mì, bánh xèo, hay bún bò...”Một bà trên tàu
gắt lên: “Trời ơi! Đói khát thế này mà cứ kể ra mấy món ấy có chết không cơ
chứ?”. Rồi bà lâm râm đọc kinh, cả tàu cũng đọc kinh... Em tôi không dám nói
lớn nữa, nhưng ráng thì thào bên tai tôi: “Chị ơi! Hay chị cho em một chén cơm
nguội cũng được!” Tội nghiệp! Nó quá nhỏ để hiểu cuộc hành trình này không có
quyền chọn lựa. Rồi nó không thì thào được nữa, mà bắt đầu khóc, và chỉ vào hạ
bộ của nó đang sưng đỏ vù. Tàu nhỏ, không có chỗ ngồi huống chi chỗ đi tiểu, đi
cầu... Lúc đầu mọi người còn ráng ra ngoài để tìm chỗ đi, nhưng khi say sóng và
đuối sức thì ai ngồi chỗ nào đi chỗ nấy. Sau những ngày không được chùi rửa vệ
sinh, hạ bộ đỏ u lên. Em tôi không hiểu tại sao hạ bộ nó sưng phồng, đỏ lòm và
to gấp hai, ba lần bình thường. Mỗi lần nước biển tạt vào, nước muối mặn sát
vào da thịt rát quá làm mọi người kêu la, oằn oại như thấu trời xanh. Rồi cộng
thêm với những đêm bão lạnh kinh hoàng mà mỗi giọt nước rót vào người là như
mũi dao xẻ thịt xẻ da, thì em tôi cảm giác như có những mũi dao cắt đứt đi cái
phần cơ thể riêng tư quý báu đang bị sưng vù nên vểnh lên cao nơi hạ bộ của nó.
Cho tới bây giờ tôi vẫn còn hình dung thấy hình ảnh những em trai nhỏ và những
người con trai cúi cong người che hai chân lại rên xiết mỗi lần những cơn và
sóng biển ập xuống.
Trên tàu Mỹ, vì không đủ
phòng tắm cho mọi người cùng vào, chúng tôi được chia làm hai hàng nam và nữ.
Hai thủy thủ cầm hai ống nước gấp rút xịt nước tắm cho mọi người, tất cả quần
áo được cởi ra để đem khử trùng giặt sấy. Các thủy thủ gom góp áo quần của mình
phân phát cho mọi người mặc tạm. Những bộ quần áo Mỹ rộng lớn bao che thân thể
Việt gầy nhỏ, chúng tôi bơi lội trong đó như bơi lội trong niềm hạnh phúc và
lòng tri ân được vượt thoát bình an.
Ngày hôm sau quần áo giặt sấy
xong được trả về cho mọi người. Vì ở rải rác trên boong tàu không có mặt lúc
phát lại quần áo, hoặc có những người nhận lộn đồ, chúng tôi đa số người lạc áo
kể lạc quần, giầy dép không còn. Tôi còn lạc mất chiếc nịt ngực. Ngày đặt chân
lên trại tị nạn, đôi chân trần bước trên đất nóng, tôi vẫn không thấy ngại bằng
cảm thấy bộ ngực vô cùng trống trải. Thủa ấy tôi mới vừa mười tám tuổi, sinh ra
và lớn lên trên cao nguyên Đà Lạt. Ở thành phố nhỏ hoa anh đào đó, đời sống là
áo trắng hiền ngoan, má đỏ môi hồng, thẹn thùng e ấp. Vậy mà bỗng chốc lăn vào
đời, chân không giầy dép, người không nịt ngực. Cái nịt ngực đối với tôi, nhất
là ở xứ lạnh, là một vật dụng thân thiết ít khi rời. Nó vừa giữ ấm cho người,
vừa che đậy nâng đỡ một phần cơ thể kín đáo. Ở phần dưới nịt ngực thường có một
viền sắt mỏng hay viền vải chắn ngang, và một lớp vải dầy với miếng mút ôm gọn
hai bầu vú để giữ cho phần ngực không rung rinh di chuyển theo mỗi bước đi và
không lộ rõ núm vú. Khi sinh hoạt, dù trong nhà, cũng nên mang. Thế mà bây giờ,
ở chốn đông người, giữa ban ngày ban mặt, tôi đi đứng chạy nhảy mà chẳng mang
nịt ngực. Cái cảm giác trống trải không kín đáo này đối với tôi, một người con
gái Á Đông lần đầu bước vào đời là cái cảm giác không an toàn, hở hang, bất
an...
Tôi lên trại xin cấp nhưng
chưa có. Trại chuyển tiếp có những nhu cầu cần thiết hơn phải được giải quyết
trước. Miếng ăn, nước uống, thuốc men, nhà vệ sinh, tất cả còn thiếu mà người
tị nạn đổ về mỗi lúc một đông. Lúc bấy giờ ở Việt Nam mà đa số là đàn ông thanh
niên bị kêu gọi tham gia “thanh niên xung phong” hoặc bị gởi qua chiến trường
Cam Bốt khốc liệt. Mọi người vội vã tìm đường vượt biên, trại rất đông đàn ông
con trai. Và đủ mọi hạng người. Mỗi lần sáng chiều đi lãnh cơm, đi tắm, đi hứng
nước hay có loa gọi gấp lên làm giấy tờ, tôi đi giữa những hàng chòi lá và dãy
nhà tập thể, cảm nhận có những cặp mắt nhìn theo bộ ngực vô tình nhấp nhô theo
từng bước chân chạy...
Tôi vừa mất cha nên có miếng
tang đeo trước ngực, không biết người ta nhìn miếng tang cảm thông với tôi hay
nhìn vào ngực và biết tôi thiếu cái nịt ngực... Có những cái nhìn rất soi mói,
như lột trần mình ra. Con gái mới lớn, bộ ngực nở nang không làm tôi hãnh diện
mà chỉ làm tôi thêm ngại ngùng khổ sở. Ở lứa tuổi học trò ngây thơ thủa đó, cảm
giác nhận được là ngột nhạt, khó chịu, bất an. Tôi bỏ luôn thói quen mỗi sáng
tập thể dục ngoài trời, vì khi không có nịt ngực thì những động tác nhún nhẩy
có thể tạo sự chú ý. Ngay cả những ngày hè nóng nực ở trại tị nạn cũng không
thoải mái thả mình theo sóng biển, bởi quần áo càng dính chặt vào người, núm vú
càng hiện rõ, lộ liễu. Ở cái tuổi con gái tươi trẻ tung tăng mà tôi không hề
dám tung tăng. Có hôm đang đi, nghe tiếng huýt sáo trêu ghẹo đuổi theo, tôi
ngại và mắc cỡ quá luýnh quýnh đi như chạy, vấp té làm áo bị sứt khuy nút. Hai
tay vội vã cố gài khuy áo, tôi đi tiếp trong những tiếng cười tinh nghịch nham
nhở. Có lần vừa sắp hàng đi hứng nước tắm về, thì nhạc quốc ca của trại trỗi
lên, mọi người đang đi đường đứng nghiêm lại hát chào quốc kỳ. Tôi đang đứng
nghiêm chỉnh bỗng nghe tiếng cười chỉ trỏ về phía mình, Một vài thanh niên đang
ngồi trên tầng trên của chòi lá thò đấu ra nhìn tôi rồi một người chợt nói: “Chắc
tắm về để quên cái nịt ngực!” Rồi họ cười hô hố. Một người khác tiếp theo: “Tên
gì thế em! Tối nay đi chơi trọn đêm với anh nhá?” Một người lớn tuổi đang đứng
chào cờ không xa, tỏ vẻ khó chịu. Ông ta nói vừa đủ tôi nghe: “Lần sau có ra
đường hay chào quốc kỳ thì nhớ mặc nịt ngực! Con gái lớn ra đường ăn mặc đàng
hoàng một chút!”
Tôi còn đang ngơ ngác thì
tiếng quốc ca và mặc niệm chấm dứt, mọi người tiếp tục đi. Tôi cúi xuống cầm xô
nước, ngỡ ngàng. Trời ơi! Thì ra có người tưởng tôi cố tình không mặc đồ đàng
hoàng. Đây là lần đầu tiên tôi biết điều này. Tôi cảm thấy nghẹn không thể nói
thành lời, muốn chạy đến người đàn ông khi nãy để nói rằng là tôi không phải cố
ý như thế, mà hai chân tôi cứ bước như người không hồn, xô nước sóng sánh đổ ra
mà không biết.
Dường như có giọt lệ nào,
không chảy xuống mà chảy ngược vào tim tôi, lăn mãi, và lăn mãi...
Chiều chiều trong chòi lá
nghe từ loa vọng lại bài hát “Người di tản buồn”, tôi thấy như bóng dáng mình
trong đó... “Chiều nay có một người đôi mắt buồn, ngày ra đi lặng câm trong đau
đớn...” Tôi ngồi bên xong cửa, thấy chiều rơi rất chậm, rồi “rưng rưng lệ vương
mắt lệ nhòa”...
Rồi tôi cũng được chuyển sang
một trại tị nạn chính thức khá hơn một chút, và xin được cái nịt ngực cũ. Cái
cảm giác đầu tiên khi được mang lại vật dụng thân thiết ấy của người nữ làm tôi
thật an toàn, yên ổn. Dù không vừa vặn nhưng thế là quá đủ!
Rồi tôi liên lạc được với
người chị từ một trại khác vừa sang Mỹ. Ngày được bảo lãnh, khi chị đón ở phi
trường, tôi nhìn chị, rồi như bị ám ảnh bởi hình ảnh của chính mình trong những
ngày đầu tị nạn, tôi len lén nhìn vào ngực chị, trong phút chốc chợt mủi lòng,
nhớ cha nhớ mẹ, nước mắt âm thầm lăn dài trên má. Chị cũng khóc, nhưng có lẽ
lúc ấy chị không hiểu đích xác cái tủi buồn thầm kín của em mình.
Ngày hôm sau, vì trúng ngày
thi cuối khóa nên chị nhờ người bạn trai là hôn phu chở chúng tôi đi làm giấy
tờ và mua ít vật dụng cần thiết. Tôi đi trong thương xá rộng lớn, rồi bỗng sáng
mắt khi nhìn thấy quầy bán nịt ngực, Chao ơi nhiều! đủ màu đủ số. Tôi mân mê
vuốt nhẹ lên từng phiến vải mềm, như muốn cảm nhận được tất cả sự dịu êm của
từng miếng ren vải lụa, thấy lòng hạnh phúc reo vui như thể được cái gì quý giá
lắm. Tôi chọn lấy một cái vừa vặn và một quần lót nhỏ cùng màu. Thế nhưng đến
lúc ra quầy tính tiền, nhìn thấy người bạn trai của chị đang đứng chờ, tôi chợt
thấy ngại. Tưởng tượng phải thả cái nịt ngực và cái quần lót nhỏ xuống trước
mặt anh, tôi đã thấy ngượng. Tôi len lén bỏ lại, mơ hồ một cảm giác luyến tiếc
sâu kín...
Hai em tôi đã chọn được cặp
táp, vở học, và một ít quần áo. Còn tôi, tôi đã dành trọn thời giờ bên quầy nịt
ngực...
Bây giờ tôi đã có nhiều chiếc
nịt ngực, khác màu, khác kiểu. Nhưng trong một góc ngăn kéo, tôi vẫn còn giữ
lại cái chiếc chật cũ của những ngày tị nạn. Và trong một góc ngăn kéo rất sâu
thẳm của ký ức vẫn như còn đọng lại hình dáng một chiếc nịt ngực ao ước mãi của
ngày xưa...
Sau này, khi các con tôi khôn
lớn, sẽ có một lúc nào đó tôi dẫn vào thương xá, rồi như vô tình, đi ngang quầy
bán nịt ngực, tôi sẽ kể các con nghe về chút kỷ niệm của thời mới lớn. Đơn giản
thôi các con! Chỉ là một chiếc nịt ngực, mà đã từng là niềm mơ ước, nỗi ám ảnh
của mẹ trong một khoảng đời con gái.
Giờ đây, tuổi trẻ các con lớn
lên trong mệm ấm chăn êm. Thấy những gì đang có sẵn là tự nhiên, là bình
thường. Đôi khi còn than thở, so sánh... Có biết đâu có những không gian và
thời gian mà ở đó, ngay cả những cái nhỏ bé bình thường nhất cũng có thể là nỗi
tủi nhục, niềm ao ước cháy bỏng. Đừng nói chi đến cái bầu trời tự do để thở như
ở đây thì đã là quá tuyệt diệu và đã từng đánh đổi bằng biết bao là đau khổ
chồng chất.
Có một thời gian, những câu
chuyện vượt biên thống khổ như những vết thương mà người ta muốn quên đi để bớt
nhức nhối trong một cuộc sống mới xa lạ và tất bật. Thế nhưng khi có dịp ôn lại
và tìm về những kỷ vật cũ ấy, tôi chợt nhận ra rằng những đề tài cũ và đầy dấu
tích đau khổ ấy, lại là những bài học tiêu biểu vô cùng cho những thế hệ sau...
Và tôi hiểu ra rằng đó còn
chính là bài học cho chính tôi...
Ôi thảm nạn của những cuộc
hành trình vượt chết vô tiền khoáng hậu! Ôi những chiếc tàu nhỏ bé một bloc chỉ
có thể chạy trên sông mà đã băng biển vượt sóng rồi giông tố biển khơi, hải tặc
tàn bạo, và nhục nhằn của bao người trong cuộc hành trình vượt chết... Thế mà
bây giờ, tôi ngồi đây, trong cuộc sống có thể gọi là đầy đủ, nhiều lúc lại cho
rằng đời sống sao mà khổ! Nào con cái, việc làm, nhà cửa, sao mà bận bịu! Nào “bill”,
nào “Job”, nào chứng khoán trồi sụt... nhưng nghĩ cho cùng, thì có phải là
những ngày đêm dài thăm thẳm trôi dạt trên thân tàu sắp vỡ, lúc gần chôn thây
trong biển lạnh, lúc cận kề cái chết trong gang tấc, tôi chỉ ước mơ đứng trên
đất liền, được sống... Có phải là khi ra đi tôi chỉ mong một bầu trời tự do hơn
để thở, có phải là tôi đã ngủ quên cái hạnh phúc lớn lao mà biết bao người
không may mắn có được... và, nhìn lại tủ áo, có phải là một lúc nào đó trong
đời tôi chỉ ao ước một cái nịt ngực...
Có nghe, có đọc, có nhớ, có
hình dung lại những cuộc hành trình biển đông năm xưa thì dường như ta mới cảm
nhận được thấm thía hơn tất cả cái may mắn và hạnh phúc mình đang có.
Những thống kê về di dân đã
cho thấy thế hệ di dân đầu tiên, như chúng ta, là thế hệ làm cầu nối cho các
thế hệ kế tiếp vốn không có chút kỷ niệm và ấn tượng gì về quê hương mà cha mẹ
đã phải bỏ lại. Đó là những thế hệ rất dễ ngày càng xa nguồn gốc nếu không được
học hỏi giải thích.
Tôi tự nhủ, tôi sẽ không nhất
thiết phải đi làm cho thật nhiều để các con có cuộc sống dư thừa, rồi để lại
cho các con gia tài tiền của. Nhưng, đại dương sóng sau dồn sóng trước, tôi sẽ
góp phần làm gạch nối giữa các con với những giá trị muôn đời của cội nguồn dân
tộc. Các con sẽ được chia sẻ, rút tỉa những kinh nghiệm quý báu của cha ông
đồng thời học hỏi những cái hay cái lạ của xứ người. Cái đó mới là cái đẹp
riêng, là gia tài hành trang của các con, khi một lúc nào đó nhìn màu da khác
người bản xứ, sẽ tự hỏi: “Tôi là ai? từ đâu đến, vì sao tôi ở chốn này?” Các
con sẽ được giải thích để hiểu rõ, để tự tin, hãnh diện, và sẽ có lúc giải
thích cho các con của mình hiểu. Những lúc yếu mềm, không nghị lực, không lối
thoát, hãy lăn bành một chút về dĩ vãng, học ở đó những bài học xương máu. Khi
tìm hiểu về những chiến trận anh hùng, những hành trình thống khổ đầy gương can
đảm, các con sẽ thấy rằng ở đời có muôn ngàn cái khổ, nhưng có những cái khổ và
cái can đảm làm rung chuyển lương tâm nhân loại. Máu, mồ hôi, nước mắt nhiều
khi liên tiếp đổ ra mà chưa chắc đánh đổi được những gì chúng ta đang có. Rồi
hãy hít thở đi cho ngập tràn khí quản cái tự do hạnh phúc quý báu vô vàn, rồi
can đảm tiếp bước đi trên đường đời ngang dọc.
Đừng quên rằng chung quanh
chúng ta, có những không gian và thời gian mà ở đó có những điều cần thiết, tuy
nhỏ bé và bình thường, nhưng chỉ một chiếc nịt ngực thôi, cũng có thể là nỗi
ước ao triền miên của những khoảng đời cơ cực...
Amy Phương Lê
Họ Tên: Amy Phương Lê
Nghề Nghiệp: Computer Programmer-Real Estate Broker.
Hiện đang nghỉ làm để học xong Teacher Credential-Master
of Science of Education.
Suy nghĩ về cuộc thi viết “Chuyện Kể Hành Trình Biển
Đông”: Xin hoan hô và ủng hộ hết mình! This is for a great cause! Khi các con
mình đi học ở trường, các thầy cô thường bảo các cháu kể và viết essay về “How
your Dad and Mom came to America”. Và các cháu cần làm thuyết trình,
research...Các cháu và bạn bè thường thắc mắc hỏi về về những đề tài như thế.
Có thêm những tài liệu và chuyện kể về cuộc hành trình này thì thế hệ mai sau
và những người ngoại quốc sẽ càng hiểu được nguyên do chúng ta phải ra đi, ra
đi bi thảm như thế nào, cùng với biết bao hoàn cảnh nghiệt ngã, oan khiên khác.
Người American Indians năm 1838 có cuộc hành trình thống khổ, out of their
ancestral homeland to over 1000 miles away to Indian Territory. They called it “Trail
of Tears” (Trail Where They Cried). To me, our stories have no less
tears...Even more..not only trails of tear but also rivers of bloods. Our
journeys were thousands, thousands of miles away, and we crossed no just land
but also seas - overseas…
And thus we cried...
And now we speak…
So that you know...