Bản chúc thư - Chương 30
Chương ba mươi
Fparr Wycliff đang ngồi trong phòng làm việc của ông ở tòa
án; ông phải ngồi nán lại để nghe một mớ những thỉnh nguyện ngớ ngẩn. Josh chờ
ở văn phòng Chánh án. Ông đi tới đi lui trong căn phòng bừa bộn, cầm chặt máy
điện thoại di động, đầu óc ông hướng về bán cầu bên kia. Vẫn chưa có lời nào từ
Nate.
Những lời trấn an của Vladir có vẻ được diễn tập kĩ – vùng
Pantanal rất rộng lớn, hướng dẫn viên rất thành thạo và tháo vát, chiếc thuyền
rất ngon lành, những người da đỏ di chuyển quanh vùng đó, nhưng họ lẩn tránh
không muốn bị tìm ra, mọi việc đều tốt. Ông ta sẽ gọi khi nghe Nate báo.
Josh đã nghĩ đến ý tưởng một cuộc cứu hộ. Nhưng chỉ việc đến
Corumbá thôi cũng đã có vẻ một sự thách thức, nói chi đến chuyện thâm nhập vào
vùng Pantanal để tìm một luật sư mất tích giữa miền nê địa mông mênh đó quả là
một việc quá khả năng! Tuy nhiên, ông có thể đến Corumbá, ngồi cùng với Vladir
cho đến khi họ nghe được tin tức gì đó.
Ông đang làm việc mười hai giờ mỗi ngày, sáu ngày một tuần,
và “vụ Phelan” sắp sửa bùng nổ. Josh chỉ còn vừa đủ thời gian để ăn uống thôi,
nói gì đến một cuộc hành trình dài ngày đến xứ Brazil xa xôi kia.
Ông thử gọi Vladir qua máy di động, nhưng đường dây bị bận.
Wycliff bước vào văn phòng, vừa xin lỗi vừa cởi chiếc áo thun ra. Ông ta muốn
gây ấn tượng nơi một luật sư tầm cỡ như Stafford
về sự quan trọng của chồng hồ sơ tố tụng mà ông ta đang thụ lí.
Chỉ có hai người. Họ ngồi xem phần đầu của băng hình video
mà không bình luận gì. Khởi đầu là cảnh cụ Troy
ngồi trong xe lăn, Josh đang điều chỉnh cái micro trước mặt cụ, và ba bác sĩ
tâm thần với mấy tờ giấy ghi các câu hỏi. Cuộc kiểm tra kéo dài trong hai mươi
mốt phút, và kết thúc với ý kiến nhất trí rằng Ông Phelan biết rõ những gì ông
đang làm. Wycliff không thể giấu một cái cười... nhăn nhở.
Phòng sáng lên. Máy camera rọi thẳng vào ông Troy. Ông ta rút bản chúc
thư viết tay ra và kí vào đó, bốn phút sau khi cuộc giám định tâm thần kết
thúc.
“Đâu là chỗ ông ta nhảy,” Josh nói.
Camera không xê dịch và chớp được Troy
lúc ông ta bất thần đẩy lui cái bàn và đứng lên. Ông ta biến khỏi màn hình
trong khi Josh, Snead và Tip Durban
nghi ngờ nhìn trong một giây, rồi chạy ùa theo sau ông già. Đoạn phim mang kịch
tính cao độ.
Năm phút rưỡi trôi qua, máy camera không ghi được gì khác
ngoài những chiếc ghế trống và những giọng nói. Rồi ông Snead khốn khổ ngồi vào
chỗ mà trước đó Troy vừa mới ngồi. Rõ ràng ông
ta bị dao động dữ dội, nước mắt đầm đìa, nhưng cố nói vào camera những gì ông
vừa mới chứng kiến. Josh và Tip Durban cũng làm như thế.
Ba mươi chín phút video.
“Họ sẽ tháo gỡ điều đó bằng cách nào đây?” Wycliff hỏi khi
video ngưng. Một câu hỏi không có trả lời. Hai trong số những người thừa kế –
Rex và Libbigail – đã nộp kiến nghị phản bác chúc thư. Luật sư của bọn họ –
Hark Gettys và Wally Bright đã xoay xở để lôi kéo sự chú ý của công chúng và
được báo chí phỏng vấn, chụp hình khá nhiều.
Những người thừa kế khác cũng sẽ nhanh chóng tiếp bước con
đường ấy. Josh đã nói chuyện với phần lớn các luật sư của họ và cuộc “đáo tụng
đình” đang khẩn trương diễn tiến.
“Mọi tay bác sĩ tâm thần vớ vẩn nào trong xứ này cũng đều
muốn dây máu ăn phần vào đây”, Josh nói. “Chắc chắn sẽ có một trận lắm thầy
thối ma!”
“Vụ tự tử có làm ông... băn khoăn?”
“Hẳn nhiên là có chứ. Nhưng ông ta đã lên kế hoạch mọi thứ
thật chu đáo, ngay cả cái chết của mình. Ông ta biết chính xác mình muốn chết
bằng cách nào, vào lúc nào.”
“Còn về tờ di chúc kia? Tập di chúc dày cộm mà ông ta kí đầu
tiên đó?”
“Ông ta không kí vào di chúc đó”
“Nhưng tôi thấy trên băng video ông ta có kí mà.”
“Không. Ông ta chỉ nguệch ngoạc cái tên Chuột Mickey”
Wycliff đang ghi chép vào tờ khai và tay ông ta dừng lại ở
giữa câu. “Chuột Mickey?” ông hỏi lại.
“Chuyện là thế này, thưa ông Chánh án. Từ năm 1982 đến năm
1996, tôi đã thảo mười một bản chúc thư cho cụ Phelan. Có bản dày, có bản mỏng,
và những văn bản đó phân phối tài sản của ông ta bằng rất nhiều cách hơn là ông
có thể tưởng tượng. Luật quy định rằng với mỗi chúc thư mới, thì cái cũ bị tiêu
hủy hiệu lực. Như thế, tôi mang bản mới đến văn phòng ông ta, chúng tôi sẽ mất
hai tiếng để thuyết minh về nó, sau đó ông sẽ kí vào. Tôi lưu trữ các bản chúc
thư trong văn phòng tôi, và tôi luôn luôn mang theo bản mới nhất. Một khi ông
đã kí cái mới thì chúng tôi – Ông Phelan và tôi – sẽ cho cái cũ vào máy cắt vụn
giấy (shredder) mà ông để cạnh bàn làm việc của mình. Đó là một thứ nghi lễ làm
ông vô cùng khoái chí. Ông sẽ được hạnh phúc trong vài tháng, thế rồi một đứa
nào đó trong đám con của ông làm ông nổi quạu, và ông lại bắt đầu nói về chuyện
thay đổi chúc thư.
“Nếu những người thừa kế chứng minh được rằng ông ấy thiếu
năng lực tinh thần khi thực hiện bản chúc thư viết tay, thì như thế sẽ không có
chúc thư nào khác. Chúng đều đã bị hủy”
“Trong trường hợp đó, ông ta chết mà không để lại chúc thư”
Wycliff tiếp lời.
“Vâng, và như ông biết, theo luật bang Virginia, thì tài sản của ông sẽ được chia
ra cho mấy đứa con ông.”
“Bảy đứa. mười một tỉ đô”
“Bảy đứa theo như chúng ta biết. mười một tỉ có vẻ khá chính
xác. Ông không chống chúc thư chứ?”
Một cuộc phản bác chúc thư ồn ào, dằng dai, chính là điều
Wycliff mong muốn. Và ông biết rằng các luật sư, kể cả Josh Stafford, sẽ giàu
hơn lên nhờ cuộc chiến.
Nhưng trận chiến cần có hai phe và cho đến này mới chỉ có
một phe lộ diện. Phải có người bảo vệ cho bản chúc thư cuối của cụ Phelan.
“Có tin tức gì về Rachel
Lane chưa?” ông hỏi
“Chưa, nhưng chúng tôi đang tìm”
“Cô ấy ở đâu?”
“Chúng tôi nghĩ cô ấy là một nhà truyền giáo ở đâu đó tại
Nam Mỹ. Nhưng chúng tôi chưa tìm ra cô. Chúng tôi có người đến đó.” Josh nhận
thấy ông đã dùng từ “người” một cách thật lỏng lẻo.
Wycliff ngước nhìn chăm chăm lên trần nhà, đắm chìm trong
suy tư. “Tại sao ông ta lại đem cả mười một tỉ đô la cho một cô con gái ngoại
hôn, mà cô ta lại là một nhà truyền giáo, chẳng thiết tha đến của cải thế
gian?”
“Tôi chịu không thể trả lời câu hỏi đó, thưa ông Chánh án.
Ông ta đã làm tôi ngạc nhiên quá nhiều lần đến nỗi tôi đã chán ngấy”
“Có vẻ hơi... khùng điên, đúng không?”
“Lạ thật đấy.”
“Ông có biết về cô ấy không?”
“Không”
“Có thể còn những người thừa kế khác nữa không?”
“Bất kì cái gì cũng có thể”
“Ông có nghĩ ông ta mất quân bình?”
“Không. Kì quặc, lập dị, đồng bóng, bủn xỉn không tưởng
tượng nổi. Nhưng ông ta biết những gì ông ta làm.”
“Hãy tìm cô gái, Josh à.”
“Chúng tôi đang cố.”
Cuộc gặp mặt chỉ có thủ lĩnh và Rachel. Từ nơi Nate ngồi,
trên bục cửa dưới chiếc võng, anh có thể thấy khuôn mặt của họ và nghe giọng
nói của họ. Thủ lĩnh có vẻ lo lắng vì một điềm triệu nào đó từ những đám mây.
Ông ta muốn nói nhưng rồi lặng yên, nghe Rachel, rồi lại chầm chậm ngước mắt
lên cao như thể dự cảm cái chết đến từ trời cao. Nate thấy hiển nhiên là thủ
lĩnh không chỉ lắng nghe Rachel mà còn tìm kiếm lời tư vấn của cô.
Chung quanh họ, bữa ăn sáng đã được dọn dẹp vì người Ipicas
đang sửa soạn công việc một ngày mới. Những kẻ đi săn tụ tập thành nhóm nhỏ tại
căn nhà dành cho đàn ông để vót nhọn các mũi tên, căng lại dây cung. Những
người đánh cá trải lưới và dây câu. Những phụ nữ trẻ bắt đầu công việc thường
ngày của họ là dọn dẹp quét tước các túp lều cho sạch sẽ. Các bà mẹ của họ rời
nhà ra vườn hay ra đồng gần cánh rừng.
“Ông ta nghĩ rằng sắp có bão”, Rachel giải thích khi tan
cuộc họp. “Ông ta nói các anh có thể đi nhưng ông sẽ không gởi người hướng dẫn
theo. Điều đó quá nguy hiểm.”
“Chúng ta có thể đi mà không cần người hướng dẫn được
không?” Nate hỏi.
“Vâng”, Jevy nói và Nate “bắn” vào cậu ta một tia nhìn
truyền tải nhiều hàm ý.
“E rằng như thế là không khôn ngoan lắm đâu”, cô nói. “Những
dòng sông giao thủy như mạng nhện. Rất dễ bị lạc. Ngay cả người Ipicas cũng đã
từng mất nhiều ngư dân trong mùa mưa.”
“Khi nào cơn bão sẽ qua?” Nate hỏi.
“Chúng ta phải chờ xem.”
Nate thở thật sâu trong khi đôi vai anh chùng xuống. Anh
thấy đau buốt, mệt mỏi, bị muỗi cắn đầy người, đói, buồn bực vì cuộc phiêu lưu
chẳng nên tích sự gì cho mình, và băn khoăn vì Josh phải lo lắng. Nhiệm vụ của
anh cho đến nay, kể như thất bại. Anh không nhớ nhà bởi vì ở nhà chẳng có gì để
nhớ. Nhưng anh muốn nhìn lại Corumbá, với những quán cà phê nhỏ ấm cúng, những
khách sạn xinh xắn và những con đường uể oải lười biếng. Anh muốn một cơ hội cô
đơn khác, sạch sẽ và điều độ và không sợ sẽ uống rượu say đến chết.
“Tôi rất tiếc”, cô nói.
“Tôi thực sự cần quay về. Có nhiều người ở văn phòng luật sư
đang chờ nghe tôi thông báo tình hình. Cuộc hành trình này đã quá lâu so với dự
kiến ban đầu.”
Cô nghe nhưng chẳng thực sự bận tâm. Vài ba người trong một
hãng luật ở Washington đang lo lắng thì chuyện đó cũng chẳng có chi phải làm cô
ưu tư cho lắm.
“Chúng ta nói chuyện được chứ?” anh hỏi.
“Tôi phải đến làng bên dự tang lễ của bé gái. Sao anh không
cùng đi với tôi? Chúng ta sẽ có nhiều thời gian để bàn luận.”
Lako dẫn đường, chân phải của chú lắc lư khiến mỗi bước chú
“chấm” qua phía trái, rồi lại “phết” qua phía phải. Một cảnh tượng trông thật
não lòng. Rachel theo sau chú, rồi đến Nate phải mang một giỏ quần áo khá nặng
cho cô. Jevy giữ ý theo sau với một khoảng cách khá xa để không nghe lén cuộc
đối thoại của họ.
Vượt qua cái vòng hình bầu dục của các căn lều, họ đi ngang
những ô vuông nhỏ đất nông trang, bây giờ bị bỏ hoang và bị những bụi cây dại sum
sê tràn lấn. “Người Ipicas canh tác cây lương thực với những cái cày nhỏ họ đẽo
từ gỗ trong rừng”, cô giải thích. Nate đi sát sau cô, cố gắng để đi kịp bước
chân cô. Cô bước những bước dài với đôi chân mảnh khảnh nhưng dẻo dai. Một cuộc
đi bộ vượt qua hai dặm đường rừng đâu phải là trò chơi trẻ con. “Họ phải vất vả
đổ mồ hôi đổi miếng ăn, và sau vài năm đất bị cằn cỗi. Không còn nuôi nổi hoa
màu. Họ phải trả vùng đất đó lại cho thiên nhiên và đào xa hơn vào trong rừng.
Trong trường kì, đất tự phục hồi trở lại trạng thái bình thường, chẳng có gì
tai hại. Đất nghĩa là tất cả, đối với người da đỏ. Đất, là sinh mệnh của bộ
lạc. Nhưng phần lớn đất đai của họ đã bị những con người văn minh cướp đoạt”
“Chuyện đáng buồn”
“Vâng, buồn thật. Chúng ta đã tàn sát dân tộc họ với bao
cuộc đổ máu và những trận dịch, rồi chiếm đoạt đất đai của họ. Sau đó chúng ta
lùa họ vào những khu bảo tồn và không thể hiểu tại sao họ lại không... chịu
sung sướng với những gì chúng ta đã... ban ơn cho họ.”
Cô chào hai người đàn bà nhỏ thó, trần truồng đang làm đất
gần con đường mòn. “Phụ nữ ở đây phải gánh những công việc nặng nhọc”, Nate
nhận xét.
“Vâng. Nhưng việc làm, đối với chuyện sinh nở, so ra còn nhẹ
hơn”
“Tôi thích nhìn họ làm việc hơn”
Không khí ẩm ướt, nhưng không còn bị khói bao phủ suốt ngày
như trong những khu nhà ở. Khi họ bước vào rừng, Nate đã đầm đìa mồ hôi.
“Nào, nói tôi nghe về anh đi, Nate”, cô nói qua vai mình.
“Anh sinh ở đâu?”
“Chuyện này phải mất một lát”
“Hãy nhắm ngay vào những cao điểm”
“Nhưng mà còn nhiều điểm thấp nữa mà”
“Cố lên nào, Nate. Anh muốn nói chuyện, thì bây giờ nói đi.
Cuộc đi này sẽ mất một tiếng nữa.”
“Tôi sinh ra ở Baltimore, con trưởng, có một đứa em, cha mẹ
li dị khi tôi mười lăm tuổi, học trung học ở Saint Paul, cao đẳng ở Hopkins,
đại học luật ở Georgetown, rồi hành nghề và chẳng bao giờ rời Washington.”
“Tuổi thơ anh có hạnh phúc không?”
“Tôi nghĩ vậy. Thời ấy tôi chơi thể thao rất nhiều. Bố tôi
làm việc cho hãng bia National trong ba mươi năm, luôn có vé cho chúng tôi đi
xem các trận đấu của Colts và Orioles. Baltimore là một thành phố rất tuyệt.
Chúng ta sẽ nói chuyện về thời thơ ấu của cô chứ?”
“Nếu anh thích. Không vui sướng gì lắm đâu.”
Thật đáng ngạc nhiên, Nate nghĩ. Người phụ nữ này chưa từng
có một cơ hội hạnh phúc.
“Anh có muốn trở thành một luật sư khi trưởng thành?”
“Tất nhiên là không. Không một đứa trẻ nào với đầu óc lành
mạnh mà lại muốn trở thành một luật sư cả. Lúc đó tôi nghĩ sẽ chơi cho Colts
hoặc Orioles, có thể cho cả hai.”
“Anh có đi lễ nhà thờ?”
“Chắc chắn rồi. Vào những dịp lễ Giáng sinh và lễ Phục
sinh.”
Con đường mòn gần như biến mất và họ đi ngang qua đám cỏ
nhọn sắc. Nate bước đi trong lúc nhìn theo dấu giày của cô, và khi không thấy
được, anh hỏi, “Con rắn đã cắn chết cô bé là rắn gì vậy?”
“Rắn bina, nhưng đừng lo.”
“Tại sao tôi lại không lo?”
“Vì anh đang mang giày ống cao. Đó là một loại rắn nhỏ chỉ
cắn dưới mắt cá chân.”
“Những con lớn sẽ tìm tôi.”
“Yên tâm đi.”
“Còn Lako đằng kia thì sao? Chú chẳng hề mang giày”
“Đúng, nhưng chú ta thấy mọi thứ”
“Tôi thấy là loại bina cắn chết người”
“Có thể, nhưng có loại thuốc chống nọc rắn đó. Trước đây tôi
có loại thuốc đó và nếu như ngày hôm nay tôi còn thuốc đó thì con bé đã không
chết.”
“Vậy thì nếu cô nắm số tiền lớn kia, cô có thể mua bao nhiêu
là thuốc men. Cô có thể trữ trong nhà cô mọi thứ thuốc mà cô cần. Cô có thể mua
một chiếc xuồng máy nhỏ để đi về Corumbá bất kì lúc nào cần thiết. Cô có thể
xây một bệnh viện, một nhà thờ, một trường học, và rao giảng Phúc âm cho khắp
vùng Pantanal.”
Cô dừng chân, quay ngoắt lại. Họ đối diện nhau. “Tôi đã
chẳng làm gì để kiếm ra số tiền đó, và tôi không biết người đã làm ra số tiền
đó. Làm ơn xin đừng nêu chuyện đó ra nữa.” Lời cô quả quyết nhưng mặt cô không
biểu lộ sự bực mình nào.
“Thì cô đem cho hết đi. Cho việc làm từ thiện”
“Không phải tôi cho”
“Nếu không nó sẽ bị phung phí vô ích và có khi còn tai hại
nữa. Hàng trăm triệu đô la sẽ vào túi đám luật sư, số còn lại sẽ được chia cho
đám anh chị em chỉ biết ăn chơi xài phá của cô. Tôi tin rằng cô không muốn điều
đó. Cô không tưởng tượng được hết những chuyện khốn nạn, nhức óc, đau lòng mà
đám đó sẽ gây ra nếu bọn chúng nắm tiền. Phần mà bọn họ chưa phung phí hết sẽ
chuyển đến đám con họ, và tiền của cụ Phelan sẽ còn làm hư hỏng thế hệ kế tiếp”
Cô nắm cổ tay anh, vặn lại. Thật chậm rãi, cô nói: “Tôi
chẳng thiết. Tôi sẽ cầu nguyện cho họ.”
Rồi cô quay lại và tiếp tục dấn bước. Lako đi phía trước khá
xa, Jevy theo sau họ, cũng với khoảng cách khá xa. Họ đi bộ trong yên lặng qua
một cánh đồng gần một dòng nước, rồi đi vào một ngõ nhỏ với đám cây dày, cao.
Cành to nhánh nhỏ đan xen nhau tạo thành một vòm tối. Không khí bất chợt trở
nên mát lạnh.
“Nào, mình nghỉ chân một lát”, cô nói. Dòng nước vòng vèo
quanh rừng cây và con đường mòn gặp nó nơi một chỗ trũng với những hòn đá xanh
lam và vàng cam. Cô quỳ gối xuống nước và lấy tay vỗ nước lên mặt.
“Anh có thể uống nước này”, cô nói. “Nó chảy từ trên núi
xuống”
Nate lội xuống gần cô và cảm thấy dòng nước trong vắt, mát
lạnh.
“Đây là nơi chốn ưa thích của tôi”, cô nói. “Hầu như tôi đến
đây mỗi ngày để tắm rồi cầu nguyện và suy tư.”
“Thật khó tin là chúng ta lại đang ở nơi vùng Pantanal nắng
nóng bỏng da. Nước mát quá.”
“Chúng ta đang đứng nơi miền biên tái. Các rặng núi của
Bolivia cách đây không xa. Vùng Ngũ giác nê địa (Pantanal) bắt đầu ở một nơi
gần đây và trải dài mãi về phía đông.
“Tôi biết. Trước đây chúng tôi đã bay ngang qua suốt vùng để
tìm cô.”
“Ồ, các anh đã làm thế thật à?”
“Vâng, chỉ là một chuyến bay ngắn nhưng nhờ đó tôi đã có
được cái nhìn toàn cảnh vùng Pantanal.”
“Và các anh đã không tìm được tôi?”
“Không. Chúng tôi bay vào một vùng bão và phải đáp khẩn cấp.
May mắn là vẫn sống sót và không hề gì. Tôi sẽ không bao giờ mon men lại gần
một chiếc máy bay nhỏ nữa”
“Chung quanh đây không có chỗ nào đáp máy bay xuống được
cả.”
Họ cởi giày vớ ra và ngâm chân vào dòng nước. Họ ngồi trên
mấy hòn đá và nghe tiếng nước róc rách chảy qua. Chỉ có hai người, Lako và Jevy
lẩn khuất đâu đó ngoài tầm nhìn.
“Khi tôi còn là một bé gái ở Montana, chúng tôi sống trong
một thị trấn nhỏ nơi bố tôi – bố nuôi của tôi – là một mục sư. Không xa lắm nơi
ven thị trấn có một lạch nước nhỏ, cũng cỡ con lạch này. Và có một chỗ, dưới
vài tầng cây cao, giống như mấy cây này, tôi vẫn thường đến đó, ngâm chân vào
nước và ngồi hàng giờ.”
“Có phải lúc đó cô muốn lẩn trốn?”
“Đôi khi”
“Và bây giờ cô cũng đang lẩn trốn?”
“Không”
“Tôi nghĩ cô đang lánh đời”
“Không, anh lầm đấy. Tôi hoàn toàn bình an, Nate à. Tôi đặt
ý chí mình vào tay Đấng Kitô nhiều năm trước đây và tôi đi theo bất cứ nơi đâu
mà Người dẫn dắt. Anh nghĩ tôi cô đơn sao – anh lầm đấy. Người ở cùng tôi trên
mỗi bước đường đời. Người biết tư tưởng của tôi, nhu cầu của tôi và Người cuốn
đi mọi nỗi lo sợ, ưu phiền trong lòng tôi. Tôi hoàn toàn thanh thản, hòa hợp
với thế giới này”
“Trước nay tôi chưa từng được nghe những lời như thế”
“Đêm qua anh bào là anh yếu đuối và... dễ vỡ. Thế nghĩa là
gì?”
Sự xưng tội có tác dụng cho tâm hồn, Sergio đã nói với anh
như thế trong lúc điều trị. Nếu cô đã muốn biết, vậy thì anh sẽ thử gây sốc cho
cô bằng sự thật.
“Tôi là một kẻ nghiện rượu”, anh nói, gần như có vẻ... tự
hào, theo cách mà anh đã được huấn luyện để chấp nhận thực tế, trong thời kì
cai nghiện. “Tôi đã chạm đáy bốn lần trong vòng mười năm qua và tôi vừa ra khỏi
trại giải độc để làm cuộc hành trình này. Tôi không thể đoan quyết là mình sẽ
không bao giờ uống lại. Tôi đã chơi ma túy ba lần, và tôi nghĩ, dầu không dám
nói chắc, rằng mình sẽ không bao giờ đụng lại món đó. Bốn tháng trước, tôi bị
lên danh sách vỡ nợ, trong lúc ở trung tâm cai nghiện. Hiện nay tôi đang bị
truy tố về tội trốn thuế và đứng trước nguy cơ đi tù và mất giấy phép hành nghề
luật. Cô biết về hai vụ li dị. Cả hai “cựu phu nhân” đều ghét tôi và họ đầu độc
cho các con tôi ghét tôi. Tôi đã làm hỏng đời mình một cách hay ho như thế đấy”
Chẳng vui thú gì mà cũng chẳng nhẹ người đi chút nào với
khúc tự bạch đó.
Cô đón nhận mà không tỏ vẻ ngần ngại gì. “Không có gì khác
nữa sao?” cô hỏi.
“Có chứ. Tôi đã cố tự tử ít nhất hai lần – như tôi còn nhớ
được. Một lần vào tháng Tám vừa rồi, khiến tôi phải vào trung tâm cai nghiện.
Rồi vài ngày trước đây ở Corumbá. Tôi nhớ là vào đêm Giáng sinh.”
“Ở Corumbá?”
“Vâng, nơi phòng khách sạn. Tôi gần như uống say đến chết
với hai chai vodka rẻ tiền.”
“Tội nghiệp anh”
“Tôi bệnh, đúng vậy, một căn bệnh khó chữa trị. Tôi đã thú
nhận điều đó nhiều lần với nhà tư vấn”
“Anh đã từng bao giờ thú nhận điều đó với Chúa?”
“Tôi chắc là Người biết”
“Vâng, chắc chắn là Người biết. Nhưng Người sẽ không giúp đỡ
nếu anh không kêu cầu. Người toàn năng nhưng anh phải đến với Người bằng nguyện
cầu, trong tinh thần xin được thứ tha.”
“Điều gì sẽ xảy ra?”
“Mọi tội lỗi của anh sẽ được tha thứ. Hồ sơ tư pháp lí lịch
của anh sẽ được bạch hóa. Những thói nghiện ngập của anh sẽ biến mất. Chúa sẽ
khoan dung mọi sai phạm anh, và anh sẽ lại trở thành một tín đồ mới của đức
Kitô”
“Thế còn chuyện lôi thôi với pháp luật?”
“Chuyện đó không tự nhiên xóa đi nhưng anh sẽ có đủ sức mạnh
để đương đầu với nó. Bằng sự thành tâm nguyện anh sẽ vượt qua bất kì nghịch
cảnh nào.”
Trước đây Nate từng được thuyết giáo. Anh đã từng được nghe
nhiều vị Bề Trên rao giảng rất nhiều lần khiến anh hầu như có đủ khả năng để
giảng đạo... thao thao bất tuyệt như một tu sĩ thứ thiệt? Anh đã từng được tư
vấn khảo đạo bởi các vị mục sư, các chuyên gia trị liệu, các guru (đạo sư) và
các bác sĩ tâm thần của mọi “danh môn chính phái” và cả một loại “bàng môn tả
đạo”. Có lần, trong suốt ba năm giữ được điều độ, anh đã thực sự làm việc như
một nhà tư vấn cho Hiệp hội chống nghiện rượu, giảng dạy kế hoạch hồi phục mười
hai điểm cho các đệ tử Lưu Linh khác, trong tầng hầm của một giáo đường cổ ở
Alexandria. Thế rồi anh lại sa ngã.
Tại sao cô lại không cố thử cứu vớt anh? Thiên hướng của cô
trong cuộc đời này chẳng phải là hoán cải kẻ lầm lạc đó sao?
“Tôi không biết phải cầu nguyện như thế nào”, anh nói.
Cô nắm lấy bàn tay anh, siết chặt một cách quả quyết. “Hãy
nhắm mắt lại, Nate. Lặp lại theo tôi: Lạy Cha chúng con ở trên trời, xin Người
hãy tha thứ cho mọi tội lỗi của con, và giúp con tha thứ những kẻ đã phạm tội
để chống lại con.” Nate lẩm nhẩm lặp lại những lời đó và càng siết chặt tay cô
hơn. Bài kinh ấy hơi giống bài Kinh Lạy Cha. “Hãy cho con sức mạnh để vượt qua
cám dỗ, nghiện ngập và những vụ án sắp tới.” Nate tiếp tục lẩm nhẩm lặp lại lời
cô, nhưng cái nghi lễ đơn sơ đó cũng làm anh bối rối. Cầu nguyện là chuyện dễ
dàng, tự nhiên với Rachel bởi vì cô vẫn luôn làm chuyện đó. Nhưng với anh, lại
là một nghi lễ lạ lùng.
“Amen” cô chấm dứt bài kinh. Họ mở mắt nhưng vẫn còn nắm tay
nhau. Họ lắng nghe tiếng nước lùa những gánh nặng nơi anh đã được cất đi, đôi
vai anh cảm thấy nhẹ nhõm hơn, đầu óc anh trong sáng ra, tâm hồn anh bớt dao
động. Nhưng Nate nặng mang quá nhiều hành lí đến độ anh không biết gánh nặng
nào đã được cất đi, và gánh nặng nào còn lại.
Anh vẫn còn kinh hoàng bởi thế giới thực. Thật dễ dàng để tỏ
ra ta đây dũng khí khi ta đang ở sâu trong vùng Pantanal nơi chẳng có gì cám
dỗ, nhưng anh biết cái gì đang đợi anh nơi thế giới văn minh.
“Bao tội lỗi của anh đã được thứ tha, Nate à” cô nói với niềm
xác tín.
“Những tội lỗi nào? Thế ra thì tôi... vô số tội”
“Tất cả”
“Nói thế nghe quá dễ. Nhưng còn vô khối tàn dư ở ngoài kia”
“Tối nay chúng ta sẽ cầu nguyện nữa”
“Đối với tôi còn phải nhiều hơn là với những người khác”
“Tin tôi đi, Nate. Hãy đặt trọn niềm tin vào Chúa. Người
từng thấy những điều tệ hơn nhiều”
“Tôi tin cô. Nhưng Chúa khiên tôi thêm ưu tư.”
Cô càng bóp bàn tay anh chặt hơn, và trong một khoảng thời
gian trầm lặng khá dài, họ nhìn ngắm dòng nước sủi bọt chung quanh họ. Cuối
cùng cô nói: “Chúng ta phải đi.” Thế nhưng cả hai vẫn bất động.
“Tôi vẫn mãi nghĩ đến cuộc lễ tang, đến cô bé ấy”, Nate nói.
“Có gì về chuyện đó?”
“Chúng ta sẽ thấy thân xác cô bé không?”
“Tôi nghĩ vậy. Nếu không nhìn con bé lần cuối tôi sẽ rất áy
náy”
“Nhưng tôi lại ngại nhìn. Jevy và tôi sẽ quay về buôn làng
và đợi cô”
“Anh có chắc vậy không, Nate? Chúng ta có thể nói chuyện
trong nhiều giờ”
“Tôi không muốn thấy một đứa bé chết yểu”
“Được thôi. Tôi hiểu”
Anh giúp cô mang lại giày, mặc dầu chắc chắn cô không cần sự
trở giúp đó. Họ còn cầm tay nhau cho đến khi cô mang bốt vào. Như thường lệ,
Lako lại hiện ra từ một nơi nào không ai biết, và họ tiếp tục cuộc hành trình,
chẳng mấy chốc biến vào trong rừng.
Anh thấy Jevy nằm ngủ dưới một thân cây. Họ quay về trên con
đường mòn, cẩn thận trông chừng rắn nơi mỗi bước chân, và chậm rãi quay về lại
buôn làng.

