04. Bạn chiến đấu

Bạn chiến đấu

Truyện
ngắn

Mùa
hè nước Nga tắt nắng rất muộn. Bảy giờ tối mặt trời vẫn vàng rực, chưa chịu giấu
mình sau rặng bạch dương xa xa phía Tây làng Orekhovo. Những người đàn ông
trong làng thường tụ tập vào lúc này, sau một ngày đồng áng vất vả. Họ uống
bia, chơi đô-mi-nô và nói dăm ba câu chuyện tầm phào đợi cơm tối.

Bên cạnh những
người đàn ông Nga to khỏe, ở trần, da rám nắng đỏ au, đang cười nói vung tay đập
côm cốp những quân đô-mi-nô lên mặt bàn gỗ sồi là một người đàn ông châu Á.
Trông anh nhỏ bé, khuôn mặt gầy, tóc tai bờm xờm rất khó đoán tuổi. Anh mặc một
cái áo sơ mi cũ, cúc cài cúc buông, xộc xệch nhàu nhĩ. Chiếc quần ka ki màu
xám, bạc phếch, xắn đến tận đầu gối. Tư thế ngồi của anh cũng khác những người
đàn ông quanh đó. Một chân có giày buông dưới đất, một chân co lên ghế thì
không giày, cằm tì lên cái đầu gối củ lạc, mắt chăm chú theo dõi những quân
đô-mi-nô trên bàn. Chốc chốc lại thấy anh đổi chân cho đỡ mỏi, chân kia dò dò
dưới gầm bàn tìm chiếc giày há mõm, quăn queo, mốc thếch.

- Này ông, đồng
hương của ông đến đấy! - Vợ anh, một người phụ nữ Nga, bất chợt xuất hiện, thò
đầu qua lớp hàng rào gỗ gọi vọng vào.

- Bảo họ đợi một
chút, tôi chơi nốt ván đã.

- Họ lại đến mua
lợn à? - Ai đó trong hội hỏi.

- Chắc vậy! -
Anh lơ đãng trả lời và đặt quân đô-mi-nô cuối cùng lên bàn. - Tôi thắng rồi
nhé! - Anh thông báo rồi đứng dậy, chân lại rờ rẫm tìm chiếc giày lúc nãy hẩy
khỏi chân.

Người đàn ông
châu Á đó tên là Tuấn. Gần hai chục năm trước, anh được chuyển tiếp sang Nga học
năm thứ năm về ngôn ngữ. Trên một chuyến tàu, anh quen một cô thôn nữ Nga,
không xinh nhưng chất phác và đôn hậu. Họ yêu nhau, lấy nhau rồi về quê người vợ
làm lụng sinh sống, tại cái làng nhỏ bé này.

*

* *

Rất mất công Việt
mới tìm ra Tuấn nhân một chuyến công tác sang Nga. Mọi mối quan hệ được anh đào
xới để tìm ra manh mối Tuấn “điên”, cái tên mà ngày xưa mọi người vẫn gọi Tuấn.
Ở Mátxcơva có người bảo hình như Tuấn ở dưới vùng Novoxibir. Việt mua vé, bay mất
năm tiếng xuống đây. Lùng sục trong cộng đồng người Việt, những câu hỏi, những
lời miêu tả mơ hồ, những cái lắc đầu trễ nải của người được hỏi không làm Việt
nản nòng. Rốt cuộc cũng có người nhíu mày bảo: “Có lẽ đó là ông Tuấn “lợn”,
chuyên cung cấp lợn thịt, thực phẩm tươi sống cho “ốp” này. Đúng là ông ấy lấy
vợ Tây, nhưng ở cái làng cách thành phố này hàng trăm cây, khó tìm lắm đấy”.

Giờ thì Việt khẳng
định người đàn ông đang đi trên con đường làng chính là Tuấn “điên”. Cái dáng
người nhỏ bé, lưng còng còng, khi đi hai tay đút túi quần, đầu chúi ra đằng trước
như chực ngã chẳng lẫn vào đâu được. Trông anh vẫn thế, ngoại trừ cái lưng có vẻ
còng hơn dưới gánh nặng tuổi tác.

- Mua gì thế
ông? Lợn hay gà? - Tuấn vừa bước vào vừa hỏi. Dường như theo một phản xạ có điều
kiện, những người Việt Nam đến đây chỉ để mua thực phẩm tươi sống đem về thành
phố chế biến bán kiếm lời, cho nên Tuấn vào đề ngay.

- Tôi chẳng mua
gì cả, đến thăm anh thôi. - Việt vừa nói, vừa cười, nheo mắt ngắm Tuấn từ đầu đến
chân. - Lôi thôi quá! Vẫn chẳng khác gì một anh nông dân vừa cày xong thửa ruộng.
- Việt bảo.

- Thì… tôi vẫn
là nông dân đấy thôi. - Tuấn cười chống chế, đưa tay gãi đầu, nhìn Việt khó hiểu,
không rõ con người đứng trước mặt mình là ai, đến đây làm gì?

- Vẫn chưa nhận
ra ai à? - Việt mở túi xách, móc ra một vật khum khum được gò bằng tôn hoa. Năm
tháng đã làm nước mạ bay mất, chỉ còn lại một màu tôn xám xỉn. - Nhận ra ai
chưa?

- Chú Việt! - Tuấn thốt lên. - Chú khác quá, chú vẫn giữ cái này à? Bà
béo ơi, đây là bạn chiến đấu của tôi. - Tuấn bỗng hoạt bát hẳn lên, í ới giục vợ
làm cơm. Lăng xăng đi bắt gà đãi khách. Miệng không ngớt lẩm bẩm: “Là chú Việt!
Quý hóa quá! Quý hóa quá”.

*

* *

Tuấn sinh ra và
lớn lên ở một vùng quê Bắc Bộ. Khi Tuấn bắt đầu cắp sách đến trường, cũng là
lúc chiến tranh leo thang ra miền Bắc. Bom Mỹ vãi như trấu trên những cánh đồng
quê Tuấn. Tuấn đi học phải đội mũ rơm. Cha Tuấn làm cho hai cái. Một cái rộng
vành đội đầu như mũ của các bạn khác. Cái nữa nhỏ hơn, không vành, khum khum
như cái mo cau. Cha Tuấn dặn: “Đi học nhớ che dái”. Tuấn lờ mờ hiểu rằng cái mũ
đó quan trọng cho cuộc đời mình. Trẻ con mải chơi hay quên, nhiều hôm Tuấn đi học
chỉ mang cái mũ rộng vành. Tuấn đành lấy cái mũ đó che phần bụng dưới mặc cho đầu
trần. Lũ bạn thấy thế trêu chọc bảo Tuấn “điên”. Lúc đầu Tuấn còn cáu, chửi lại.
Càng chửi chúng nó càng trêu tợn, sau Tuấn thây kệ.

Khi Tuấn bắt đầu phổng phao thì thống nhất đất nước. Bố Tuấn ăn mừng chiến
thắng bằng một tiếng thở phào nhẹ nhõm. Ông sợ Tuấn sẽ phải nhập ngũ khi vẫn
còn chiến tranh. Ông bảo Tuấn: “May cho mày”.

Năm 1978, Tuấn
đã mười tám tuổi. Tuấn có giấy gọi nhập ngũ. Cha Tuấn thở dài, hóa ra chiến
tranh vẫn chưa kết thúc hẳn, sự chết chóc vẫn còn lẩn quất đâu đây. Biên giới
Tây Nam lại căng thẳng. Mẹ Tuấn khóc. Đàn bà không làm được gì hơn ngoài khóc.
Cha mẹ Tuấn chạy đôn chạy đáo làng trên xóm dưới hỏi vợ cho Tuấn trước ngày nhập
ngũ. Chẳng nhà nào đồng ý cho con gái về làm dâu nhà Tuấn. Cũng chẳng hiểu tại
sao!

Sau thời kỳ huấn
luyện thì đơn vị di chuyển vào Nam. Cuối năm đó đơn vị vượt sông Mê Kông trong
bão lửa của dàn DKZ bên kia, đánh thọc sâu vào vùng đất bên ấy.

Gần năm năm tham gia các trận đánh lớn nhỏ, Tuấn bị thương cũng vô số mảnh
nhưng không vào chỗ hiểm. Tuấn được đi học trường Ngoại ngữ Quân đội. Loắng ngoắng
thế nào lại được chuyển sang trường Sư phạm Ngoại ngữ Cầu Giấy. Thế là thành
chuyển ngành sang dân sự. Tương lai sẽ thành ông giáo.

Môi trường sinh
viên rất khác với môi trường quân ngũ. Đối với họ, chiến tranh đã đi qua rất
lâu, không còn hiện hữu trong tâm trí, không còn được nhắc đến trong bản tin thời
chiến như hồi chống Mỹ. Tuấn cũng nhận thấy rất khó nói chuyện với họ. Những
câu chuyện về vùng quê nơi Tuấn sinh ra, hay những trận đánh máu lửa của đồng đội
trên những cánh đồng, cánh rừng đất bạn không hấp dẫn họ. Họ thích nói về những
ước mơ, mà trong ước mơ đó họ là con người của chủ nghĩa thực dụng.

Tuấn phát hiện
ra trong khối còn hai người đàn ông nữa, họ lên giảng đường vẫn mặc bộ quân phục
xanh rì kiểu cũ trước năm 82, chân đi dép lốp, đôi mắt nghiêm nghị ít cười.
Nhưng chính họ lại chưa một ngày quân ngũ chứ đừng nói đến chuyện nghe tiếng
súng nổ hay xung phong dưới mưa bom bão đạn. Sự phát hiện ấy làm cho Tuấn thêm
buồn. Anh cảm thấy mình lẻ loi đơn độc, một mình một chiến hào, không có đồng đội
bên cạnh. Cảm giác đó làm cho Tuấn sợ.

Nói thế cũng
không phải lắm. Bởi học đến năm thứ hai thì Tuấn có một người bạn. Đó là một cậu
bé mười lăm tuổi mới nhập trường và ở nội trú như Tuấn. Trường Sư phạm có một
trường phổ thông nhỏ bên trong, gọi là nuôi gà nòi. Cậu bé mới lên cấp ba và học
ở trường đó. Tuấn tình cờ ngồi gần cậu bé ấy ở thư viện. Cậu ta chăm chú đọc một
cuốn sách, lúc nghỉ giải lao, anh ngó qua. Đó là một cuốn truyện viết về hai cô
bé bị bắt vào trại tập trung của bọn Pol Pot. Hai cô bé đã mưu trí trốn khỏi
bàn tay độc ác của lũ diệt chủng, nhằm hướng Đông cắt rừng lội suối sang được đến
miền đất tươi sáng là Việt Nam. Tuấn bảo: “Anh chiến đấu ở đấy gần năm năm”. Thế
là họ thành bạn của nhau. Chỉ có cậu ấy mới nghe được những câu chuyện của Tuấn,
mới hiểu được những giấc mơ ám ảnh, chia sẻ với anh ký ức trận mạc. Có một người
bạn vong niên như thế là Tuấn vui lắm rồi.

Tuấn bắt đầu mắc
chứng mất ngủ. Lúc đầu chỉ là khó ngủ. Cứ chợp mắt là thấy ánh sáng lòa của quầng
lửa B40, tiếng xé gió rách tai của đạn pháo vượt qua đầu, tiếng cắc đùng của cối
cá nhân, tiếng rên la của đồng đội. Thường thì Tuấn bừng tỉnh ngay trước khi mơ
mình bị bắn chết. Mồ hôi đầm đìa ướt áo, tim đập thình thịch hốt hoảng như ngày
đầu ra trận. Những cậu sinh viên cùng phòng tỏ vẻ khó chịu ra mặt với những cơn
mơ của Tuấn. Họ bảo: “Đã nóng, đã đói cố mà ngủ cho quên, anh lại cứ la hét ầm ầm
thế bố ai mà ngủ được”. Tuấn cảm thấy mình có lỗi vì làm phiền những người xung
quanh. Anh đi ra ngoài cho họ ngủ.

Tuấn lang thang
trong khuôn viên trường đến gần sáng, khi trời đã bớt hầm hập nóng, anh ngả
lưng chợp mắt một lát dưới mái hiên ngôi nhà nào đó. Tuấn thiếp đi trong sự mệt
mỏi và không còn sức để mơ về những trận đánh, nhưng đôi khi mơ đẹp: được làm
tình với bọn con gái. Những đêm như thế, Tuấn hay bị dậy muộn vì cứ nấn ná nhấm
nháp sự sung sướng trời chỉ ban cho trong giấc ngủ. Cho đến lúc sáng rõ, có tiếng
người lao xao đi học và cú đá vào mông của mấy cậu sinh viên: “Tuấn điên, dậy
đi” thì anh mới lồm cồm bò dậy về phòng đánh răng rửa mặt, chuẩn bị sách bút
lên giảng đường.

Bọn sinh viên
trong trường cả gái lẫn trai, năm trên khóa dưới đều biết đến Tuấn. Chúng nó gọi
Tuấn là Tuấn điên. Anh cũng mặc kệ, từ bé anh đã nghe tên mình như thế thành
quen tai.

Người quản lý ký
túc xá cũng từng là một người lính thời chống Mỹ. Ít nhiều ông cũng hiểu và
thông cảm cho hoàn cảnh của Tuấn. Ông thu xếp cho anh một căn phòng khoảng sáu
mét vuông ở tầng áp chót. Thực ra nó là một cái nhà tắm công cộng được bố trí ở
chiếu nghỉ tầng bốn rưỡi của một ngôi nhà bốn tầng xây từ những năm 50. Nước
nôi khan hiếm đã biến cái nhà tắm ấy thành hoang phế nhiều năm nay. Tuấn dọn dẹp
sạch sẽ và kê vào một chiếc giường sắt.

Cứ ngỡ là không
còn làm phiền đến ai thì Tuấn có thể yên tâm la hét rồi vùi mình trong giấc ngủ.
Hóa ra không phải vậy! Những giấc mơ vẫn hiện về, không còn chói lòa ầm ĩ như
trước, nhưng ám ảnh nặng nề hơn rất nhiều. Giấc mơ về những trái mìn cóc và những
đôi chân không lành lặn của đồng đội. Có lần Tuấn mơ thấy trái mìn nhảy lên
ngang hông. Nó không nổ ngay như mọi khi. Nó biết nói tiếng người và hỏi anh:
“Tao đang ngủ sao mày giẫm vào tao hả thằng kia?”. Tuấn trả lời: “Mày màu cứt
ngựa lẫn với cỏ đất tao đâu nhìn thấy”. Nó lại bảo: “Bất luận thế nào mày cứ giẫm
lên tao, làm đau tao thì tao phải nổ”. Và nó cười ngạo nghễ trước khi phát nổ.
Tiếng nổ không to, sát thương không rộng nhưng tàn độc. Người dính mìn cóc
không chết nhưng mất vĩnh viễn đôi chân, tệ hơn là mất cả đôi ngọc hoàn, cướp
đi quyền năng tạo hóa ban cho đàn ông để có thể làm khổ đàn bà. Một người đàn
ông nếu có cụt cả hai chân đến bẹn, nhưng quyền năng tạo hóa vẫn còn, thì họ vẫn
còn cơ hội để làm khổ một ai đó. Còn chút ít niềm hy vọng để sống, để tồn tại
hay ít nhất cũng còn có thể tự làm khổ mình như anh trong những giấc mơ hoan lạc.

Cũng có thể do ý
thức được cái mũ không vành cha làm cho thời thơ ấu, nên Tuấn rất chú trọng giữ
gìn bảo vệ phần dưới rốn. Lần đầu tiên Tuấn biết thế nào là mìn cóc khi bám
theo xe tăng đánh cứ điểm. Xe tăng tấn công đi trước mở đường, bộ binh nép theo
sau tác chiến cùng. Người bên cạnh Tuấn dính mìn cóc, anh nhìn rõ khoảnh khắc
trái mìn nhảy lên rồi nổ tung. Người ấy đổ ập xuống sau tiếng nổ, đau đớn tột
cùng với cái quần rách nát lùng bùng xương vỡ lẫn thịt vụn. Sự việc còn kinh
hoàng gấp bội khi Tuấn phát hiện ra cặp ngọc hoàn của người lính đó văng lên
nóc xe tăng. Tuấn nhìn thấy nó rất rõ, thậm chí còn thấy mấy sợi lông bay phất
phơ dính trên một mẩu da bìu vương vãi. Tuấn buồn nôn và ngồi thụp xuống. Chẳng
ai quan tâm, lính mới nhìn thấy máu me phát nôn là chuyện thường.

Tuấn cắt vỏ đạn lựu pháo 105 rồi gò thành một cái mũ không vành hình tam
giác, khum khum che kín chỗ cần che. Đục lỗ ba đầu luồn dây dù treo lên người.
Lúc đầu bọn trong đơn vị cười sằng sặc không chấp thằng Tuấn “điên” này. Thời
gian sau, đơn vị càng vào sâu, càng trúng nhiều mìn càng mất nhiều ngọc hoàn.
Những người lính trẻ tuổi bắt đầu lo sợ, họ cũng làm như Tuấn. Ít ra là cả tiểu
đội Tuấn đều có rọ mõm như cách gọi tếu táo của lính. Đúng là Tuấn chẳng biết gọi
nó là gì, áo giáp cũng không phải, quần giáp thì nghe không lọt tai, cuối cùng
ai đó gọi là rọ mõm thấy hay hay rồi quen tai. Rọ mõm được cất trong ba lô, lúc
nào lâm trận thì dùng. Sau chợt hiểu mìn không đợi vào trận đánh mới nổ, mìn có
ở khắp mọi nơi nên Tuấn chỉ tháo rọ mõm khi đi ngủ.

Trong cái chuồng cu sáu mét vuông này, trái mìn biết nhảy biết nói hiện
diện khắp nơi. Hồi đầu nó chỉ xuất hiện trong giấc ngủ. Bây giờ cả trong lúc thức,
lúc Tuấn đang ngồi học bài cũng nghe văng vẳng bên tai: “Thằng kia, tao nổ
này”. Tuấn bị nó hành hạ khiến cơ thể suy nhược. Tuấn sợ nó đến mức đi đường thấy
vật gì màu nâu nâu xanh xanh là tránh thật xa, kể cả nó chỉ là hòn đá hay mảnh
sành mảnh chĩnh.

Sự sợ hãi đã lớn
đến độ Tuấn không dám bước chân xuống cái giường sắt thì cậu bé bạn vong niên của
anh tìm ra cách chế ngự nó. Cuộc sống có nhiều thứ ngược đời, cứ tưởng là đơn
giản hóa ra phức tạp, có cái phức tạp lại giải quyết vô cùng đơn giản. Cậu ra
chợ đặt ông thợ gò hàn làm một cái rọ mõm bằng tôn như trong câu chuyện Tuấn kể.
Cậu đưa cho Tuấn bảo: “Dùng thử xem”. Rõ ràng là sau đó anh tự tin hơn, anh đã
có thể khủng khỉnh trả lời ngược lại với quả mìn rằng: “Mày cứ nổ đi, bố mày mất
hai chân là cái đinh nhé, đố mày lấy được cái chân thứ ba của bố đấy”.

Có một sự lạ là
khi Tuấn đeo rọ mõm thì quả mìn ấy như có mật thám báo trước, nó trốn biệt. Chỉ
khi Tuấn tháo ra thì nó mới xuất hiện. Đã thế Tuấn đeo luôn trong người, kể cả
lúc đi học. Có điều, lúc nào cũng thấy hai tay Tuấn đút túi quần, để vừa đi vừa
giữ rọ mõm cho chắc chắn. Cái quần lính khá rộng che bớt cũng không đến nỗi
nào, chẳng phải ai cũng nhìn thấy sự khác lạ nơi anh.

Những giấc mơ chết
chóc và quả mìn biết nhảy không còn hiện diện trong cuộc sống của Tuấn thì anh
bắt đầu thấy thích ngắm lũ con gái. Nhất là lúc chúng cúi xuống múc nước ở cái
bể nước công cộng. Mắt Tuấn như bị dính vào những đường gân hằn lên sau lớp vải
lụa đen.

Tuấn chú ý đến một người con gái cùng lớp. Chị ta gầy, đen đúa và xấu
gái. Tuấn rủ chị ta đi chơi đến lần thứ ba thì chị ta nhận lời. Cũng chẳng phải
là đâu xa, chỉ loanh quanh trong trường vào buổi tối thôi. Dạo trước khó ngủ Tuấn
hay lang thang đêm, anh biết rất nhiều ngóc ngách buổi tối trai gái hay chui
vào tâm sự. Tuấn rủ chị ta vào, một thoáng lưỡng lự rồi cũng đồng ý. Bình thường
Tuấn đã không biết phải nói chuyện gì với bạn nữ. Trong hoàn cảnh này, Tuấn
càng không biết nói gì, mọi suy nghĩ biến đâu mất, đầu óc rỗng tuếch. Tuấn bèn cầm
tay chị ta và định làm cái việc như những thằng đàn ông khác ngồi gần đấy đang
làm. Anh muốn biến những cảm giác sung sướng chỉ xuất hiện trong giấc mơ thành
hiện thực. Cô gái liền đẩy Tuấn ra, chống cự quyết liệt. Chị ta hét lên: “Anh
điên à?”. Những người xung quanh giật mình dừng hết công việc của mình và ngó
sang. Tuấn phẩy tay cho qua. Đúng là đồ đàn bà!

Đây là lần đầu tiên Tuấn cật vấn bản thân mình có điên hay không. Anh còn
gặp cậu bạn hỏi: “Mày thấy anh có điên thật không?”. Cậu bạn tủm tỉm an ủi:
“Anh hoàn toàn bình thường”. Tuấn suy tư: “Sao cô ấy lại nghĩ là anh điên nhỉ?”.
Cậu bé cười: “Tại vì cô ấy điên mới nói thế”. Tuấn bật cười khà khà, như thể
anh mới phát hiện ra điều gì rất lý thú trong cuộc sống.

Hết năm thứ tư,
tuy học không khá lắm, nhưng Tuấn vẫn nằm trong danh sách chuyển tiếp. Anh được
cộng khá nhiều điểm ưu tiên. Cậu bạn Tuấn cũng vừa hết phổ thông, chuẩn bị nhập
ngũ. Tuấn bảo: “Em thích mua gì ở bên ấy thì bảo anh”. Cậu bé bảo: “Anh để lại
cho em cái rọ mõm làm kỷ niệm là được rồi”.

Tuấn bay sang
Nga vài ngày thì cậu bé cũng lên đường. Có lẽ cậu là thế hệ cuối cùng phải đối
mặt với chiến tranh, đối mặt với cái chết để bảo vệ từng tấc đất biên cương. Một
thời gian sau thì tiếng súng cũng tắt hẳn. Chiếc rọ mõm luôn ở trong ba lô người
lính trẻ như một thứ kỷ vật về một người bạn chứ chưa lần nào phải sử dụng nó.
Thời gian trôi thế mà nhanh, thấm thoắt cũng gần hai chục năm rồi.

*

* *

Bữa cơm đã được
dọn ra. Có món gà luộc như ở Việt Nam. Chị vợ Tuấn bê ra một bình rượu hoa quả
bảo nhà làm, khách quý mới mang ra đãi. Tuấn xua tay: “Cất… cất đi, để tôi với
chú ấy uống loại này”. Anh lôi ra một chai rượu trắng lắc lắc sủi tăm, nháy mắt:
“Quốc lủi, anh nấu lấy đấy”.

Chị vợ Tuấn làm
một hơi hết phần rượu rót ra cốc, quay ra thắc mắc với Việt: “Anh là bạn chiến
đấu với ông lão nhà tôi mà sao trông trẻ thế. Có chiến đấu cùng một mặt trận
không?”. Việt cười: “Biết nói thế nào với chị nhỉ? Tôi kém anh Tuấn cả chục tuổi.
Anh ấy là một trong những người lính đầu tiên chiến đấu ở biên giới Tây Nam,
còn chúng tôi là những người lính cuối cùng chiến đấu ở biên giới phía Bắc. Xét
về mặt địa lý thì khác nhau, kẻ thù cũng khác nhau, nhưng bản chất thì cùng
chung một mặt trận, mặt trận bảo vệ tổ quốc”. Cả ba người đều cười nói vui vẻ.
Tuấn bảo: “Mụ béo này sinh ra sau Đại chiến thứ hai, có biết mùi bom đạn là gì
đâu nên giải thích như chú cho bà ấy dễ hiểu. Chứ còn như anh với chú, cuộc chiến
đấu để trở về với cuộc sống thường ngày sau chiến tranh cũng ác liệt chẳng kém.
Chú là đồng đội, là bạn chiến đấu của anh trong cuộc chiến đấu đó. Đúng
không?”.

Việt ngẫm một
lúc rồi bảo: “Anh nói đúng, anh là người chiến thắng”. Như chợt nhớ ra điều gì,
Việt hỏi: “Mải chuyện quên không hỏi, các cháu đi đâu mà không thấy ở nhà?”. Tuấn
bảo: “Chúng nó đi trại hè cuối tuần này mới về. Chú ở lại chơi đợi các cháu về
được không?”. Việt từ chối: “Mai em phải quay về Mátxcơva, mọi người đang đợi ở
trên ấy. Chuyến công tác này, gặp được anh, thấy anh thế này là thành công
ngoài dự kiến rồi”.

Vợ Tuấn nhìn cái
rọ mõm hỏi là cái gì. Tuấn bảo: “Vũ khí của tôi đấy” rồi nhìn Việt phá lên cười.


Nội tháng 7 năm 2006

Báo cáo nội dung xấu