Loạn Thế Anh Hùng (Tập 2) - Chương 03 - Phần 02
Lạc Hàn đã lên đầu thuyền, ngồi xuống. Chỉ thấy hắn nâng ấm rượu, cầm chén bạc trên sàn, tự rót cho mình một chén, ngửa cổ uống cạn, làm trơn họng rồi sau đó nếm náp thức ăn, từng món, từng món, tựa hồ khá thích đĩa cá khô, động đũa liên tục, cũng liên tục tự rót rượu, nhàn nhã tự nhiên, cứ như đang ở nhà mình. Sau cùng, hắn ăn hết một cái màn thầu sấy của Triệu Vô Cực, Triệu Vô Cực cho rằng hắn sắp nói gì đó, bèn đợi hồi lâu, vểnh tai lắng nghe, lại thấy Lạc Hàn phủi áo đứng dậy, chẳng nói lấy một câu, cứ thế lên bờ. Tới tận lúc hắn tới dưới gốc cây nhắm mắt ngủ nghỉ, Triệu Vô Cực mới sực tỉnh khỏi cơn ngơ ngác. Liếc mâm rượu bừa bãi trên sàn một cái, lão không khỏi bật cười: “Hắc, nhà ngươi thế mà khôn lỏi đấy, ta bận rộn nửa ngày, cuối cùng thành ra sắp cho ngươi xơi rồi!” Lão xuất thân từ dòng dõi đế vương, về sau lưu lạc giang hồ, có hạng người nào mà chưa thấy qua, nhưng đúng là chưa từng gặp nhân vật hạng nhất thế này. Lạc Hàn nằm dưới gốc cây nhắm mắt dưỡng thần, Triệu Vô Cực không khỏi đăm đăm nhìn hắn hồi lâu.
Bảy, tám ngày sau đó đều là Lạc Hàn dừng lạc đà, Triệu Vô Cực cũng dừng thuyền. Vừa mới chuẩn bị ăn, Lạc lão huynh của lão lại tới, vẫn chẳng nói chẳng rằng, vui vẻ ăn xong thì đi. Ban đầu, Triệu Vô Cực còn cảm thấy ngạc nhiên, về sau thì cảm thấy buồn cười, sau nữa thì không khỏi có chút bất bình: Mình cứ dong thuyền đi theo thế này, thật chẳng phải đeo bám mà đã thành ra một tay đầy tớ dọc đường nấu cơm làm tạp vụ, cần gì cho nấy mà chẳng tốn một xu nào của hắn rồi. Bởi thế, bữa sáng hôm đó, Triệu Vô Cực cố ý không cập bờ mà dừng ở lòng sông cách bờ năm, sáu trượng, khơi bếp lò, đốt củi, khói bếp bốc lên, lại cố ý làm món cá sông, nghĩ thầm: Phen này coi ngươi làm thế nào?
Không ngờ, lão vừa nấu cơm xong, Lạc Hàn đã đi tới bờ sông, Triệu Vô Cực cười thầm: Lần này ngươi phải đói một phen rồi chứ? Đâu ngờ Lạc Hàn nọ nhìn về dòng sông một cái rồi lại ngẩng đầu ngắm nghía, sau đó bất chợt tung người nhảy lộn lên, nắm một cành cây du già ven sông. Cái cây này rất cao, Lạc Hàn thân pháp đẹp đẽ, tựa cưỡi gió đạp không, chuyển mình vòng vòng đi lên, một cái nhảy này phải cao hơn hai trượng, vừa mới tới được đầu cành cây, hắn liền vươn tay vin kéo đầu cành đó. Cái cành ấy vốn thô to như nhánh rễ, Lạc Hàn vận sức một cái, cành cây lập tức bị ép uốn thành nửa hình tròn, kế đến Lạc Hàn buông tay, cành cây lập tức bật ngược trở lại, thân thể Lạc Hàn cũng như đạn nằm trên ná, theo cái bật ngược của cành cây mà bắn đi, phóng vù vù thẳng tới con thuyền. Bấy giờ đã gần giữa trưa, hơi nước trên mặt sông bắt đầu bốc lên, hắn liền dang hai tay, tựa như có thể lướt trên dòng khí, chớp mắt đã tới nơi, nghiêng nghiêng đáp xuống khoang thuyền. Triệu Vô Cực không kìm được kêu một tiếng “hay”, khinh công của gã Lạc Hàn này quả nhiên riêng thành một nhà: Liệng như yến tía, nhảy như vượn xanh. Triệu Vô Cực biết chất gỗ của cây du nọ vốn không mềm dẻo, vậy mà Lạc Hàn có thể dùng tay vin nó thành hình cong mà lại không làm gãy để mượn lực bắn đi, một ngón này dùng tới không chỉ là khinh công mà còn là một môn nội lực bất phàm; kế sau, hắn cưỡi khí lướt đi giữa không trung, sự nắm giữ khí tức này càng cần kĩ xảo, tuy Triệu Vô Cực nghe nhiều biết rộng mà cũng không biết nguồn cơn; tuy Lạc Hàn thoải mái tự nhiên nhưng trong cú nhảy này đã hiển lộ ba loại võ học cực kỳ cao thâm, Triệu Vô Cực không khỏi xem mà thích chí, tầm mắt được rộng mở. Tới lúc sực tỉnh, chỉ thấy Lạc Hàn đã ngồi ở đầu thuyền, múc một bát canh, thong thả ăn uống. Ăn xong, hắn ngồi thêm một lúc cho tiêu cơm rồi mới cầm một ống trúc trên thuyền quăng về phía bờ, ống trúc nọ bay lướt trên mặt nước, thân hình Lạc Hàn liền động, nhảy vút lên, một chân điểm lên ống trúc nọ, mượn ống trúc vượt sông, chớp mắt đã lên bờ, bỏ lại cái ống trúc dài hơn hai thước hơi rung rung cắm ở bờ sông.
Về sau, một già một trẻ thường đấu đá nhau như trẻ con. Mới đầu còn xa lạ, lâu ngày rồi cũng thành quen. Tuy không nói chuyện với nhau nhưng có ngày tốt, có ngày xấu, mỗi ngày đều có chút mới mẻ. Lúc vui vẻ, Triệu Vô Cực sẽ đưa thuyền về bờ, chú tâm làm cơm, tay nghề của lão không tệ, do từng nếm qua mỹ vị, bây giờ để tâm mà làm, thứ nào thứ nấy đều mới lạ, độc đáo. Một dải này lại là quê hương của lúa gạo, cá tôm, cá dưới sông, rau trên bờ, tất tật tươi ngon. Tới lúc không vui, Triệu Vô Cực liền neo thuyền giữa sông, càng cố công làm cơm, khiến cho món cá sông nọ hương đưa mười dặm rồi đưa mắt nhìn trêu tức Lạc Hàn. Mà Lạc Hàn kia lại thành ra thực khách duy nhất, tuy lúc ăn không nói gì nhưng ánh mắt tự có phản ứng, ngon hay không đều nhận ra được. Chỉ cần ánh mắt hắn sáng lên, chính là cảm thấy mùi vị tươi mới, ngon lành, trong lòng Triệu Vô Cực không khỏi mừng rơn; nhưng nếu hắn chẳng đổi sắc mặt thì tức là nhạt nhẽo, vô vị, Triệu Vô Cực liền như phải chịu sỉ nhục cực lớn, trong lòng muôn phần khó chịu, bữa sau làm cơm nhất định phải làm thật tốt, đòi về phần mặt mũi này.
Có lúc, Triệu Vô Cực neo thuyền giữa sông, cũng neo xa dần nhưng mỗi lần cũng chỉ xa hơn lần trước nửa trượng, không nhiều, không ít. Lão biết khinh công của Lạc Hàn trác tuyệt, có ý muốn khảo nghiệm cực hạn của hắn. Điều khiến lão giật mình chính là, Lạc Hàn nhảy một cái mà có thể xa tới bốn, năm trượng, thêm vào tá lực súc thế, chuyển hoán thân hình, mượn cành cây, thân trúc thêm sức càng có thể phóng đi xa tới bảy trượng! Món khinh công này, theo hiểu biết của Triệu Vô Cực, trong giang hồ, trừ quỷ thứ chín Mị Ảnh Tôn Phong trên Long Hổ sơn ra, chỉ e không ai bì được. Triệu Vô Cực ham võ thành tính, lại gặp được Lạc Hàn chịu bị khảo nghiệm, đương nhiên thích thú. Hôm đó, lão thử ra được cự ly bảy trượng chỉ e đã là cực hạn của Lạc Hàn, cố ý neo thuyền xa thêm một chút, nhưng không xa thêm nửa trượng nữa, chỉ dịch thêm ba thước. Lão ngồi ở đầu thuyền, dương dương tự đắc, Lạc Hàn trông thấy, khẽ cười, tựa như không có gì khó. Hắn lại mượn sức cành cây phóng vút đi, mới được bảy trượng, thân thể quả nhiên rơi xuống, có điều hắn vốn cong eo, lúc này eo duỗi thẳng, vị trí cơ thể trong không trung tuy không thay đổi nhưng tay lại vươn thêm về phía trước được hơn một thước. Bằng cái vươn này, ngón tay của hắn chạm được dây neo thuyền, thân thể cũng sắp va xuống mặt nước. Hay cho Lạc Hàn! Dùng sức hai ngón tay lại có thể khiến thân thể vươn lên! Chỉ thấy thân thể hắn cất lên, lộn trong không trung ba vòng mới đáp xuống thuyền. Triệu Vô Cực xem tới mức hoa mắt chóng mặt, bởi một phen này Lạc Hàn cũng đã dốc hết sức, khí tức chưa kịp điều hòa, thế đáp hơi nặng, thuyền nhỏ không vững, chịu cái chấn động này của hắn, tuy chưa tới mức lật nhưng chỉ sợ canh trên bếp sẽ văng đi mất. Triệu Vô Cực không nỡ bỏ, liền đưa tay đỡ lấy Lạc Hàn, hai người nhìn nhau bật cười, đem hồi cãi cọ chỉ vì một con chim âu ban sáng cười xòa xua tan hết.
Ngày hôm sau, Triệu Vô Cực lại dịch thuyền xa thêm mấy thước, muốn xem xem Lạc Hàn làm thế nào. Biết đâu lúc cơm chín, Lạc Hàn tới nhìn cũng chẳng buồn nhìn, lại vỗ vỗ đầu con lạc đà, ghé sát tai nó nói vài câu, con lạc đà bèn đứng dậy, lội xuống nước, bì bõm bơi đi.
Con lạc đà nọ bơi thẳng đến đầu thuyền, cắn lấy hai cái màn thầu rồi quay đầu bơi về. Triệu Vô Cực sững người, trong lúc ngớ người, con lạc đà đã lên tới bờ. Lạc Hàn nhận màn thầu từ miệng lạc đà, cũng không ngại bẩn, mở miệng cắn luôn một miếng. Triệu Vô Cực không khỏi cười khan: Một là cười thiếu niên này đúng là cùng ăn cùng ngủ với con lạc đà, thứ hai là cười con lạc đà thật đúng là hệt như nghe hiểu tiếng người. Đợi một lúc, Lạc Hàn dường như cảm thấy nhạt miệng, bèn tước vỏ cây, dùng móng tay vạch vạch mấy nét rồi đưa cho con lạc đà ngậm lấy, lại bì bõm lội đi như vừa rồi.
Triệu Vô Cực đón lấy miếng vỏ cây, trông thấy bên trên chỉ vạch vạch qua quýt hai chữ: “Món ăn” thì không khỏi phì cười. Được cái lưng con lạc đà này vừa rộng vừa dày, Triệu Vô Cực lấy hai đĩa thức ăn đặt lên lưng nó, để nó đem về bờ.
Cứ tiêu dao như thế gần mười ngày. Mười ngày sau, hai người đã tới trước Mã Yên sơn.
Mảnh đất này có tên Thái Thạch Cơ. Lúc hai người tới nơi thì đã quá chiều, ráng chiều như gấm. Triệu Vô Cực làm thân ngư tiều mười năm, cũng hiếm thấy được cảnh đẹp bằng này, thật đúng là: “Ráng chiều và bóng vạc cùng bay, nước thu hòa dải trời một sắc[41]”. Ngắm cảnh trí này khiến người ta cảm thấy sống tới già ở nơi quê mùa này cũng cam lòng. Lúc lão nấu cơm xong, Lạc Hàn lại lên thuyền như trước, hai người yên lặng ăn cơm.
[41] Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thủy cộng trường thiên nhất sắc. Trích bài Đằng Vương Các tự của Vương Bột (649-675) thời Đường.
Mười mấy ngày nay, tuy Triệu Vô Cực chưa từng quên thân phận đôi bên nhưng đã cảm thấy hai người giống như bằng hữu. Một đời này lão ít có bằng hữu, nhưng ở một chỗ với Lạc Hàn, lão tựa như quên đi tuổi tác của bản thân, chỉ cảm thấy như cò vạc một bè, đôi bên không hề nghi kỵ.
Ăn cơm xong, Lạc Hàn nhất thời không động đậy, Triệu Vô Cực cũng không vội thu dọn. Hai người ngắm ráng chiều kia, cả con sông dường như được phủ lên một tầng vàng óng.
Hồi lâu, Lạc Hàn chợt nói: “Ta phải qua sông rồi.”
Triệu Vô Cực ngạc nhiên, tựa hồ không kịp phản ứng.
Lạc Hàn ngắm ráng chiều nơi chân trời, diễm lệ là thế, xán lạn là thế, nhưng mặt trời vừa xuống, chúng sẽ lập tức thuộc về ngày hôm trước. Còn ngày mai ư, chiều ngày mai, ai mà biết sẽ là sắc mây gì, không chừng còn biến thành nặng nề, u ám. Hôm nay có lẽ thuộc về bọn họ, ráng chiều sau cùng của hắn cùng một lão đầu. Phiêu dạt tương ngộ, ngẫu nhiên hiểu nhau, có điều giờ Lạc Hàn nói: “Ta phải qua sông.”
Triệu Vô Cực nghe tới lần thứ hai mới tựa như hiểu được. Lão cũng nhìn về ráng chiều sặc sỡ, không nói gì. Đời này, những cuộc gặp gỡ ly kỳ của lão nhiều không đếm được, nhưng cùng thiếu niên này ngồi trên một chiếc thuyền con, cùng trải thú ngư tiều, cùng ăn cơm hơn chục ngày, phong vị trong đó thật như là truyền thuyết. Nhưng khổ nỗi, tất cả truyền kỳ đều không được lâu dài, thiếu niên này kiệt ngạo khó thuần mà bản thân lão thì cũng là người trong cái xã hội hiện thực này. Trong cái xã hội hiện thực này, không chỉ có ráng chiều, sông nước, thuyền đơn, mà còn một trường tranh đấu không cách nào tránh né được, có rất nhiều mưu toan không thể không thực hiện.
Lão biết ý của Lạc Hàn, hắn nói sắp qua sông không phải là muốn mình đưa hắn qua sông mà nghĩa là từ sớm đã đoán được mục đích mình bám theo. Hắn có một con lạc đà giỏi bơi lội như thế, qua sông đối với hắn hẳn không phải việc gì khó. Nghĩ tới đây, Triệu Vô Cực thở dài một tiếng.
Thở dài là một dạng tạm dừng tâm linh, cái thở dài ấy của Triệu Vô Cực rất dài, bởi một khắc ấy, tâm tình được buông lỏng, có thể chẳng cần nghĩ ngợi gì, hỏi han gì, dài tới mức lão hy vọng có thể vĩnh viễn không cần lại nghĩ tới mấy thứ công danh lợi lộc, ưu phiền thế tục nữa.
Kế đó, lão mở miệng nói: “Xem ra ta không thể không ngăn ngươi. Duyên phận ngồi ăn cơm cùng thuyền của hai ta xem ra cũng đã tận rồi.”
Lão khẽ bấm đốt ngón tay. “Sau khi nam độ, tính ra hai lão già bọn ta cũng đã thoái ẩn mười ba năm. Bọn ta không muốn thoái ẩn, nhị đế bị bắt lên phía bắc, nước nhà tan nát, ta thật chẳng biết mười hai năm rồi bọn ta làm sao mà sống. Nhưng Viên lão đại... Viên lão đại ép bọn ta quá chặt, bọn ta không có cơ hội. Đường ca Vô Lượng của ta so với ta còn chất chứa sâu hơn một chút, nhưng kể như là ta cũng hiểu được cái đau khổ trong lòng lão. Ngày ngày thuyền chài gió sông, ngư tiều canh độc, xem tựa ẩn dật, kỳ thực làm sao dứt được lòng muốn nhập thế, dạ muốn oai hùng của ta. Trong lòng hai lão già bọn ta, bầu lửa giận kia chưa từng lụi tắt.”
Sau đó, lão vỗ vỗ sàn thuyền. “Tiểu bằng hữu, mười mấy ngày nay ta cùng ngươi kẻ ngồi thuyền, người cưỡi lạc đà, cùng song hành, ta mới coi như cuối cùng đã nếm được một chút cái thú ẩn dật. Ta thuở nhỏ học tập thư pháp, thường dùng thơ từ của danh gia luyện chữ, cũng coi như đọc qua không ít thơ, nhưng tới tận ngày hôm nay, ta mới hiểu thế nào gọi là: “Trong núi lặng yên xem bụt sớm, dưới tùng trai giới ngắt quỳ sương”.”
Nói rồi, lão thở dài: “Thế nào là: “Lão quê chẳng vướng tranh hơn được, âu biển bởi sao cứ ngại ngờ[42]”.”
[42] Trích bài Tích vũ Võng Xuyên trang tác của Vương Duy (677-759) thời Đường. Nguyên văn: Sơn trung tập tĩnh quan triêu cẩn, tùng hạ thanh trai chiết lộ quỳ. Dã lão dữ nhân tranh tịch bãi, hải âu hà sự cánh tương nghi.
Lời lão bình đạm nhưng rất khó hiểu, xem ra xuất phát từ chân tâm. Bấy giờ, lão nhìn về phía tây, dưới ráng chiều muộn, con đường bọn họ vừa đi tựa đã xa xôi, nhạt nhòa, giống như chèo buông ngấn nước, chèo qua rồi nước chẳng còn ngấn gì. Đời người, chút ít thanh nhàn cùng khoái lạc cũng đều thế chăng? Mấy chuyện buổi sớm hái râm bụt, dưới sương ngắt hoa quỳ, trên đường gặp lão nông, mua rau đổi gạo; mấy trò vui cười đấu khinh công, đọ nấu nướng ồn ào, thú vị; còn cả chút giản dị rau dại góp bữa ăn, lá rụng vun làm củi đối đãi nhau cũng đều thoáng qua như mộng. Tỉnh khỏi giấc mộng này, trong hiện thực, lão cùng thiếu niên Lạc Hàn này không thể không đối mặt đánh một trận, cũng không thể không có xung đột, bởi vì, Triệu Vô Cực để ý thấy mái tóc bạc phất phơ trong gió chiều của mình, ngày tháng của lão cũng không còn nhiều nữa. “Tuổi xế chiều, bởi vậy ngược dòng mà đi”, đại trượng phu không lập công dựng nghiệp trên đời, không bước trên con đường huy hoàng, cõi người này, há chẳng phải đi uổng một chuyến rồi sao?
Lão nhìn Lạc Hàn, kìm nén lòng thương cảm của mình, bình tĩnh nói: “Người trong giang hồ chẳng được theo ý mình. Giang Nam vốn là một đầm nước chết, may có ngươi tới, một kiếm khuấy lên. Đứng ở lập trường của ta, bất kể thế nào cũng không thể để ngươi cứ thế nhàn nhã rời đi được. Ta không phải muốn đánh nhau sống chết với ngươi nhưng chí ít ta cũng phải vây ngươi bảy ngày, không chỉ là ta, cả Giang Nam lúc này không biết có bao nhiêu người muốn mượn một kiếm của ngươi. Sau bảy ngày, đại cục đã thành, tới lúc ấy ngươi có muốn đi cũng không đi được nữa. Kỳ thực, chuyện này với ngươi cũng chưa hẳn không phải chuyện tốt. Dựa vào tài năng của ngươi, chôn danh ở tái ngoại há chẳng đáng tiếc sao? Giờ vừa hay là cơ hội tốt, chỉ cần ngươi nắm lấy, có rất nhiều thế lực mặc ngươi sử dụng, chưa chắc ngươi không thể tự thành một phe, dựng riêng cờ xí. Bọn ta chỉ muốn ngươi đi đầu, đánh một trận với Viên lão đại, quấn lấy hắn, thu hút tinh lực của hắn, mọi người sẽ có cơ hội cải biến cục diện Giang Nam.”
Lạc Hàn lãnh đạm hỏi: “Nếu không thì sao?”
Triệu Vô Cực nói: “Vậy tiểu lão nhi đành xuất thủ thôi.”
Lạc Hàn đứng dậy, bên trái hắn, ánh chiều len tới, chiếu rạng nửa khuôn mặt bên trái. Đấy là một nét mặt vững vàng mà đẹp đẽ, tuy không cất tiếng nhưng đường nét ấy tựa như đã nói lên lời hắn muốn nói: Hắn muốn sống cuộc sống của mình, không muốn dây dưa hay ràng buộc, không cần thế lực, cũng không muốn để kẻ khác sử dụng, chỉ nghe hắn lẳng lặng nói: “... Chiến thôi!”
Cảnh Thương Hoài một đường đuổi gấp, tới được Thái Thạch Cơ cũng chỉ tốn có hai ngày. Bờ sông trống không. Lúc hắn tới bên sông đã là giờ Tý nửa đêm. Mùng Ba tháng Mười một, một vầng cong mỏng như có như không treo trên nền trời, đấy hẳn là mặt trăng, kẻ mắt kém gần như nhìn không ra.
Trăng mảnh như tơ, bờ sông dưới trăng chẳng có ai, không Lạc Hàn, cũng không Triệu Vô Cực, Cảnh Thương Hoài chỉ thấy một con thuyền. Sở dĩ con thuyền này thu hút sự chú ý của Cảnh Thương Hoài là bởi nó nằm trơ trọi cách bờ bốn, năm trượng, trên sàn đồ vật tán loạn.
Cảnh Thương Hoài gọi một tiếng, trên thuyền không có người. Hắn nhảy lên thuyền, thấy con thuyền bị một ống trúc găm xuyên sàn, cắm xuống lớp bùn dưới đáy sông, cho nên mấy ngày rồi mà vẫn không bị trôi đi. Bên trong, nước đã ngập nửa thuyền. Trên sàn thuyền, mâm chén lộn xộn, xem dụng cụ thì đều làm bằng bạc, thủ công tinh xảo, dường như là đồ dùng ngày xưa ở Trung đô. Xem ra Thạch Nhiên nói không sai, chủ nhân của con thuyền chỉ e chính là Triệu Vô Cực trong Tông thất song kỳ.
Cảnh Thương Hoài lấy ra một miếng mồi lửa, hứng gió khơi sáng, xem xét trong thuyền. Mắt hắn sắc bén, quét một cái đã phát hiện dấu vết, sau đó hắn lại nhảy lên bờ quan sát. Trên bờ có một dấu chân in trên một khoảng đất cứng, đạp gãy một đoạn rễ cây. Dấu chân nọ khá sâu, nước đã ngập tới nửa, Cảnh Thương Hoài gật đầu. Hắn lại nhảy vào thuyền, trong khoang thuyền thiếu đi một thanh xà nóc, dường như là bị rút đi. Nước đã ngập thuyền, Cảnh Thương Hoài khom lưng tìm được trong nước một cái chén, một cái mâm bạc. Chén đã bị bổ làm đôi, trên mặt mâm thì có một cái lỗ. Cảnh Thương Hoài phỏng đoán tình cảnh đương thời, trên thuyền này tựa như từng có một cuộc chiến, nếu đúng thế, xuất thủ trước nhất định là Triệu Vô Cực, bởi vì trên sàn có vết rạn, vết rạn đó men theo hoa văn vốn có của thớ gỗ tẽ ra, Lạc Hàn không ra tay kiểu này, cách xuất thủ thế này không có ai khác, rõ ràng là một môn võ công Trần Đoàn năm xưa dùng để đổi lấy ngọn Hoa Sơn với Tống Thái Tổ - Đỉnh Nãi chân kinh. Xem ra Triệu Vô Cực muốn ép Lạc Hàn lên bờ.
Lão không muốn chiến, lão chỉ muốn quấn lấy Lạc Hàn.
Lạc Hàn quả nhiên lên bờ, cho nên mới có dấu chân sâu gầy kia. Hắn vừa lên bờ thì Triệu Vô Cực đã đẩy thuyền đi, Lạc Hàn lại nhảy tới, Triệu Vô Cực đẩy thuyền đi xa bốn trượng, Lạc Hàn đã tới nơi, dùng sào trúc ghim thuyền vào lòng sông, nước sông sâu, đoạn sào trúc thòi ra khỏi sàn thuyền không được đến một thước. Kế đó, Lạc Hàn xuất kiếm, Triệu Vô Cực không kịp đánh trả, đây là kiếm ý của Lạc Hàn - đột nhiên xuất thủ, không ai liệu nổi, Triệu Vô Cực lấy chén ngăn, chén bị chẻ, lấy mâm chắn, mâm bị xuyên, sau đó Triệu Vô Cực mới có thời gian rút xà thuyền, dùng món Tề mi trường côn mà năm xưa Thái Tổ gia của lão dùng để dấy binh, danh lừng thiên hạ!
Sau đó thì thế nào? Cảnh Thương Hoài nhìn vết cỏ trên bờ, rõ ràng hai người không hề lên bờ. Nhưng trên thuyền cũng không có dấu vết, hai người kia đã đi đâu rồi? Cảnh Thương Hoài nghĩ mãi không ra, có chút nóng ruột. Hắn cũng không biết vì sao mình nóng ruột, trừ phong thư Viên lão đại nhờ hắn gửi Lạc Hàn ra, đáng lẽ hắn chẳng có chút quan hệ gì với việc này. Coi như ở Khốn Mã Tập hắn thiếu Lạc Hàn một món nợ ân tình, nhưng hắn bị Lạc Hàn giá họa, bị Đề kỵ quấn lấy gần hai tháng trời, thế cũng coi như hòa rồi, nhưng Cảnh Thương Hoài vẫn không kìm được mà quan tâm tới Lạc Hàn.
Hắn không lo lắng về võ công của Lạc Hàn, mà là đối phó với hạng cáo già như Triệu Vô Cực, chỉ dựa vào võ công thì còn xa mới đủ.
Cảnh Thương Hoài ngẩng đầu, nhớ lại lời Thạch Nhiên nói lúc hắn rời khỏi sơn môn ngày hôm đó: “Ngài cần tìm được Lạc Hàn, hắn cũng nhất định phải lộ mặt. Mười năm nay, chưa một ai có thể mảy may làm dao động Đề kỵ. Lúc này, hắn có biết có bao nhiêu người thừa dịp làm loạn không? Ngay ở trong Thất mã của chúng tôi, Phi kỵ bị thương, Thiết kỵ đã chết, Phiêu kỵ Lư Lãnh Ca cũng bặt vô âm tín, đoán chừng đều do Văn gia thừa cơ ra tay, mà người của bọn chúng cũng chẳng tốt lành đâu. Viên lão đại đã nổi giận, Lạc Hàn hắn nhất kiếm tung hoành, xong việc thì đi, hắc, không giết hắn làm sao bình ổn được cái loạn ở Giang Nam đây?”
Đột nhiên, Cảnh Thương Hoài nghe được tiếng lạc đà kêu, dài mà lanh lảnh, đêm khuya tĩnh lặng thế này, nghe mà run người. Cảnh Thương Hoài giật mình, âm thanh đó giống tiếng con lạc đà của Lạc Hàn. Thân hình hắn vút đi, lần tiếng tìm tới, men sông đi một mạch bốn, năm dặm, chỉ thấy dòng sông chợt chuyển, trước mắt bỗng xuất hiện một ngọn núi, núi đó thế đâm ngang, ép dòng chảy vòng sang trái mà đi, dưới núi dòng nước tách đôi, bỏ lại một bãi cát nông. Con lạc đà đang ở bãi cát đó kêu bi thiết. Sắc lông xanh, cốt cách thẳng thớm, đúng là con lạc đà Lạc Hàn cưỡi. Cảnh Thương Hoài cả kinh, nhưng vẫn không thấy chủ nhân của nó đâu, chỉ thấy con lạc đà gục đầu nghe ngóng dòng sông nọ một lúc, kế đến lại ngẩng đầu kêu lên, tiếng kêu đau buồn, lòng Cảnh Thương Hoài lặng xuống: Lạc Hàn đã đi đâu? Triệu Vô Cực cũng đã đi đâu?
Bằng vào một chiêu Hồ kiếm của Lạc Hàn, Triệu Vô Cực không có chỗ dựa sẽ không xuất thủ, lão dựa vào cái gì mà có lòng tin có thể vây khốn Lạc Hàn?
Kỳ thực, Cảnh Thương Hoài ước đoán vậy mà đúng tới già nửa. Hôm đó, sau khi Triệu Vô Cực rút Tề mi côn, lão cùng Lạc Hàn hai người đều đứng im, một ở đầu thuyền, một ở đuôi thuyền. Triệu Vô Cực cũng không muốn một mình va chạm với một kiếm sắc nhọn của Lạc Hàn, hồi lâu bèn cười nói: “Có giỏi thì ngươi cứ xuống nước mà đuổi ta, tiểu lão nhi ở trong nước có thể ngụp bốn ngày bốn đêm không ăn uống đấy! Ngược lại, ta cũng đâu muốn thắng ngươi, ngươi chẳng phải Viên lão đại, gã mới là nhiệm vụ của ngươi, ta chỉ muốn bám lấy ngươi, muốn ngươi không qua được sông, cứ lưu lại đây trước rồi nói.”
Dứt lời, lão bật cười ha ha rồi mang côn nhảy xuống nước.
Lạc Hàn kinh ngạc, không nghĩ tới lão nhân nọ lại dùng chiêu này, không khỏi có phần vô lại. Lạc Hàn hắn tuy tài cao gan lớn nhưng qua lại mười mấy ngày đã biết được Triệu Vô Cực này tất là cao thủ, lần này bản thân xuống nam, trong những người gặp được, trừ Cảnh Thương Hoài ra, luận về võ công tu vi, chỉ e có người này xuất chúng. Có lão rình trong nước, nếu mình cưỡi lạc đà qua sông... bản thân không nói làm gì, Đà Nhi là con vật mình yêu quý, không thể để Triệu Vô Cực nọ hại nó.
Hắn trầm ngâm một lúc, đang định lui trở lại bờ, Triệu Vô Cực đã nhảy khỏi mặt nước, nói: “Lạc tiểu ca nhi, ta biết ngươi tới từ sa mạc, là kẻ nơi man di, chỉ e từ nhỏ tới lớn chưa từng thấy nhiều nước thế này. Sao thế? Không dám xuống à?”
Lạc Hàn biết rõ lão khích tướng, miệng cười lạnh, rốt cuộc vẫn là thiếu niên khí thịnh, nói: “Thủy chiến ta lại sợ lão chắc?” Nói rồi, hắn hít dài một hơi, hai chân nhún một cái, nhẹ nhàng nhảy lên, tựa ảo ảnh lóa không, chui vào lòng nước, không chút tiếng động. Trước khi xuống nước, hắn đã bảo lạc đà tự mình qua sông, hắn muốn ở trong nước bảo hộ.
Lạc Hàn vừa xuống nước liền mở to mắt, sau đó đã cảm thấy không hay, trong nước tựa như có rắc thứ thuốc gì đó, làm buốt đau hai mắt, hắn đành nhắm mắt lại, nhưng cũng đã nhìn được rõ chỗ Triệu Vô Cực ẩn mình. Chỉ thấy sau khi mình xuống nước, lão lại đang bơi lên mặt nước. Lạc Hàn duỗi lưng, hai chân cùng đạp, xoay về lòng sông, lướt đi hơn hai trượng, hắn biết Triệu Vô Cực ắt sẽ theo tới, nước sông trôi chảy, thuốc rắc ra không giữ được lâu, hắn không sợ một chiêu này của Triệu Vô Cực, chẳng mấy chốc đã bơi tới chỗ nước sông trong vắt rồi mới lại mở mắt, thấy được bốn vó con lạc đà của mình đang đưa khỏa không xa.

