Loạn Thế Anh Hùng (Tập 2) - Chương 01 - Phần 01

CHƯƠNG 1

TÌNH THẾ BỨC BÁCH

Thì ra hai người một
già, một trẻ này không phải nhân vật tầm thường. Lão già tên gọi Triệu Vô Lượng,
người thiếu niên tên là Triệu Húc, thuộc dòng dõi Hoàng đế, vốn là người của
hoàng thất, chỉ vì loạn lạc hồi nam độ mà nòi rồng ly tán. Triệu Vô Lượng cùng
một vị huynh đệ là Triệu Vô Cực dựa vào một thân võ công mới may mắn thoát nạn.
Triệu Húc là cháu đích dòng chính, sau cơn loạn ly liền được hai huynh đệ lão
nuôi nấng trưởng thành. Bọn họ vốn cũng từng dựng cờ khởi nghĩa, dẫn một đám
người ngựa đi cần vương, sau bởi quân Kim cường đại, cuối cùng tan rã, khó khăn
lắm mới tới được Giang Nam thì lại không được Khang Vương Triệu Cấu dung nạp.
Triệu Cấu xưng đế rồi dựng đô ở Lâm An, mở lại mạch nước, nhưng hai người vẫn bị
ép phải chạy sâu vào trong giang hồ. Hai người cầm quân không giỏi nhưng võ
công đều cao cường. Triệu Vô Lượng và Triệu Vô Cực đều thạo Thái tổ trường quyền,
lại thiện dùng Tề mi côn, đương thời được người trong giang hồ xưng là “Hoàng
thất song kỳ”, bởi bọn họ đều thuộc hoàng tộc nhưng lại phải lưu lạc trong dân
gian. Có câu cửa miệng thế này: “Song kỳ
tông thất danh sĩ thẹn, chín họ giang thuyền mỹ nhân ngây
”, vế trước chính
là chỉ bọn họ.

Chuyện này tạm không
nói, lúc này chợt nghe ngoài cửa có tiếng gọi: “Chủ quán, hai ngày trước có từng
thấy một thiếu niên cưỡi lạc đà lên bờ ở đây chăng?”

Người vừa hỏi thân mặc
trường bào xanh thẫm, gương mặt gầy gò, mày thưa mắt híp, hỏi thăm cũng khá ôn
hòa. Người này điểm khác còn được, chỉ là bộ y phục kia nhìn thế nào cũng không
giống là y phục của bản thân hắn, ngờ rằng đang cải trang giả dạng. Chủ nhân
quán rượu nhỏ này là Vu quả phụ, tay nghề nấu cá tươi nức tiếng mười dặm quanh
đây, có điều dạo này khách khứa vắng vẻ, thật không ngờ vào ngày mưa gió âm u
thế này còn có khách tới cửa, không khỏi càng ân cần hơn.

Người nọ lại chỉ cần Vu
quả phụ đáp một tiếng “phải” hay “không phải”. Tới lúc nghe được chính miệng Vu
quả phụ đáp: “Phải” thì không kìm được đưa cặp mắt sắc bén quét về hướng bờ
sông. Bấy giờ bên sông ngoài mưa giăng trời sầm thì chẳng có gì cả. Bên kia,
lão đầu ăn bận như ngư ông ngồi ở thủy tạ híp mắt lại, khóe miệng lộ nét cười,
miệng lẩm bẩm: “Cuối cùng cũng tới...”

Vu quả phụ liền bận rộn
giết cá, có điều Vu quả phụ chẳng thể ngờ việc làm ăn hôm nay đâu chỉ có mỗi thế,
người nọ vừa ngồi xuống liền tiếp tục có người khác đến.

Có người không nói gì
mà trực tiếp tìm bàn ngồi xuống; có người cười hì hì, vẻ như cực kỳ hưng phấn,
cứ như trúng bạc vậy; có người lại cứ hỏi đi hỏi lại... Có điều, mấy người đó
cơ hồ đều hỏi cùng một câu, cùng một chuyện: Ngươi có thấy một thiếu niên cưỡi
lạc đà lên bờ ở đây không?

Thủy tạ của quán rượu
Vu quả phụ vốn khá rộng nhưng liên tục có người tới nên không khỏi có phần chật
chội. Lại còn hết đoàn này tới đoàn khác tới. Chỉ nghe lão đầu Triệu Vô Lượng
ngồi đó từ trước lẩm bẩm: “Hoán Nam, Chiết Tây, Tô Nam, Mân Trung, Giang Tây, Hồ
Bắc, Tương Trung, Xuyên Tây... Hắc, Văn gia làm việc quả nhiên không tầm thường,
thật mau lẹ, mới có ba ngày ngắn ngủi đã gọi tới nhiều người như thế rồi.”

Vu quả phụ sửng sốt,
cái quán này từ lúc khai trương tới giờ chưa từng đông khách tới vậy. Về sau, cứ
thêm một người tới, trên mặt Vu quả phụ lại thêm một phần xin lỗi - càng hiếm
có hơn là những người tới sau đều không gây sự, tuy chỗ còn thừa lại đều là ghế
thiếu chân, gãy tay vịn nhưng không một ai oán trách mà đều tìm lấy một chỗ mà
ngồi yên đấy, bạc bỏ ra cũng hào phóng. Có người ăn mặc xuềnh xoàng thậm chí
còn ngồi luôn xuống đất, người đến sau thấy thủy tạ quả thật chật hẹp, trụ gỗ
đã cũ nát, sợ gánh không nổi, liền gọi rượu rồi đội mưa ngồi ở bãi cát ngoài
quán. Vu quả phụ vừa nấu nướng vừa lấy làm lạ: Thật chẳng biết hôm nay là cái
ngày gì, không biết là trúng phải tà hay gặp số đỏ, lại có lắm người ăn nói ngập
ngừng, bẽn lẽn như thế đến đây. Chỉ riêng một ngày hôm nay đã đủ sánh với việc
làm ăn hai tháng lúc thường. Vu quả phụ cũng không dám hỏi nhiều, bởi quán nhỏ,
đồ ăn tích trữ không nhiều, liền vội vàng sai tiểu nhị tới thôn bên mua cá, mua
đồ.

Hồi lâu, thiếu niên ăn
mặc lối ngư dân kia mới tỉnh lại từ trong mơ tưởng, kinh ngạc phát hiện: trong
cái thủy tạ trước nay quạnh quẽ lại có nhiều người đến thế, trong quán, ngoài
quán phải có ba, bốn chục! Hắn trợn tròn mắt, không kìm được nhìn khắp lượt, chỉ
thấy thần sắc những người này hoặc âm hiểm, hoặc mạnh bạo, không giống bách
tính bình thường. Thiếu niên cũng là hạng có kiến thức, thấy trong đám này
không ít người có huyệt Thái Dương nhô cao, rõ ràng là kẻ biết võ công, mà còn
là cao thủ nội gia, trong mười mấy người ngồi ở bãi cát ngoài quán cũng có vài
kẻ rõ ràng là hào khách giới lục lâm, liền không kìm được quay sang thúc gia
mình với vẻ mặt nghi hoặc, kinh ngạc thấp giọng hỏi: “Đại thúc gia, mấy người
này đang làm cái gì thế? Chỉ e toàn là người luyện võ! Sao lại chạy cả tới cái
quán nhỏ này?”

Thúc gia hắn thấp giọng
cười, bảo: “Không sai, Húc Nhi, con chỉ cần nhìn, chớ nói gì, chẳng phải con
đang sầu không được tham dự việc náo nhiệt ngày đó sao? Không phải vội, đấy mới
chỉ là bắt đầu. Từ hôm nay trở đi, việc náo nhiệt ở sáu tỉnh Giang Nam này mới
chính thức mở màn, chỉ e thừa đủ để con xem đấy!”

Hai người họ đều đang
ngồi trong góc, sát mép nước, lại thêm cách ăn mặc tầm thường, bộ dạng dân quê
bản xứ cho nên cũng chẳng ai chú ý tới. Giữa đám người kia tựa có quen biết
nhưng đôi bên đều giữ kẽ, không ai chịu lên tiếng trước. Nhất thời chỉ nghe được
mỗi tiếng thớt gỗ Vu quả phụ đang làm cá, tuyệt không có âm thanh nào khác.

Cá không kêu được, nếu
không, dù có không kêu đau hẳn cũng sẽ khó chịu bởi sự im lặng này mà kêu lớn.
Có người cũng lạ, cứ nhìn chằm chằm mấy con cá đang liều mạng đớp đớp dưới tay
Vu quả phụ để tiêu khiển chứ không chịu mở miệng phá tan bầu không khí bức bối.

Húc Nhi nọ không kìm được
cười “híc” một tiếng nhỏ, nói: “Đâu ra một đám Bồ Tát đất thế này?”

Lời hắn chưa dứt, đã thấy
thúc gia mình trước thì đầu mày nhướn lên, sau thì vành tai cũng nhướn, kế đến mới
nghe xa xa có giọng nói hào hùng vang vọng truyền tới: “Là vị nào cho gọi, hẹn
Cảnh mỗ tới đây gặp mặt?”

Giọng nói này rõ ràng
còn phải cách nơi đây hai, ba dặm, nhưng tiếng vang như chuông, tụ như có hình,
tán như vô vật, thế như rồng bay ngựa chạy đâm thẳng vào tai chúng nhân rồi mới
bùng nổ. Húc Nhi nọ cũng là kẻ hiểu biết, miệng hô khẽ: “Oa, Khối lỗi chân khí!
Cao thủ bậc này cũng tới, hôm nay thật sự náo nhiệt rồi!”

Thúc gia hắn quay sang
nở một nụ cười khen ngợi. Trong ngoài thủy tạ người nào người nấy không khỏi cả
kinh, đều nghĩ không ra Cảnh mỗ này là người nào. Cũng không ai đáp lời. Thiếu
niên gọi là Húc Nhi nọ quay đầu nhìn về phía nam, chỉ thấy một bóng người đang
vun vút, chớp mắt đã tới gần, người nọ thân hình cường tráng, chỗ eo lại cồm cộm,
không biết đang mang theo gì, tới gần rồi mới nhìn ra, dưới nách hắn còn kẹp
theo một đứa bé. Bọn họ thoáng cái đã tới mảnh đất bên ngoài thủy tạ. Hán tử
kia dừng lại, cũng không vội đi vào mà đưa cặp mắt sắc bén quét một lượt trong
thủy tạ, người nào người nấy chỉ cảm thấy lỗ chân lông bị hắn nhìn muốn vỡ, sau
đó hán tử kia ngưng một chút rồi lại mở miệng: “Là vị nào cho mời, hẹn Cảnh mỗ
tới đây gặp mặt?”

Người này dường như
không thạo nói năng, lần thứ hai mở miệng vẫn là câu lúc nãy, trong thủy tạ vẫn
không ai trả lời, im phăng phắc, ngoài tiệm giờ mới có một lão đầu đứng dậy, cười
khà khà, nói: “Tiểu lão nhi còn đang bảo là Cảnh mỗ nào, thì ra là Cảnh Thương
Hoài, Cảnh đại hiệp, hiếm có hiếm có, ngài cũng tới phó ước sao?”

Cảnh Thương Hoài nhìn
lão, tựa như có quen biết, thoáng nghĩ ngợi mới sực nhớ người này là trưởng lão
Hà Ngụ của Ngũ Chỉ môn ở Ưng Trạch, Giang Tây. Ngũ Chỉ môn nổi tiếng bằng công
phu chỉ, trảo, cho nên trên các ngón tay của Hà Ngụ nọ cồm cộm vết chai, cũng
là nhờ điểm này mà Cảnh Thương Hoài mới nhớ ra lão, không khỏi khẽ nhíu mày,
nói: “Là Hà trưởng lão gửi thiếp hẹn gặp sao?”

Hà Ngụ kia có vẻ cũng
là một vị lão nhân tinh tường, tủm tỉm cười, nói: “Tiểu lão nhi làm gì có mặt
mũi lớn thế! Hai lão già bọn ta cũng là theo lời mời mà tới, cho tới giờ chủ
nhân vẫn chưa lộ diện.”

Cảnh Thương Hoài quét mắt
nhìn, thấy trên bãi cát còn một lão nhân hói đầu, y phục không khác Hà Ngụ là mấy,
đang mỉm cười, gật đầu với mình, liền biết lão chính là một vị trưởng lão khác
của Ngũ Chỉ môn Giang Tây - Hà Cầu. Trên giang hồ, tiếng tăm của hai lão nhân
này không tệ, Cảnh Thương Hoài yên tâm đôi chút, hắn tính tình cẩn thận, lúc
này mới nắm tay Tiểu Lục Nhi, nói: “Lục Nhi, chúng ta vào thôi!”

Mấy ngày nay, Tiểu Lục
Nhi lại được hắn trị thương, tinh thần đã hoạt bát trở lại. Nó cực kỳ tin cậy Cảnh
bá bá của mình, bàn tay nhỏ nắm chặt lấy bàn tay to lớn của Cảnh Thương Hoài,
đôi mắt đảo khắp lượt, hiếu kỳ nhìn mọi người. Cảnh Thương Hoài bước rộng, Tiểu
Lục Nhi bị hắn một tay túm lấy, hai chân gần như lơ lửng, chẳng mấy bước, hai
người đã đi vào thủy tạ. Trong thủy tạ chỉ còn lại một cái bàn ba chân cho bọn
họ. Tiểu Lục Nhi thấy trên bàn khác có đồ ăn còn nóng hôi hổi, liền quay đầu
nhìn sắc mặt Cảnh Thương Hoài - những ngày này nó cùng Cảnh Thương Hoài vào
sinh ra tử, đã hiểu được việc phải xem xét thế cục tình cảnh - thấy sắc mặt Cảnh
Thương Hoài bình hòa, tựa như sẽ không có việc gì lớn thì mới mở miệng: “Cảnh
bá bá, con đói!”

Cảnh Thương Hoài bật cười,
gọi chủ quán xào cho hai món. Vu quả phụ ở bên kia đã bận rộn lắm, vội đáp tiếng.
Không biết vì sao, bao nhiêu khách là thế, nàng lại có hảo cảm với một lớn một
bé tới sau cùng này. Tiểu Lục Nhi đã không còn bộ dạng bữa nọ ở tửu lâu thành
Lâm An, người ngợm đã tắm rửa sạch sẽ, y phục cũng đã thay, càng lộ vẻ răng trắng
môi hồng, láu lỉnh, lanh lợi. Vu quả phụ biết trẻ nhỏ thích ngọt, cố ý làm một
đĩa cá chua ngọt bưng lên. Mới đặt lên bàn, miệng cá hãy còn cử động. Tiểu Lục
Nhi cực kỳ hiểu chuyện, đặt một đôi đũa vào tay Cảnh Thương Hoài rồi nói: “Cảnh
bá bá, người ăn đi!”

Một câu nhỏ nhẹ, trong
lòng Cảnh Thương Hoài bất giác ấm áp. Hắn phiêu bạt giang hồ nhiều năm, trước
giờ phong trần bôn tẩu, vội cứu nguy cho người khác, rất ít khi cảm nhận được
phần tình cảm ấm áp này, bèn đưa tay xoa đầu Tiểu Lục Nhi, cười nói: “Lục Nhi,
con ăn đi, bá bá không đói.” Nói rồi, hắn đưa mắt nhìn đám người ngoài thủy tạ,
dáng vẻ không giận mà uy, có điều thần sắc đã chuyển thành vẻ khác. Kế đó, hắn
lấy trong người ra một tờ giấy, tiện tay rút từ con cá đặt giữa bàn ra một cái
xương dài, rồi ấn vào cái cột gỗ cạnh người, tờ giấy nọ bị cái xương găm lên
cây cột. Chỉ nghe Cảnh Thương Hoài mở miệng đọc:

“Mừng nghe Cảnh đại hiệp có dự vào việc ở Khốn Mã Tập
ngoài thành Đồng Lăng. Phong thái khi ấy khiến người ngưỡng mộ. Tiểu đệ mặc dầu
ngu dốt, vẫn mong mỏi được gặp một lần, xin hẹn ba ngày nữa gặp ở quán cá nhà họ
Vu chỗ khúc sông cách bến Tiêm Thạch hai mươi chín dặm về phía đông, cùng dự một
hồi phong hội của võ lâm chín tỉnh Giang Nam, ngoài ra còn việc quan trọng khác
muốn thương nghị, xin chớ sai hẹn khiến người buồn lòng.”

Hắn đang đọc chữ trên tờ
thiếp nọ, cuối thiếp lại không đề tên. Có người tinh mắt nhìn chữ trên đó, thấy
sự vận bút dùng mực khỏe khoắn đẹp đẽ, xứng khen chữ đẹp. Người biết về chữ
càng cảm thấy chữ này đứng riêng một thể, tách khỏi “Tô, Hoàng, Mễ, Sái[29]
của bản triều. Lão chài với đứa cháu Tiểu Húc của lão không hẹn mà cùng nhìn
vào tờ giấy. Lão nhân gọi là Triệu Vô Lượng này dường như cũng thâm sâu về món
này, chỉ thấy đầu ngón tay lão không kìm được thuận theo bút ý trên tờ giấy mà
vạch tới vạch lui, miệng lẩm bẩm: “Hắc, trong Văn gia, sau Văn Chiêu Công lại vẫn
còn người viết chữ được thế này, có thể xem là hiếm có.” Lại nghe Cảnh Thương
Hoài nói: “Tại hạ vốn cũng chẳng muốn để ý tới cái thiếp này, có điều, hắc hắc,
nếu đây là bẫy, tại hạ lại muốn xem xem. Là phiền phức thì có trốn cũng trốn
không được. Mấy ngày nay Cảnh mỗ được người cứu giúp, tạm được nghỉ ngơi,
thương thế trên người cũng đã khá hơn rồi. Giả như có trò nhố nhăng vớ vẩn gì,
Cảnh mỗ cũng chẳng ngại.”

[29] Chỉ bốn danh gia thư pháp thời Tống là Tô Đông
Pha (1037-1101), Hoàng Đình Kiên (1045-1105), Mễ Phất (1051-1107), Sái Tương
(1012-1067).

Nói tới đây, hắn trừng
mắt một cái, Tiểu Lục Nhi ở sau lưng bỗng “a” lên một tiếng. Cái bàn bọn họ ngồi
vốn chỉ có ba chân, Tiểu Lục Nhi mải nghe Cảnh bá bá của nó nói, không cẩn thận,
cái bàn cùng mâm với bát đũa sắp đổ tới nơi. Cảnh Thương Hoài chẳng quay đầu
nhìn lấy một cái nhưng đã nhận ra, lật tay phải lại, vỗ đánh “bang” lên cái
bàn, thế đánh này của hắn cực lạ, cả cánh tay phải tựa như vặn ngược lại, cái
bàn lập tức đứng vững. Tiểu Lục Nhi còn đang kinh ngạc, Cảnh Thương Hoài đã thu
tay về, Tiểu Lục Nhi hiếu kỳ, lấy làm lạ sao cánh tay của Cảnh bá bá lại có thể
vặn ngược, tính nghịch ngợm nổi lên, muốn thử lại, liền cố ý khẽ đẩy cái bàn,
không ngờ lần này chính mình lại ngạc nhiên, cái bàn không nhúc nhích tẹo nào,
nó “úi” một tiếng, đẩy mạnh hơn, bàn vẫn không xê dịch, kể cả khi nó dốc hết sức
mà vẫn không lay nổi cái bàn lấy một phân. Trí tò mò nổi lên, nó liền trượt xuống
ghế, nằm bò dưới sàn, muốn xem rốt cuộc là chuyện gì. Lại thấy ba cái chân bàn
đã ngay ngắn ghim xuống sàn, giống hệt như trời sinh đã thế, mọc rễ dưới đất,
Tiểu Lục Nhi há hốc miệng tới mức không ngậm lại được. Người trong kẻ ngoài thủy
tạ đều không khỏi cả sợ - Trung Châu đại hiệp Cảnh Thương Hoài quả nhiên không
phải hư danh! Đầu tiên, hắn dùng xương cá đâm thấu cột gỗ, kình lực vận trong
vô hình; về sau thêm một chưởng vỗ lên cái bàn, thể hiện công phu giang hồ hiếm
thấy, Thông tí quyền của Thông Châu, thể hiện một thân võ công thượng thừa. Hai
chiêu này, người ngồi đây đặt tay lên ngực tự hỏi, không ít người tự xét cũng
có thể làm được, nhưng muốn thong dong tùy ý như thế, không hình không thế mà vận
kình lực, căn bản không phải muốn thể hiện công phu mà là công phu đã tùy tâm sở
dục mà dung nhập vào hành vi thường ngày, bình thường như không, dễ như bưng rượu,
ngồi đây chỉ sợ không ai làm được như thế. Công phu ngoại gia Thông tí quyền của
Cảnh Thương Hoài nức tiếng gần xa; công phu độc môn Khối lỗi chân khí cùng với
Hưởng ứng thần chưởng “một chưởng vỗ ra,
muôn núi vọng tiếng”
hắn tự sáng tạo càng lừng danh trên giang hồ; có điều,
mọi người vẫn không ngờ tu vi của người này lại thần diệu tới bậc ấy. Húc Nhi
bên kia không khỏi lè lưỡi, nói với thúc gia mình: “Đại thúc gia, trong giang hồ
quả nhiên ngọa hổ tàng long, một chiêu này đến mười năm sau con cũng không biết
có luyện được không.”

Triệu Húc dường như bị
dao động mạnh, hắn vốn có thái độ cười cợt, coi nhẹ các nhân vật trong giang hồ,
lúc này thần sắc không khỏi căng thẳng. Thúc gia hắn cười hiền hòa nhìn hắn,
lòng nghĩ: Đứa bé này có kiến thức, cũng có chí khí, mười năm sau đã muốn luyện
được trình độ này của Cảnh Thương Hoài rồi. Tuy nhiên, để cho đứa bé này trải đời
một chút cũng tốt, để nó biết thiên ngoại hữu thiên, nhân ngoại hữu nhân.

Bỗng nghe một người
mình bận trường bào xanh ngọc, mày thưa, mắt híp, chính là người tới trước
tiên, mở miệng nói: “Cảnh đại hiệp, cuộc tụ tập này chỉ là hội họp nhỏ của võ
lâm Giang Nam, bàn chút sự tình, không có ác ý gì khác, xin chớ đa nghi!”

Cảnh Thương Hoài nhìn
người này, thấy chỗ cổ bên trái có một nốt tựa như không cẩn thận để dây mực,
nhưng để ý nhìn kĩ thì thấy là nốt mụn, trong lòng hơi động, đây rõ ràng là ký
hiệu của Mạc gia ở Huy Châu, liền tủm tỉm cười, hỏi: “Là Mạc tiên sinh ở Huy
Châu chăng?”

Người nọ chính là Mạc
Dư ở Huy Châu. Hắn cũng không ngờ Cảnh Thương Hoài lại nhận ra mình nhưng vẫn
ung dung gật đầu. Cảnh Thương Hoài có chỗ liên tưởng, bèn quay nhìn những người
ngồi đây, cuối cùng đôi mắt khóa vào một gã trung niên tuổi hơn bốn chục, mặt
mũi hốc hác, cười, nói: “Thì ra Đoan Mộc gia ở Đoan Châu cũng tới rồi.”

Nói rồi, hai mắt hắn
lóe lên, lưu tâm để ý, quả nhiên lại nhận ra một cơ số người, miệng lẩm bẩm:
“Lão mù Lôi Chấn Cửu của Thiên Mục sơn cũng ở đây, a, còn cả Ngôn gia ở Thần
Châu, hắc, hảo hán Thái Hồ cũng đến rồi, còn cả Nhan gia ở Ngô Hạ, quả nhiên xứng
gọi là cuộc hội họp của võ lâm Giang Nam, chỉ là vì sao chư vị đều phải cải
trang thế?”

Không ai đáp lời, Cảnh
Thương Hoài lại hỏi: “Chính chủ chưa tới sao? Rốt cuộc hắn là ai?”

Triệu Vô Lượng tuy đoán
trước sẽ có một hồi này nhưng dường như cũng không đoán ra chính chủ là ai,
không khỏi vểnh tai lắng nghe. Lại nghe Mạc Dư tiên sinh của Huy Châu mở miệng
cười, nói: “Lần này phát thiếp anh hùng mời các vị tới là Tất tiểu huynh đệ của
Tất gia Hồ Châu.”

Lời hắn vừa dứt, liền
nghe có tiếng mái chèo từ trên sông vọng tới. Cảnh Thương Hoài nhìn trên sông,
chỉ thấy trong làn mưa giăng mù mịt, một chiếc thuyền con ngược sông phá sóng
mà tới. Nhịp đưa chèo của người chèo thuyền nọ không hề nhanh, chỉ là một chèo
vừa khua, con thuyền nhỏ liền lao vù về phía trước một khoảng khá xa, đủ để thấy
lực tay mạnh mẽ của hắn. Ở đầu thuyền có một thanh niên chắp tay đứng, Cảnh
Thương Hoài tinh mắt, tuy còn xa mấy tầm tên nhưng đã thấy được thanh niên nọ
mày rậm mắt to, trên mặt có vài nốt sẹo rỗ, có điều không phải người quen biết.
Con thuyền thoắt cái đã tới bờ sông, chỉ mơ hồ nghe được thanh niên kia nói với
người chèo thuyền một tiếng: “Cẩn thận nhé!”, mình thì khẽ nhún nhảy, ở chỗ đầu
thuyền nhảy lên tầm nửa thước, sau đó đạp mạnh, hai chân vận thêm kình lực, sử
ra thế Thiên cân trụy đạp xuống sàn thuyền, đầu thuyền liền chìm mạnh xuống nước,
lại nghe hán tử chèo thuyền nhổ khí cất giọng, thét “ya” một tiếng, đôi chèo
dùng sức khua mạnh, miệng gầm: “Lên!”, chính ở đuôi thuyền sử kình, nhân thế nước
mà khiến đầu thuyền bật cao hơn. Thanh niên nọ mượn sức bật này, người lao phốc
đi, tư thế hào hùng, thế nhảy cực nhanh, mau như cuồng phong quét đất, lẹ như
chim mỏi về rừng, “soạt” một tiếng đã nhảy vào thủy tạ.

Một chiêu này của hắn
thật đẹp, cự ly bay đi phải mấy trượng, đám người ngồi ngoài bãi cát nhất loạt
vỗ tay hoan hô. Thanh niên nọ bái khắp một vòng các nhóm rồi hai tay ra dấu, tỏ
ý muốn mọi người im lặng rồi mở miệng nói: “Hồ Châu, Tất Kết ra mắt chư vị bằng
hữu giang hồ!”

Nói xong, hắn lùi lại một
bước, lại bái chào mọi người. Kế đến, hắn lùi tới bên bàn Mạc Dư tiên sinh,
quay sang cười với Mạc Dư, tiện tay cầm một chén rượu, rót đầy chén rồi ngẩng đầu,
nói: “Chư vị tiền bối chịu tới chính là vinh hạnh cho kẻ hèn này, kẻ hèn không
có gì để tỏ lòng kính, đã là huynh đệ giang hồ, đó đây biết lòng nhau, không
nhiều lời nữa, trước cạn một ly tỏ lòng kính trọng”, nói rồi, nâng chén một hơi
uống cạn.

Cảnh Thương Hoài lạnh
nhạt, bàng quan, thấy hắn tuổi tuy trẻ, không quá hăm bảy, hăm tám nhưng cử chỉ
hào sảng, tiêu sái, trong mắt tinh hoa nội liễm, rõ ràng cũng là một nhân vật.
Cảnh Thương Hoài thính tai, tuy ngồi đây phải có mấy chục người nhưng ai nói gì
đều không thoát được tai hắn, giờ nghe được trên bãi cát ngoài thủy tạ có người
hỏi: “Hoa huynh, Tất Kết này là ai thế?”

Vị Hoa huynh ở bên cạnh
thấp giọng nói: “Hắc hắc, tới hắn ngươi cũng không biết, mấy năm rồi ngươi sống
thế nào thế? Hắn hiện là nhân vật nức tiếng trong võ lâm Giang Nam. Xuất thân từ
Tất gia ở Hồ Châu, mẫu thân là nhị tiểu thư của Hồ Châu Văn gia, Văn Tố Vũ. Hiện
các tổ chức vòng ngoài của Văn gia đều do một tay hắn quản lý đấy! Hắn là cháu
ngoại của Văn Chiêu Công, nghe bảo rất được lão đầu này yêu quý, lại còn là
truyền nhân đơn truyền của Hồ Châu Tất gia. Hai đời trước của Hồ Châu Tất gia
vì một trận ở Hồ Dương tử thương gần hết, tới đời này chỉ còn mỗi mình hắn, có
điều tiểu tử này rất có năng lực, từ khi hắn xuất đạo, không cậy nhờ tông tộc,
Hồ Châu Tất gia lại một lần nữa tiếng tăm dần nổi, nhất thời đứng đầu Giang
Nam. Có câu cửa miệng về mấy thế gia trong giang hồ, đệ từng nghe chưa?”

Người nọ hỏi: “Thế
nào?”

Người họ Hoa kia cười,
nói: “Chính là “Bút Hồ Châu, muối Ngô Hạ, đao Tịnh Châu, mực Huy Châu, nghiên
Đoan Châu, gốm Nhữ Châu”, nói về sáu đại thế gia trong giang hồ. Sáu gia tộc
này đều có lịch sử mấy trăm năm rồi. Bây giờ Tất gia ở Hồ Châu có thể xếp hàng
đệ nhất. Tất Kết cũng đương lúc gặp gió mà phất, ở Giang Nam bằng vai với Viên
lão nhị, hiệu xưng Du - Lượng một đời.
Đệ không nhìn coi, Mạc Dư tiên sinh của Huy Châu, Đoan Mộc Thấm Dương của Đoan
Châu đều tới nịnh nọt hắn, chỉ e nhân vật chủ yếu của ba nhà kia tuy không kịp
tới nhưng hẳn cũng phái người tới rồi.”

Cảnh Thương Hoài nghe tới
đây, bỗng nghe trong thủy tạ có người cao giọng hỏi: “Tất tiểu huynh, mấy lời
khách sáo này cũng không cần nói nữa, ngươi nói đi, lần này phát anh hùng thiếp
gọi bọn ta tới là có dụng ý gì?”

Cảnh Thương Hoài ghé mắt
nhìn liền nhận ra, tuy người nọ đã cải trang nhưng ở cổ, ở tay đều có từng đám
lông đen, thì ra là cự khấu Vương Nhiêu từng hoành hành vùng duyên hải Đông Nam
dạo trước, trong lòng không khỏi nhủ thầm: Cái gọi là phong hội của võ lâm
Giang Nam này quả có thể xưng là ngọa hổ tàng long, gồm cả những nhân vật từng
hùng bá một phương, quả xứng với một chữ “phong[30]” kia. Chỉ nghe Tất
Kết nọ cười nói: “Vương đại ca, người chớ vội, tiểu đệ mời các vị tới nguyên là
vì vừa có được một tin tức xác thực.”

[30] Phong ở đây nghĩa là “đỉnh”, phong hội ý chỉ cuộc
hội họp ở tầng bậc cao.


Báo cáo nội dung xấu