Loạn Thế Anh Hùng (Tập 2) - Tứ giải - Phần 02 (Hết Bộ 2)

Trương Ngũ Tàng, Cổ Cự, Vu Hiểu Mộc nhìn nhau rồi từ từ đứng thành hình tam giác, vây Tam Nương lại. Tam Nương không hoảng, ở trong vòng vây chợt động chợt im, chợt nhảy chợt dừng, mỗi đòn đều dốc hết sức nhưng vẫn tùy thời có thể phiêu hốt lui về, lúc đâm lúc chẻ, như nhảy như múa, lại thêm nàng má phấn tóc huyền, thật xứng với bốn chữ ““Vũ phá Trung Nguyên””. Đáng tiếc, nàng chỉ mới luyện thành, lúc bắt đầu giữa các chiêu thi thoảng lại đứt mạch, kiếm ý cũng có chỗ không thể liên kết, có điều, chỉ cần xuất hiện sơ hở, nàng liền cảm thấy có tiếng đàn lọt vào tai, khúc đàn nọ tựa như một lần nữa liên kết lại chiêu ý của nàng. Giờ Tam Nương mới rõ tại sao lại nói Kiếm Khí Hành thoát thai từ múa, ngộ đạo nhờ múa, mà ý cũng quy về múa.

Trương Ngũ Tàng thật chẳng ngờ bản thân đánh mãi không xong một nữ nhân, vả lại chiêu thức của Tam Nương nọ dường như càng ngày càng khít, như bèo nổi kín sông, không có khe hở. Gã ngầm cắn răng mấy lần, cuối cùng hô: “Bày trận!”

Sắc mặt Cổ Cự, Vu Hiểu Mộc thoáng sững lại nhưng rồi đã hiểu ý, lòng nghĩ: “Không moi ra tuyệt kỹ cất đáy hòm luyện thành ba năm nay, chỉ sợ không xong!” Chỉ thấy phương vị dưới chân ba người chợt đổi, tiến ba lùi bốn, tán năm tụ sáu, ban đầu không khỏi lộ vẻ vụng về nhưng dần dần liền thấy được diệu dụng trong đó. Phối hợp với bộ pháp dưới chân, ba cây thiết côn của họ múa càng lúc càng nhanh, như gió gấp mưa xối, vây Tam Nương kín như bưng. Lối đánh chợt đông chợt tây của Tam Nương dần bị họ trói lại, không biến chuyển được, mà vòng xoay chuyển càng lúc càng hẹp, nàng thầm lo lắng, mấy lần xông phá nhưng không xông ra được.

Dịch Bôi Tửu vốn một mực chuyên chú gảy đàn, lúc này đã ngẩng đầu nhìn, tựa như cũng không nghĩ tới Biệt viện Tam Tàng của Văn gia còn có chiêu này. Thẩm Phóng không hiểu cục diện đương trường, thi thoảng ngó Dịch Bôi Tửu, tìm đầu mối trên mặt hắn, lòng nghĩ: “Nếu hắn đã là người giữ nhịp điệu, chắc hẳn phải biết cái được thua ở đây.” Bấy giờ, thấy trên mặt Dịch Bôi Tửu hiện vẻ lo âu, cứ đăm đăm nhìn trường diện, tựa hồ cũng biết Tam Nương đang ở vào lúc gấp gáp nhất. Cầm khúc dưới tay hắn cũng thoắt biến, “tinh tinh, tang tang”, tìm chỗ hở mà tiến, dường như cũng đang nỗ lực giúp Tam Nương tìm cơ thắng. Người luyện võ muốn có tiến cảnh, vốn phải vượt qua vài cửa ngõ quan trọng, hắn biết giờ Tam Nương đang đối diện với một cửa ngõ như thế. Lúc thường vượt qua cửa này đã muôn vàn khó khăn, huống chi Tam Nương lại đụng phải bình cảnh võ học ngay trong trường ác đấu quyết liệt. Nếu nàng xông qua được, ngộ ra được thì hay rồi, từ đây sẽ chen được vào cảnh giới cao thủ nhất lưu, bộ “Vũ phá Trung Nguyên” này của nàng cũng xem như đã luyện thành; còn nếu không được... Dịch Liễm khẽ than, biết bản thân cũng không tưởng tượng được, bởi vì lúc này người ngoài không cách nào trợ lực.

Tam Nương chỉ thấy áp lực mỗi lúc một tăng, tới Thẩm Phóng cũng nhìn ra được đương trường dần dần chỉ thấy bóng côn đen, còn ánh xanh loang loáng trên cây chủy thủ của Tam Nương lại ít thấy. Quả tim hắn đã dâng lên họng, bất chợt đương trường bạo vang một phen gió gấp mưa gào, như vó sắt phi dưới mái, chuông chùa đỉnh tháp, tiếng nào tiếng nấy mỗi lúc mỗi to, ắt hẳn đôi bên đã trút toàn lực, thật không biết là chủy thủ của Tam Nương sắc nhọn hay là thiết côn của đối phương phối hợp kiên cố. Bỗng có tiếng đánh “soạt”, Thẩm Phóng nghe tiếng mà tìm, chỉ thấy ngọn chủy thủ của Tam Nương đã bị đánh văng lên trần nhà, cắm ngập xà gỗ, sâu tới cả tấc. Thẩm Phóng cảm thấy như ngừng thở, tim không đập nữa, hắn muốn tìm lại con tim mình nhưng như không tìm thấy. Trong phòng bỗng dưng im bặt, tiếng binh khí giao nhau cũng không còn, Thẩm Phóng nhìn chủy thủ trên xà gỗ, trong lòng không biết đang gào lên với ông trời hay với chính mình: “Đừng! Đừng! Xin đừng!”

“Ta không muốn nàng chết” - trong mắt hắn hiện lên dung nhan nói cười xinh đẹp của Tam Nương - “không thể được, cuộc đời không có nàng sẽ trống rỗng tới mức ta không sao chịu được, không có tóc huyền kề gối sẽ là việc đau khổ nhất trên đời! Không có nàng mỉm cười, nhíu mày, ta dù có được thiên hạ cũng để làm gì?” Một khắc ấy, Thẩm Phóng tuy không thốt nên lời nhưng cảm thấy cổ họng trong con tim - nếu con tim cũng có cổ họng - đã thét gào tới khàn đặc: “Ta không muốn, thật sự không muốn, cầu xin nàng - Đừng!”

Một khắc ấy, hắn tựa như đã trải qua một đời một kiếp. Ở đây sao còn chưa có tiếng gì? Nước mắt hắn rơi xuống, hắn biết, bất kể thế nào hắn vẫn phải cúi nhìn. Hắn là nam nhân, phải có trách nhiệm, phải đối mặt, kể cả là tình huống bi thảm: xác Tam Nương nằm ngay đấy. Có lẽ vẫn có việc hắn có thể phải làm, đây cũng là Tam Nương yêu cầu hắn, hắn phải dốc hết sức bảo hộ Dịch Bôi Tửu, không nề khuất nhục, thiếu niên này là hy vọng của rất nhiều người trên Hoài Thượng. Sau đó, hắn ép mình từ từ nhìn xuống, cái hạ đầu này, tựa đã hết một đời.

Trắng như tuyết trên núi, sáng tựa trăng trong mây.

Thẩm Phóng cúi xuống.

Hắn dõi mắt vào đương trường, còn chưa nhận rõ được ai với ai. Đầu tiên là nhìn thấy máu trên mặt đất, sau đó mới thấy bốn người trên đương trường, bốn người im lặng đứng đối lập, trên mặt Trương Ngũ Tàng hẵng còn đang cười, nét cười khiến người ta lạnh thấu xương, mắt Thẩm Phóng hoa lên, rời đi chỗ khác, hắn nhìn Cổ Cự, hắn muốn nhìn sang Tam Nương chậm chạp nhất có thể, cho dù đó là kết quả mà hắn không thể không thừa nhận nhưng vẫn muốn nó chậm một chút... Sắc mặt Cổ Cự đỏ sẫm; kế đó, Thẩm Phóng nhìn Vu Hiểu Mộc, mặt Vu Hiểu Mộc u ám; kế tiếp, Thẩm Phóng mới nghe ra có tiếng động, là Cổ Cự, Vu Hiểu Mộc, Trương Ngũ Tàng từng người nối nhau mềm rũ đổ ngã, bọn họ hoặc ở cổ họng, hoặc ở tim, hoặc ở mi mày đều bị chọc một cái lỗ nhỏ cỡ cái trâm. Vào lúc khẩn cấp nhất, Tam Nương đã bỏ chủy thủ, dùng một cây thoa gỗ đâm chết ba người ở giữa Vĩnh Tế đường.

Còn nàng thì cũng mồ hôi trĩu áo.

Đây là trận đầu tiên trong ngày hôm nay có người chết. Chúng nhân đều kinh ngạc không thốt nên lời, không dám tin vào kết quả này, nhưng cũng cảm thấy đây mới là kết quả nên có.

Dường như biết được sự hung hiểm của trận này, lúc Tam Nương cùng Văn gia Tam Tàng khai chiến, Chu Nghiên đã được lão nhân đầu bạc nọ hộ tống rời đi, không phải chứng kiến một màn tanh máu này. Lúc này, chỉ nghe có người khẽ vỗ tay, là Ngô Tứ, hắn nói: “Chúc mừng Kinh Tam Nương luyện thành “Vũ phá Trung Nguyên”.”

Kinh Tam Nương gật đầu, bật cười, đôi mắt nàng thì lần tìm Thẩm Phóng trong đám người, cho tới lúc tìm được Thẩm Phóng, tâm tình nàng mới buông lỏng. Nàng là phận gái, giết chết Văn gia Tam Tàng ở Vĩnh Tế đường, ngày mai tin truyền ra tất sẽ oanh động thiên hạ, nhưng nàng không quan tâm; cuối cùng nàng đã luyện thành “Vũ phá Trung Nguyên” mà mười năm nay khổ tâm nghiên cứu, nhưng nàng cũng không quan tâm; một khắc ấy, tuyệt nghệ đã thành, cường địch bị diệt, trong lòng nàng đột nhiên trống rỗng, nàng chỉ quan tâm đến mình Thẩm Phóng, có hắn, nàng mới không cảm thấy nỗi cô độc tứ cố vô thân, trơ trọi mờ mịt lúc đột nhiên tiến vào một cảnh giới khác.

Hai người bốn mắt chạm nhau cũng bằng bốn tay ôm ấp, nghẹn ngào tha thiết, vui mừng buồn lo hòa trộn, thật sự như sống lại sau cơn tai kiếp, thiên ngôn vạn ngữ cũng nói không hết, kể không xong.

Ngô Tứ, Lý Bạn Tương đều trông thấy một trận thảm liệt này. Tới bọn họ cũng không ngờ được, kết quả ngày hôm nay sẽ là Văn gia Tam Tàng phơi xác đương trường. Gia nhân trong Cù phủ cũng từng trải đời, không hề kinh hoảng, dưới sự sai bảo của Lãnh Siêu, họ khiêng thi thể ra ngoài, tìm ba cái quan tài xoàng mà liệm. Dịch Bôi Tửu uể oải lên tiếng, đôi mắt mệt mỏi nhìn những người còn lại trong nội đường, nói: “Các vị, chúng ta trả nốt nợ thôi.”

Lý Bạn Tương lanh mồm lẹ miệng, lúc này cũng thấy cổ họng khô chát. Gã tự mình lên giao nhận với Thẩm Phóng, kế tiếp là bốn vạn lượng của Ngọc Tê Tử, cuối cùng là Ngô Tứ. Chỉ thấy Kim Lăng Ngô Tứ nhận xong nợ cũng không vội đi, do dự chốc lát, liền ôm quyền nói với Dịch Bôi Tửu: “Kim Sang dược do Bạn Kim đường của tại hạ ở Nam Kinh đặc chế có chút tiếng tăm, về sau Dịch công tử có cần, chỉ cần phái người tới Nam Kinh tìm tại hạ.”

Dịch Liễm dường như cũng xem trọng hắn, khẽ mỉm cười, bắt tay tạm biệt. Vàng bạc trong phòng chưa bị đem đi hết, còn lại mười bảy vạn lượng của Văn gia, thêm cả mấy vạn lượng Hồ Thất Đao để lại, Dịch Bôi Tửu than: “Ai mà ngờ còn thừa chứ!” Hắn nhìn người trong phòng, để lại mười bốn vạn lượng để Cù phủ thu hồi Vĩnh Tế đường, vàng bạc còn lại thì nhờ gia nhân Cù phủ khiêng lên xe, nhất tề đem đi cả.

Cù Vũ dường như có chút để bụng việc Dịch Bôi Tửu không để lại toàn bộ vàng bạc, nhưng cũng không tiện nói, chỉ nghe Dịch Bôi Tửu nói: “Ngày sau, nếu Lục Hợp môn có việc dùng tới Hoài Thượng, chỉ cần thông báo.”

Cù Vũ không đáp, ba vị Quách, Lưu, Dương cũng lãnh đạm. Lãnh Siêu thì vì sửa soạn xe mà bận tới bận lui. Trước khi Dịch Liễm lên xe, liền nhìn kĩ Lãnh Siêu, thái độ của Cù Vũ cùng Quách, Lưu, Dương tam lão, hắn không hề xem trọng, nhưng đối với thiếu niên nọ lại khá là chú ý.

Hai cái xe của bọn họ cứ thế lóc cóc ra khỏi thành Lục An. Trong thành đang buổi hoàng hôn náo nhiệt nhất, Thẩm Phóng nhìn qua cửa sổ xe ngắm hai bên đường, chỉ thấy hàng quán lề đường liền như răng lược, khít như vẩy cá. Nhỏ thì như hàng kim, hàng nhuộm, tiệm đánh răng, lớn thì như chợ thịt, chợ rau, chợ gạo, tất tật rộn ràng, nhộn nhịp. Tới lui thành Lục An cũng chỉ có hai ngày, nhưng những thứ hắn trải qua dường như lại rất nhiều - hơn bốn mươi vạn lượng qua tay, mắt thấy một trường gió tanh mưa máu, trong đó có đấu đá giữa trong triều ngoài triều, giữa thế lực trên giang hồ, rồi mưu mô lên xuống... Hết thảy những thứ ấy, trăm họ thành Lục An không hề hay biết. Họ chỉ mong sôi nổi nhộn nhịp, yên ổn mà sống những ngày bình thường, nào ngại tầm thường, nào ngại nhỏ nhặt, những buồn phiền của đời thường so với việc phải chịu kinh sợ thì còn hơn chán. Lần đầu tiên Thẩm Phóng hiểu được câu: “Giang hồ tử đệ giang hồ lão[26]”. Hắn nhìn trăm họ ngoài xe, ồn ào huyên náo thế, trong cái thế cục nước sôi lửa bỏng, nguy như trứng xếp chồng, chỉ trong chớp mắt có thể chuyển thành loạn lạc này, vẫn cứ cười, cứ ồn ã, cứ chuyện nhà chuyện xóm. Mọi người đều biết giờ đương thời loạn nhưng đều vờ như không biết, tới Thẩm Phóng cũng không rõ loại tâm thái này là đúng hay sai nữa. Cái yên ổn này, cái ấm êm này giống như nhảy múa trên đao nhọn, có điều sự đẹp đẽ trong đó còn mang một thứ cảm giác khiến Thẩm Phóng suýt rơi lệ.

[26] Người trong giang hồ thì cuộc đời gắn với giang hồ.

Dịch Liễm nói muốn đem gần chín vạn lượng bạc còn lại gửi vào Thông Tế tiền trang, chuẩn bị thanh toán khoản nợ cung ứng lương thảo cho Sở Tướng quân ở Tương Phàn và Lương Tiểu Ca ở Hà Bắc đã sắp đến hạn, còn phải chừa lại hai vạn gửi đi Tô Bắc. Bạc trong xe chớp mắt đã sạch sẽ, chẳng trách Đỗ Hoài Sơn từng cười bảo chỉ sợ Dịch Bôi Tửu chính là người tiền bạc qua tay nhiều nhất nhưng cũng là người nghèo nhất thiên hạ. Một chuyến tiêu này, từ lúc Thẩm Phóng gặp gỡ ở Khốn Mã Tập cho tới hôm nay mới được hơn tháng, có điều, những tranh đấu giết chóc, đồng môn bội phản, anh lừa tôi gạt trong đó phải nói đều là những thứ bình sinh chưa từng trải qua. Đây là lần đầu tiên Thẩm Phóng thực sự tiếp xúc với giang hồ, cũng là lần đầu tiên nhìn giang hồ ở cự ly gần tới vậy, cường quyền trong triều ngoài triều, tranh đấu giữa những kẻ mạnh, mỗi người đều ra sức tối đa hóa sở cầu của mình, như huynh đệ họ Viên, như Văn gia Tam Tàng, như Lỗ Tiêu. Còn như lão đầu mù với Tiểu Anh Tử, mình cùng Tam Nương, và cả ba huynh đệ Trương gia chỉ là bị vần xoay trong trường cấu xé đó thôi, không biết may mắn thế nào mới thoát được một mạng. Nhưng luôn có người không phải như thế, phải không? Thẩm Phóng tự hỏi, rồi nhớ tới Lạc Hàn, nhớ tới một kiếm dứt khoát nọ, khí thế và quang huy ngạo thị thiên hạ, quang huy kia có thể chiếu tỏ sinh mệnh đang chìm trong bóng tối, cũng thuận tiện đưa chuyến tiêu này cùng mình và Tam Nương tặng tới Hoài Thượng.

Thẩm Phóng nhìn sang Dịch Bôi Tửu, ngoài cửa sổ, hoàng hôn bảng lảng. Xe ra tới ngoại thành, bên ngoài đã vắng lặng, hai bên đường là màu vàng đỏ của lúa mạch vụ đông cùng tịch dương. Dịch Bôi Tửu nhắm hờ mắt, trên mặt mang vạt màu vàng đỏ nọ, nhưng lại làm nổi lên nét tang thương của dung mạo, Thẩm Phóng cũng đoán không thấu hắn là dạng người gì? Muốn gây dựng sự nghiệp gì? Hắn cùng Lạc Hàn tương giao ra sao? Đoạn tương giao ấy là thứ tình bằng hữu nhìn thì nhạt nhòa nhưng cất giữ trong lòng, chẳng dám lãng quên chăng? Hắn mưu điều gì, nghĩ về đâu? Nhìn sắc mặt hắn, bên trong nhập thế luôn có một phần lánh đời ẩn hiện, bên trong bình tĩnh lại có sự không bình tĩnh ẩn sâu. Trong lòng hắn hẳn còn ẩn giấu, cái ẩn giấu đó là gì?

Dịch Liễm bỗng nói: “Còn sáu, bảy ngày nữa là chúng ta tới Hoài Thượng rồi, ở đấy coi như đã về nhà.” Lời hắn đượm chút mệt mỏi. Ngày mai? Ngày mai chẳng phải cũng là một ngày vì lương thảo quần áo, binh khí yên cương, bạc tiền sổ sách mà bận bịu sao? Thẩm Phóng nhìn Dịch Liễm, đã có thể thể hội được sự mệt mỏi của hắn. Cố gắng hắn bỏ ra có lẽ chẳng có được mảy may xán lạn như một kiếm trong đêm đen của Lạc Hàn bữa trước, nhưng cố gắng này cùng tất thảy những gì hắn cố gắng thay đổi lại là những thứ càng phiền não, càng giày vò, càng dai dẳng giống như chuyện cơm áo gạo tiền, như sự đời khiến con người mòn mỏi. Sinh mệnh là một món quá hoa mỹ, nhưng những thứ có thể bỏ thêm vào chẳng lẽ chỉ là vô số rắc rối và gánh nặng này đây?

Cũng vào lúc này, Thẩm Phóng mới để ý tới cái chén trong tay Dịch Liễm. Đó là một cái chén gỗ, sáng bóng, vân gỗ mảnh mai, giống như những si mê cùng lưu luyến nho nhỏ trong nhân gian, không nỡ buông tay, nhưng niềm vui và sự bịn rịn kia trông lại đáng thương đến vậy. Thẩm Phóng nhận ra, cái chén này là thứ Lạc Hàn gửi cùng tiêu ngân. Cả xe bạc hắn đã cho đi cả, vì sao... vì sao phải giữ lại riêng cái chén này? Đây là lần đầu tiên Thẩm Phóng nghĩ tới vấn đề này: Trong bao nhiêu vàng bạc châu báu đầy xe, vì sao lại có một cái chén như thế? Hắn nhìn bộ dạng cầm cái chén của Dịch Bôi Tửu, dường như đang nắm tay một người bạn trong sự mệt mỏi vô cùng.

Bên ngoài, phu xe bỗng quất một roi, đã ra ngoài thành rồi, Thẩm Phóng nghe phu xe hô lên hai câu khẩu lệnh:

“Đào lý xuân phong nhất bôi tửu...

... Giang hồ dạ vũ thập niên đăng[27]!”

Giang hồ dạ vũ thập niên đăng a...

[27] Câu trong bài Ký Hoàng Cơ Phục (Gửi Hoàng Cơ Phục) của Hoàng Đình Kiên (1045-1105), nhà thi họa, thư pháp gia nổi tiếng thời Bắc Tống, Trung Quốc. Dịch nghĩa: Một chén rượu lúc đón gió xuân dưới cây đào cây mận năm ấy; một phen lưu lạc giang hồ, đêm mưa chong đèn đã mười năm.


Báo cáo nội dung xấu