06. B. Pasternak – Câu thơ và bài thơ (Phần 3)
Trong khi tìm kiếm chữ mới có sức trả lại cho thế giới khuôn mặt thật của
nó, Pasternak đã hướng về ngôn ngữ sống, ngôn ngữ nói, và đã tham gia dân chủ
hóa ngôn ngữ thơ có tính quyết định, công việc trong suốt hai thập niên đầu của
thế kỷ, từng là nét chung của nhiều nhà thơ và đã bùng nổ dữ dội đặc biệt trong
tác phẩm của Maiakovski: Thế nhưng nếu trong trường hợp của nhà thơ này, sự làm
giàu từ ngữ được tiến hành đặc biệt nhờ vào ngôn ngữ đường phố, ở đó chữ dung
tục và biệt ngữ chính trị trộn lộn chặt chẽ, và được áp đặt bằng sự mở rộng
những chủ đề thơ ở thành phố, chiến trường và cách mạng, thì Pasternak rất lâu
lại đã trung thành với những chủ đề truyền thống, được nhắc đi nhắc lại bởi các
nhà thơ quá khứ và hiện đại.
Thế nhưng, ông biết biểu hiện theo một cách mới những mùa xuân kia và những
buổi mặt trời lặn nọ, và nói về thiên nhiên, không phải trong ngôn ngữ tầm
thường của quy ước thơ, mà với những chữ của văn xuôi ngày thường và như vậy
ông đã trả lại cho những chữ ấy sự tươi mát đã đánh mất và ý nghĩa mỹ học của
chúng. Từ một đề tài tầm thường nhất ông có thể làm nên một biến cố của cuộc
sống.
Trong khi đưa ngôn ngữ của đời sống thường ngày và của thế giới thành thị
hiện đại vào bút pháp cao quý của thơ ca, Pasternak không gạt bỏ những thành
ngữ quen thuộc của ngôn ngữ nói. Được áp dụng một cách khác, những hình thức đã
mòn, đã bạc màu ấy lại đem đến một âm thanh mới và bất ngờ. Cái sáo mòn của
ngôn ngữ ngày thường trở thành một vũ khí trong cuộc đấu tranh chống chính sáo
mòn trong văn học. Pasternak bắt đầu đi vào những chủ đề tuyệt vời nhất, đi
thẳng vào đích, mạnh mẽ và chân thật: Sự rộng lớn sôi nổi của vùng Capcase, ông
thể hiện nó với sự giản dị lớn nhất, bằng giọng nói chuyện qua lại thân mật:
"Vùng ấy không phải hoàn toàn khỏe khoắn", "Capcase, ở đấy trọn
vẹn. người ta nắm nó trong lòng bàn tay, như chiếc giường phủ vải lót nhàu
nát…" Cái độc đáo của ông là ở chỗ ông thi vị hóa thế giới bằng những cái
thô thiển có thể đưa vào thơ ông sự thật của cuộc sống, và chuyển những câu thơ
ấy từ lĩnh vực hư cấu, bịa đặt, đến lĩnh vực thơ ca xác thực.
Trong truyện kể Tuổi nhỏ của gia đình
Liouvers, trong đó ông thuật lại chuyển biến nội tâm của nhân vật nữ trong
cuộc gặp gỡ của người ấy với thực tại, Pasternak đã nhận xét như sau: "Khi
không còn là một chuyện thơ vụn vặt, đời sống tách xa truyện kể khô khan và bi
thảm đến độ nó trở thành văn xuôi, và biến đổi thành thực tại (*). Văn xuôi
sinh ra từ cái có thật, trở thành cội nguồn của thơ bởi nó truyền đạt đến
những hình ành cái vẻ thực của sự kiện. Nhận xét trái ngược sau của Pasternak
mang trọn ý nghĩa của nó chính là trong bối cảnh như vậy: "Chúng ta đưa
đời sống ngày thường vào văn xuôi là vì chúng ta yêu thơ ca. Chúng ta đưa văn
xuôi vào thơ là vì chúng ta yêu âm nhạc (**). Sau này, về vở Romeo và Juliet
của Shakespeare, ông đã xác nhận lại rằng trong thơ ca, văn xuôi là vô địch của
đời sống: "Đây là một thí dụ của thơ ca cao nhất, thơ ca trong những minh
họa hay nhất của nó, luôn thấm đầy sự giản dị và tươi mát của văn xuôi
(***)".
(*) Boris
Pasternak: Vozdouchngie Puti (Những đường trên không), tr. 20.
(**) Boris
Pasternak: Okhrannaia Gramota (Giấy thông hành), tr. 22.
(***) Boris
Pasternak: Zametki K perevodam Shekspirskikh tragedii (Ghi chép về bàn dịch
những bi kịch của Shakespeare") Literelurnata Moskva, Matxcơva 1956, tr.
198.
Những lời thô thiển, ngôn ngữ nói đem lại cho những hình ành của Pasternak
một cái gì rất cụ thể, làm cho những cái trừu tượng cùa ông có da có thịt, và
làm chúng gần gũi ta hơn. Cấu trúc nhịp điệu và cú pháp của những câu thơ ông
được chọn theo một mục đích duy nhất: Sáng tạo một lối biểu hiện thơ uyển
chuyển đến độ, qua giọng điệu, nó làm ta nhớ (làm ta nhớ, không hơn vậy) ngôn
ngữ thường ngày, và cho phép ta "nói thơ" lưu loát và tự nhiên như ta
nói văn xuôi mỗi ngày. Pasternak xây dựng một kỳ thơ phức tạp như ý muốn; ông
ngừng lại, đặt thêm vài mắt xích, y như vẫn xảy ra trong cuộc nói chuyện: trước
tiên sáng tạo một ngôn ngữ thơ thoát khỏi mọi ràng buộc trở ngại, và có một hơi
thở thoáng, những câu đoạn liên tục, có âm điệu. Nơi những nhà thơ khác, cái mà
Pasternak đặc biệt mến chuộng là khả năng suy tư và diễn đạt không phải bằng
những câu thơ riêng rẻ, mà bằng những đoạn thơ, những thành ngữ, những câu dài
nhiều đoạn; về mặt này, ông lớn tiếng ngợi ca nghệ thuật của Tsvetaieva, mà ông
cho là có nét giống nghệ thuật của ông.
Thế nhưng Pasternak không thu nhỏ vấn đề thành một kiểu kết hợp câu thơ và
những hình thức của ngôn ngữ nói. Cái tự nhiên, sự vắng bóng của gò bó và tài
khéo trong âm điệu, trong thực hành lại phải thán phục trước những đòi hỏi mỹ
học tổng quát hơn: đặc biệt là một cái nhìn rộng và, để đạt mục đích gợi lên
một toàn cảnh bao quát, một không khí tổng hợp. Người ta cảm thấy điều đó một
cách rõ ràng, chẳng hạn như trong Cái
chết của một nhà thơ, viết tặng Maiakovski: cuộc đời một nhà thơ của mọi
người, cái chết đột ngột, những tiếng đồn đại, và con phố mùa xuân náo nhiệt
đều cùng lúc hiện diện, những đoạn rời và phần đệm theo đáng thương của một tấn
bi kịch bùng nổ, - tất cả những thứ đó được tập hợp lại thành một khối chặt chẽ
duy nhất, hoạt động bởi sức mạnh lôi cuốn của một tiếng nói vang lên ngay sau
biến cố, ôm chặt và vây quanh nó khắp mọi phía, đặt nó nào những câu dài nhiều
đoạn mãnh liệt, vang vọng và va chạm nhau, xô đẩy nhau:
Họ không tin
điều ấy, anh bảo, đi vào mê sảng,
Nhưng họ nhận
ra anh giữa đông người
Và phút cuối
đời anh họ coi ngang
Với những bà vợ
của các viên chức và của các nhà buôn.
Với nhà ở với
cây cối và trên cây.
Những con quạ,
trong cái nóng của buổi trưa, gào thét
Gào giận dữ sau
những con quạ khác, bọn ngu xuẩn ấy
Hãy nên lo cho
công việc của mình và hãy để cho anh sống.
Trên gương mặt
chúng thôi, một thoáng chuyển động ấm ướt,
Như trong những
nếp gấp của một cái lưới rê bị thủng.
Đấy là một
ngày, một ngày vô hại
Vô hại hơn cả
mười ngày trước
Họ chen chúc
nhau ở phòng ngoài
Tựa như ánh
sáng của anh sắp phân tán họ ra.
Khi, nghiền nát
họ, nổi lên ẩm ướt.
Sóng của cá vền
và chớp
Của cá chép,
chất đống trong những lau sậy
Như tiếng thở
dài của những con sông trống không…
Pasternak không ngần ngại kêu gọi đến những kiểu tán rộng bề ngoài (thí dụ,
những con quạ trên cây) thật ra đã chứng tỏ sự sâu rộng của cái nhìn của ông và
tôi muốn mọi thứ vào động tác, không để sót lại một hậu cảnh lưng chừng nào.
Thường, ông có vẻ như không biết nói thế nào, như trở lại những gì đã được nói
rồi, và khởi sự lại tất cả từ đầu; trên thực tế, trong khi mô tả những vòng
tròn, ông đi trước, và toàn bộ hình ảnh xuất hiện dần dà trên hành trình không
chủ ý của bài văn của ông. Ông khéo léo, tài năng và làm việc thận trọng như
vậy, nhưng những câu thơ của ông vẫn không bao giờ cho cảm tưởng là những đồ mỹ
nghệ được đẽo gọt một cách lịch lãm. Trái lại, ông có vẻ vụng về, có khi ông
như còn tìm không ra chữ: đó là những chỗ ngắt đột ngột hay những chỗ lặp lại
bất ngờ, một thứ ngôn ngữ "đứt hơi" và "nổ bùng", đầy những
chữ kềnh càng gây lúng túng cho nhau. Có chỗ, ngôn ngữ lại nghe nhẹ nhàng, có
cánh, trong suốt, nhưng vẫn luôn là ngôn ngữ trực tiếp. Bởi sự dạt dào thơ ngây
và không mưu mẹo ấy, thoạt nhìn có vẻ như không nhờ đến bàn tay can thiệp của
nhà thơ, Pasternak đã đi đến chỗ sáng tạo lại tính tự nhiên bản chất của tiếng
Nga linh hoạt. Những đặc trưng mà ông quy là của phương pháp thơ ca của
Verlaine có thể áp dụng về nhiều mặt cho chính ông.
Ông đã đem lại cho ngôn ngữ một sự tự do không giới hạn, từng là đóng góp
của riêng ông cho thơ ca trữ tình, và mặt khác là cái người ta chỉ có thể gặp
nơi những bậc thầy của đối thoại bằng văn xuôi, trong tiểu thuyết hay trong
kịch. Đi thẳng từ đường phố đến, cách nói của thành phố Paris, trong toàn bộ sự
trong sáng và trong sự chính xác hấp dẫn của nó, đã ngồi chễm chệ, nguyên vẹn,
hoàn toàn tự nhiên, trong lòng bài thơ, là vật liệu giai điệu căn bản của mọi
công trình về sau. Cái đẹp chủ yếu của Verlaine chính nằm ở chỗ không có sự gò bó. Đối với nhà thơ, những
giọng văn của tiếng Pháp nói là không thể tách ra được. Ông không viết bằng
những thành ngữ nguyên vẹn, và không phải tô điểm cho chúng, không "sắp
xếp" chúng.
Bên cạnh một Musslet, Verlaine tự nhiên một cách bất ngờ: ông giản dị,
không phải để được tin, mà là để khỏi gây trở ngại cho tiếng nói của đời sống,
tiếng nói từ ông mà đã nẩy ra (*).
(*) B.
Pasternak: "Paul Marie Verlaine", Literatournoie Isskonslro 1-4-1944.
Pasternak dành một tầm quan trọng lớn cho việc tổ chức âm thanh câu thơ -
mà ta không nên lẫn lộn với vần, mặc dù trong lĩnh vực này, ông cũng đã đổi mới
(không phải không lý do mà Brioussov xem ông, ở một cấp cao hơn Maiakovski, như
người sáng tạo ra một văn mới). Trong những câu thơ của Pasternak không phải
chỉ những âm tiết cuối cùng mới được gieo vần, mà nhất là những chữ "không
vần", dù chỗ của nó nằm ở đâu trong văn bản:
Paris en
corpuscules d'or, en particules, (Tel' pakhdel cakh).
Sous la pluie,
comme me vengeance longlemps attendue…
Pari bằng những
tiểu thể vàng, những tiểu bộ phận
Dưới cơn mưa,
như một sự trả thù chờ đợi từ lâu…
Hiện tượng này đi xa hơn sự kiểm soát âm điệu đơn thuần của ngôn ngữ,
thường thấy trong thơ ca. Những quan hệ ngữ âm học ở đây chính là sự biểu hiện
những liên hệ ngữ nghĩa học; sự giống nhau của những âm làm mạnh hơn những hình
ảnh và biểu hiện, phân tích tới cùng, sự hài âm của những thể khác nhau của đời
sống. Sự phối ngữ âm học kết hợp với phép ẩn dụ giúp cho tư tưởng đi từ đề tài
này qua đề tài khác, và trợ lực cho nhà thơ khi ông tìm cách làm sáng tỏ tính
nhất quán của cuộc đời. Theo cách định nghĩa làm mẫu của Pasternak vẫn không
phải là một âm được lặp đi lặp lại ở cuối những câu thơ, mà hơn thế vô cùng:
"Trong văn, người ta nghe tiếng gầm của những rễ cây và tiếng rung của đôi
vú", và nhờ có trung gian của văn, "sự khổ độc đi vào thế giới chúng
ta dưới hình thức sự thật".
Một sự chú tâm như vậy dành cho "tính chất thanh điệu" của chữ,
và sự lựa chọn chữ trên cơ sở sự hòa hợp ngữ âm - ngữ nghĩa của chúng, làm ta
nghĩ đến Khlebnikov (9). Thế nhưng ông này dùng một logic ngữ âm thật sự, nối
liền mỗi âm, với một ý niệm trừu tượng chính xác bằng một "dụng cụ
đo" cũng chính xác như thế, dụng cụ tính được những quy luật của một thứ
"tinh nguyên học thơ ca". Cái chủ nghĩa tiên nghiệm ấy, sự thô bạo
đánh vào những âm để buộc chúng đưa ra ý nghĩa, cái chủ nghĩa duy lý trong ngôn
ngữ học ấy, cũng như nói chung cách mà Khlebnikov nhấn mạnh không phải vào
nghĩa cụ thể của chữ, mà vào nội dung che giấu và trừu tượng của nó, tất cả đều
xa lạ với Pasternak. Những cái cầu mà ông bắc qua giữa những chữ có độ vang
giống nhau không thuộc lĩnh vực trừu tượng hóa logic, mà thuộc lĩnh vực ẩn dụ
và liên tưởng, và những cái cầu ấy bắt nguồn từ chỗ chúng ở gần những hiện
tượng đồng bản chất, hay chỉ là từ những chỗ giống nhau do tình cờ mà có.
(9) Velemir Khlebnikov (1885-
1922), nhà thơ sáng lập chủ nghĩa vị lai Nga.
Thuyền đập giữa
ngực yên tĩnh
Những cây liễu
rũ xuống, ôm những xương đòn
Khuỷu tay, cái
ngảm tựa mái chèo - Hãy đợi đã.
Điều ấy có thể
xảy đến với bất cứ ai!
Ở đây, Ouklioutching (ngàm tựa ở cọc chèo) và Kliouchitsnin (xương đòn)
xuất hiện gần nhau, bắt nguồn từ cùng lý do khiến những cây liễu ôm và con
thuyền đập vào ngực; Pasternak cho chúng ta thấy những tương ứng quen thuộc mà
ông thiết lập giữa thiên nhiên, con người và những đồ vật, nhấn mạnh thêm vào
có còn có cách dùng những vần thông.
Trong vận hành thơ ông, những sự hài hòa về thanh điệu nổi lên, một cách tự
nhiên, như không cố ý, và không phá hỏng cái ngữ điệu quen thuộc, thường ngày,
vốn làm căn bản cho nó. Cũng y như những ẩn dụ, những hòa thanh ấy là không bắt
buộc và ngẫu nhiên, bởi lẽ "những câu thơ viết ra ngẫu nhiên bao nhiêu thì
chúng càng mật bấy nhiêu".
Y. Tynianov (10) đã từng nhận định rằng trong những câu thơ của Pasternak.
"Cái ngẫu nhiên rốt cuộc đã trở thành một mối liên hệ mạnh hơn cả cái
logic chặt chẽ nhất". Chúng ta không hiểu rõ lắm những quan hệ mà nó thiết
lập giữa những sự vật, những quan hệ ấy là ngẫu nhiên, thế nhưng một khi ông đã
thiết lập chúng rồi, thì chúng "nhắc ta nhớ một cái gì đó", tựa như
từ trước đến giờ chúng vẫn hiện diện và sự liên tưởng trở thành cần thiết"
(*).
(10) Youri Nikolaievitch
Tynianov (1894 - 1943), nhà phê bình thuộc trường phái “hình thức” và nhà văn.
(*) Youri
Tynianov, Arkhaisty I novatory ("Những người thích dùng từ cổ và những
người làm mới"), Lêningrat, 1929, tr. 566.
Điều đó do tính cách đặc biệt của ngôn ngữ của Pasternak. Chúng ta chấp
nhận những quan hệ mà ông trình bày cho chúng ta thấy (dù chúng là ẩn dụ, hay
thuộc ngữ âm học, v.v…) bất chấp tính bất ngờ của những quan hệ ấy bởi lẽ chúng
được nói lên trong một ngôn ngữ quen thuộc, tự nhiên không bao giờ bị bó buộc,
tựa như chúng muốn như vậy. Cái tự nhiên của ngữ điệu đảm bảo tính xác thực của
câu truyện kể trữ tình.
Ngôn ngữ của Pasternak, tác giả những tác phẩm đầu tay thường là rất phức
tạp và hiểu thấu những tác phẩm ấy là điều khó. Một trong những trở ngại cho
việc hiểu thơ ông là sự bão hòa quá mức những hình ảnh, ban đầu là do muốn xem
xét toàn bộ những quan hệ qua lại khác nhau của cuộc sống, và muốn truyền đạt
cái khác nhau của những quan hệ ấy bằng những phương tiện ngôn ngữ học.
Pasternak biết quá rõ rằng từ hai vật phối hợp đặt cạnh nhau, sẽ nảy sinh ngay
một vật thứ ba. Ông vẫn khăng khăng không chịu xé nhỏ thế giới, mà vẽ ra một
toàn thể ở đó tất cả đều trộn lẫn với nhau một cách hỗn độn và thất thường, và
ở đó nhà thơ không bao giờ quên "cái thấy được trở thành ra sao khi người
ta bắt đầu thấy nó (*)". Tính phức tạp ấy là kết quả của sự hiện diện các
chủ thể, hay khách thể, quá nhiều. Song, sau khi đẩy thiên nhiên vào dòng thác
của ngôn ngữ nói, Pasternak đã trục nhiều ý niệm ra khỏi những kết hợp thường
lệ của chúng và đem lại cho chúng những kết hợp mới, mặc dù là những kết hợp
bắt nguồn từ những người chung quanh gần nhất của chúng ta, vẫn là bất thường
bởi chúng chưa được dùng bao giờ trong những kiểu phối hợp như thế. Cách thức
biểu hiện giản dị nhất và tự nhiên nhất bấy giờ trở nên khó hiểu nổi đối với lỗ
tai của ta, vốn quen với những gì người ta không nói trong thơ như trong đời
sống.
(*) Boris
Pasternak, Okhrannania Gramota (Giấy thông hành), tr. 85.
Trong một truyện kể của Edgar Roe, những nhà thám tử có kinh nghiệm bị đánh
lạc bởi sự kiện là tên cướp đã giấu tài liệu đánh cắp ở một nơi thấy rõ nhất.
Chính cái hiển nhiên, tác giả giải thích, lại là cái ta thường hay bỏ qua không
quan sát tới. Những hình ánh của Pasternak đôi khi cũng thế: chúng quá
"khó hiểu", bởi lẽ chúng quá kề cận chúng ta, quá "hiển
nhiên". Chẳng hạn khi trong Cái chết của một nhà thơ, nhắc tới người đang
chết:
Anh đang ngủ,
má áp sát vào gối,
Ngủ, - hết tốc
lực,
Bằng những cái
nhào nặn liên tiếp anh xông
Vào hàng ngũ
những truyền thuyết mới…
Sự bất tử của Maiakovski - bởi vì đó là điều nhà thơ nói tới - tiến về
tương lai một cách hiện thực chứ không phải tượng hình) bởi lẽ tất cả những chữ
đều được rút ra từ những lĩnh vực khác nhau của thực tại hằng ngày. Trong cách
dùng bình thường, những chữ ấy đã trở thành quen thuộc, nhưng người ta không
ngờ sẽ bắt gặp chúng trong một bài thơ, và - hơn thế - trong một bài thơ thuộc
một thể loại mà sự trang trọng của ngôn từ lâu vẫn được chấp nhận. Thật vậy,
không có gì là lòng thành kính truyền thống, mà chỉ là một sự tươi mát làm cho
người đọc tin là ở đây có một "cái khó" nào đó, trong khi chính đoạn
thơ ta nói tới chẳng có gì là "khó" và người đọc chỉ cần cởi bỏ những
thiên kiến văn học của mình và những qui ước thơ ca là có thể cảm nhận được sức
mạnh trực tiếp và sắc bén của nó.
Những đổi mới của Pasternak trong lĩnh vực ngôn ngữ học phần lớn bắt nguồn
từ một sự tìm kiếm cái tự do và cái tự nhiên. Khuynh hướng ấy được khẳng định
trong những tác phẩm những năm 30 và càng khẳng định hơn trong những năm 40 và
50. Cái khuynh hướng trước đây bị che khuất bởi vô số những hình ảnh, bấy giờ
lớn dần và trở nên rõ nét. Thế nhưng, mặc dù tiềm tàng, nó không kém phần linh
hoạt; tác giả hoàn toàn ý thức về khuynh hướng ấy, mặc dù người đọc không nhìn
thấy nó một cách rõ ràng được. Pasternak giải thích về điều ấy trong đoạn trích
hệ thơ trữ tình. Sóng, viết năm 1932:
Kết hợp với tất
cả những gì hiện diện, tin vào
Tương lai cuộc
sống và nhận biết nó,
Rốt cuộc, chúng
ta không tránh khỏi, như trong tà thuyết,
Rơi vào một sự
đơn giản chưa từng có.
Nhưng người ta
sẽ không chừa chúng ta ra
Nếu chúng ta
không che giấu nó
Con người cần
nó hơn bất cứ thứ gì
Nhưng con người
lại hiểu rõ sự phức tạp hơn
Ở đây, "phức tạp" chỉ những gì, trong thơ ca, thuộc về cái tầm
thường và khuôn mẫu. Còn về sự đơn giản, nó vừa là cơ sở bên trong, và chất
kích thích, vừa là mục đích sau cùng của những tìm kiếm thơ ca chưa hoàn thành.
4.
Thơ của Pasternak dành chỗ đầu tiên cho việc mô tả thiên nhiên (tâm hồn con
người, những tình cảm, tình yêu thường được biểu hiện gián tiếp qua cảnh vật).
Bây giờ chúng ta hãy xem xét như thế nào cái công thức nghệ thuật ấy có thể áp
dụng cho lịch sử hiện đại. Nhà thơ có tất cả những gì cần thiết để đi vào chủ
đề ấy: tai nhà thơ nhạy cảm với "tiếng nói của cuộc sống", và ông
không bị ràng buộc bởi những phép quy giả thơ ca, không cho phép diễn tả bằng
thứ ngôn ngữ của thực tại tầm thường hằng ngày. Như người ta đã biết, nhiều nhà
thơ đầu thời kỳ sau cuộc nội chiến đã vấp phải những khó khăn lớn về mặt này,
do quá hạn chế bởi ý niệm nghèo nàn họ tự tạo ra về cái đẹp và bởi những sự sáo
mòn thấp kém mà họ vẫn sử dụng để tự diễn đạt. Đó chính là những người mà
Maiakovski giễu cợt khi viết: "Chim sơn ca, được, fovsunka (chữ cùng có
nghĩa "bộ chế hòa khí" và "gái làng chơi"), không! Vấn đề ở
đây, là cái quyền của thơ ca được sử dụng từ ngữ hiện đại.
Về phương diện này, Pasternak không gặp vấn đề gì với ông, "chim sơn
ca" không loại bỏ "bộ chế hòa khí", và nọc độc của phái hồi cổ
không tác động đến thơ ca những năm trưởng thành của ông. Có một cái khác lẽ ra
đã có thể cản ông tiến vào con đường ấy: Vai trò của những nhiệm vụ mà ông qui
cho nghệ thuật, và việc do chính bản chất cùa mình, ông thích nhìn ngắm cuộc
đời hơn là biến đổi nó. Đối với Pasternak, nghệ thuật là một cơ quan trực giác
và người nghệ sĩ là một chứng nhân nhạy cảm và chăm chú (chứ không phải một
người tham gia tích cực) - quan niệm không cho phép ông diễn đạt cách trực tiếp
và thích đáng cái nhịp điệu tàn phá của thời đại chúng ta. Về phương diện này,
vừa do những ý kiến của mình vừa do tính cách cùa mình, ông trái ngược với
Maiakovski là người có lần bảo rằng Pasternak và mình cùng sống trong một ngôi
nhà nhưng không ở cùng phòng. Thơ ca là cơ quan trực giác, tự nó có những nỗ
lực thu hút mọi màu sắc của thiên nhiên sống. là điều hoàn toàn xa lạ với
Maiakovski. Nhà thơ này, hoàn toàn bị tác động trong biến cố và lịch sử, khẳng
định thơ ca tích cực của mình trong cuộc đấu tranh và chỉ coi thiên nhiên như
một vật liệu để làm việc (nếu ngọn núi Kazbek (11) làm vướng chân chúng ta -
hãy cho nó nổ tung lên!"). Ông nói về thiên nhiên với sự hạ cố, thậm chí
với sự xem thường và coi trọng những gì do bàn tay con người sáng tạo là cao
quí hơn tất cả những "tổ kiến" và tất cả những "cọng cỏ".
Đối với Maiakovski thơ ca là vũ khí, là cây súng, là sản xuất, nhà máy là nỏ
ura-nium… Còn Pasternak cho thơ ca những thuộc tính phần nào "tự
nhiên" hơn: "đó là một tiếng rít bị ngắt quãng khô khốc. Đó là tiếng
nứt nẻ của băng…". Maiakovski đặt nhà thơ ngang hàng với người thợ, người
kỹ sư, hay người làm chính trị, trong khi Pasternak phân biệt ở những người ấy,
nếu không bào là họ đối nghịch nhau.
(11) Kazbek: núi ở
Gruzia.
Sự phân định giữa chức năng của nhà thơ và chức năng của người làm chính
trị, Pasternak từng trình bày rõ nét nhất trong một bài viết trước cách mạng -
Chiếc cốc đen. Nhà thơ và người anh hùng, trữ tình và lịch sự, vĩnh cửu và thời
gian, được chỉ định trong bài viết như những phạm trù xung khắc, thuộc loại
khác nhau. "Cả hai đều là tiên nghiệm, cả hai đều là tuyệt đối",
trong khi vẫn có sự kính trọng cần thiết đối với những "Chiến sĩ của lịch
sử tuyệt đối", tác giả vẫn dành cho thơ ca quyền không bị lôi kéo vào thực
tại, và không nhận trách nhiệm "thực hiện lịch sử của ngày mai ấy"
(*).
(*) Boris Pasternak: Tchornyi Bokal
("Chiếc cốc đen") Vtoroi Sbornik. Centrifugy, Matxcơva, 1916, tr. 42.
Thật sự là
Pasternak đã có xa vời tư tưởng ấy của thời trẻ; thế nhưng, dưới những hình
thức khác nhau, người ta vẫn tìm thấy lại những âm vang và những biến khúc của
nó cả trong giai đoạn sau cùng của nghệ thuật ông. Ông sẵn sàng phong những
danh hiệu cao quí nhất cho lịch sử, cho một người anh hùng, hay cho một con
người hoạt động, thế nhưng không vì thế mà ông không tách riêng hẳn "vương
quốc của nhà thơ".
Trong những
quan hệ của mình với lịch sử, cũng như trong những quan hệ của tất cả những
hiện tượng thiên nhiên, nhà thơ là một bọt biển cuốn hút, chứ không phải chiếc
búa tán nghiền mọi thứ. Bọt biển cuốn hút tất cả những gì bao quanh nó, nuốt
ngốn tất cả những đặc trưng của thời đại mình, nhưng không bao giờ trở thành bộ
phận của đời sống xã hội lịch sử với cùng mức độ như nó nằm trong thiên nhiên.
Trong cách trình bày lịch sử của ông, người ta cảm thấy ở Pasternak có một sự
tách rời trong cái nhìn của ông về những biến cố, sự tách rời mà người ta không
thấy có khi ông nhìn thiên nhiên. Ông chứng tỏ một sự sáng suốt cao độ, nhưng
đó là một sự sáng suốt của một người quan sát ghi chép tỉ mỉ những biến cố: ông
không tham dự thật sự vào những biến cố đó.
Pasternak có
nói rằng nghệ thuật là "giới hạn tận cùng của một thời đại" (và không
phải là không có kết quả). Ông nối liền những sáng tạo nghệ thuật với những
biến cố lịch sử như là những hiện tượng tương đồng tiến hành ở những mức độ
khác nhau. Như thế Tolstoi đi song song với cuộc cách mạng. Cũng giống như vậy.
Pasternak cho rằng tập thơ, Chị tôi -
Cuộc sống của ông song song với thời đại cách mạng, và còn đi đến chỗ nghĩ
rằng tập thơ ấy có đề tài về Cách Mạng, mặc dù trong đó chẳng có vấn đề gì là
cách mạng hay những đảo lộn xã hội, mà chỉ là những cơn bão hay những buổi mặt
trời mọc - và giải thích những bài thơ ấy theo cách phúng dụ thì thật là hiểu
lầm. Dù sao chăng nữa lịch sử vẫn tìm thấy chỗ của mình trong nghệ thuật của
Pasternak, và điều ấy xảy ra vào thời kỷ ông công khai khước từ mọi liên hệ với
nó, và cho rằng mình không hiểu "những ngàn năm trước của chúng ta, các
bạn ạ, là cái gì". Tiếng vang của chiến tranh và cách mạng đổi lại một số
không phải là không đáng kể những bài thơ "phong cảnh" của ông, và
những hình ảnh thiên nhiên của ông mang dấu ấn của lịch sử. Từ năm 1915-1917,
người ta thấy xuất hiện trong thơ ông những hình ảnh như "Bầu trời bãi
công", hay dấu vết một toán kỵ binh xung kích nằm trong băng tuyết, kỷ
niệm năm 1905; tinh thần "những cuộc nổi dậy của binh sĩ và những giây
phút nhiệt tình" ngập cả bầu trời, và những đám mây làm ông nghĩ dến những
người lính mới và những từ chiến tranh:
Những đám mây trôi qua trên những
phố chợ bụi bặm
Như những chàng lính mới bước đi
trong buổi bình minh ngoài cánh đồng,
Không phải suốt một giờ, mà là vĩnh
cửu
Như những tên P.G người Áo
Như cái yên tĩnh thì thầm
Như một tiếng thì thầm: "cho
tôi xin tí nước, thưa bà"
Thiên nhiên
có những đặc trưng kỳ lạ, do thế giới những bão táp xã hội và những xung đột
giai cấp mà có. Đối với nhà thơ, sự thâm nhập của thực tại lịch sử vào vũ trụ
của thiên nhiên là một hiện tượng tự nhiên, nó, nghĩa là con người trong khi
dạo chơi giữa thiên nhiên đã mang trong mình thế giới thành phố, cũng như cả
một chuỗi những liên tưởng xã hội chính trị, trong những liên tưởng ấy ông ta
kéo theo những đồng cỏ và những rừng cây.

