Nhắm mắt lại sẽ thấy sao rơi - Chương 01 - 02 - 03 - 04
1. Lúc hai giờ sáng
“Kumiko, trời mưa rồi kìa.”
Osamu đặt
trước bàn làm việc của tôi một tách trà rồi từ tốn tiến lại phía
cửa sổ mở toang nó ra. Mùi của cơn mưa đêm tháng chín hoà quyện trong
hương thơm thanh khiết của đất và cỏ lan toả thật dễ chịu vô cùng.
“Anh chưa
ngủ sao? Gần hai giờ sáng rồi đấy.” Tôi mệt mỏi bỏ cặp kính xuống
bàn rồi xoa đôi mắt nhức mỏi vì đã phải làm việc liên tục suốt bảy
tiếng đồng hồ của mình.
“Tay em dính màu vẽ kìa Kumiko.” Anh nhắc tôi.
“Kệ nó đi.”
Tôi đáp. “Chốc nữa em vào rửa.”
“Anh tính
hôm nào trồng thêm vài cây hoa hướng dương dưới vườn.” Osamu lại hỏi
tôi: “Trồng hoa hướng dương mùa này liệu có được không nhỉ?”
“Hình như
qua mùa sương giá là được.” Tôi trả lời. “Mà anh cũng đâu có rảnh
rỗi đủ thời gian để làm vườn đâu?”
“Thì anh
vẫn còn cuối tuần mà.”
“Người ta
không trồng cây để rồi chỉ chăm sóc nó vào hai ngày cuối tuần đâu đồ
ngốc.”
“Để anh
tính lại xem sao.” Anh ngẫm nghĩ một hồi rồi nói: “Anh ngủ trước đây.
Xong việc nhớ đóng cửa sổ vào nhé.”
[Chúc bạn đọc
sách vui vẻ tại www.gacsach.com - gác nhỏ
cho người yêu sách.]
Osamu và tôi
đã chung sống được với nhau ba năm. Tôi hai mươi hai tuổi, anh hai mươi
tám. Chúng tôi không kết hôn, chúng tôi đều là những con người trẻ
tuổi.
Tôi vô tình
bắt gặp hình ảnh phản chiếu của chính mình trong gương vào lúc hai
giờ sáng: mái tóc bết lại, hai quầng mắt thâm thấy rõ và khắp hai
bàn tay lấm lem màu vẽ trông thật quá sức nhếch nhác và mệt mỏi.
Vào những lúc thế này, trong những đêm thế này tôi vẫn thường tự
hỏi chính mình liệu rằng có đang cảm thấy bất mãn gì với cuộc
sống không? Da mặt tôi đã bắt đầu sạm đi và chẳng còn mịn màng như
trước nữa. Liệu Osamu có còn thấy tôi xinh đẹp nữa không nhỉ? Tôi lại
thở dài. Cái tháng chín này sao bỗng dưng ảm đạm quá sức.
Tôi đã từng
là một sinh viên hội họa, cũng có mơ ước lớn lao được trở thành một
họa sĩ thành tài, sáng tác ra những bức tranh làm thay đổi nền hội
hoạ đương đại thế giới. Thế rồi tôi gặp Osamu và chúng tôi chuyển
đến sống với nhau bất chấp sự ngăn cấm từ phía cha mẹ tôi. Osamu
ngày ấy mới đang bắt đầu làm công việc biên tập viên cho tạp chí
truyện tranh được chưa lâu, ngoài một ngôi nhà được cha mẹ quá cố để
lại ra anh chẳng có thêm bất cứ thứ gì ngoài tình yêu dành cho tôi
cả. Tôi vẫn nhớ đêm cuối đông năm ấy tôi tựa đầu vào vai anh ngồi trên
chuyến tàu điện ngầm vắng vẻ. Đó là cái ngày mà tôi đã rời bỏ gia
đình để đến bên anh. Trong tay tôi khi ấy chỉ có một chiếc ba lô vải
đựng một quyển sổ ký hoạ, những cây bút chì cùng một con dao dọc
giấy đã cùn dùng để gọt bút màu xanh da trời.
Duy trì công
việc học tập đối với tôi ngày ấy quả chẳng phải một điều dễ dàng
gì, vậy nên sau khi học hết năm thứ hai tôi xin bảo lưu và tạm thôi
học ở trường đại học để đi tìm việc làm thêm mà mình có thể làm
được tốt có liên quan đến vẽ. Công việc đầu tiên mà tôi nhận được đó
là thiết kế bìa sách cho cuốn tiểu thuyết đầu tay của một nữ sinh
cấp ba viết về tuổi thơ của mình và người bạn thân luôn sống trong
bệnh viện của cô ấy. Tên cuốn sách đó là “Nhật ký bằng tranh của
Mizuki”. Cuốn sách này sau khi xuất bản đã gặt hái được nhiều thành
công và tôi cũng nhờ vậy mà nhận thêm được rất nhiều dự án vẽ tranh
minh hoạ cũng như thiết kế bìa sách. Điều đặc biệt khiến tôi được
tín nhiệm trong công việc này đó là mọi bản thiết kế đều được tôi
vẽ bằng tay toàn bộ mà không hề sử dụng đến máy tính. Có lẽ tôi
gần như là hoạ sĩ vẽ minh hoạ duy nhất vẫn còn chịu khó hành hạ
mình nhiều như vậy.
Osamu trong
mắt tôi luôn là một người đàn ông dịu dàng và bảo bọc tôi trong vòng
tay của anh ấy như thể tôi vẫn luôn là một cô bé con tuổi mười chín
đang chìm đắm trong những mơ mộng của tình yêu dù những cảm xúc xưa
cũ ấy có lẽ đã trôi qua tôi được rất lâu rồi. Tôi và Osamu giống như
một đôi vợ chồng trẻ thực sự vậy, chúng tôi cũng phải lo toan cho cuộc
sống và cũng chính từ cái nguyên do bất khả kháng ấy mà tôi mỗi
ngày đều vùi đầu vào công việc một cách điên cuồng. Tôi vẽ từ chín
giờ sáng đến quá mười hai giờ trưa, ăn qua loa cho xong bữa rồi lại
vẽ tiếp đến hai giờ chiều cho đến khi mắt díu cả lại rồi lăn ra ngủ
lúc nào chẳng biết. Thỉnh thoảng khi tỉnh dậy tôi sẽ thấy trời đã
chuyển sang tối và Osamu đang thay tôi nấu cơm. Sau bữa tối tôi lại
tiếp tục vẽ đến tận quá nửa đêm như hôm nay, tôi không bao giờ ngủ
trước hai giờ sáng trong những ngày phải chạy đua với công việc cả.
Osamu cũng
yêu công việc của anh ấy nhưng anh ấy cũng yêu tôi. Còn tôi thì dạo
gần đây đã bắt đầu nhận ra trong tâm trí mình gần như chỉ còn nhìn
thấy những bản phác thảo và cái hạn nộp treo lơ lửng trên đầu. Tôi
không yêu Osamu nhiều lắm vào những ngày này. Nhưng tôi vẫn luôn tự
nhủ với bản thân rằng tôi yêu anh vô cùng vào những khoảng thời gian
được nghỉ ngơi trong những khoảng hở khi công việc cũ vừa kết thúc
và chưa có thêm một công việc mới nào được giao vào tay mình. Tôi đã
tự thoả hiệp với trái tim mình như thế.
Cơn mưa bên
ngoài nhẹ dần rồi tạnh hẳn. Tôi rửa mặt lại một lần nữa rồi đi
lại phía ô cửa sổ để ngỏ trong phòng làm việc. Mùi khu vườn nhỏ
của chúng tôi ngập trong cơn mưa ướt át đầy sảng khoái ngát thơm khắp
mọi ngóc ngách trong căn phòng. Giá như những đêm mưa thế này đến sớm
hơn chút nữa, tôi thực sự muốn được cùng Osamu ngồi bên hiên nhà tận hưởng
nó và cùng nhau uống trà. Osamu pha trà rất ngon.
2. Cuộc điện thoại ngày thứ sáu
Thứ sáu. Osamu đi làm từ sáng
sớm như mọi ngày nhưng với tâm trạng hứng khởi hơn bởi hôm nay là thứ
sáu, điều đó có nghĩa là ngày mai cũng như ngày kia là cuối tuần
mà cuối tuần thì anh được nghỉ ngơi.
Gần đây tôi
đang vẽ tranh minh hoạ cho sách thiếu nhi, đây không hẳn là một mảng
đề tài quá thú vị bởi trẻ em là những khách hàng rất dễ nắm bắt.
Tôi hoàn thành mười sáu trang tranh màu vừa kịp đúng thời hạn hẹn
với người phụ trách. Anh ta đến nhận bản thảo với thái độ rất hài
lòng. Thường thì những người phụ trách trước đây của tôi mỗi lần
nhận số tranh mà tôi hoàn thành đều đến với một vẻ mặt lo âu nhưng
lại đầy thông cảm khi nhận tập tranh trễ lắm lúc đến cả tuần từ tay
một kẻ mắt mũi thâm xì cả lại vì chạy việc. Nó thực làm tôi nhớ
đến những tháng ngày làm sinh viên ghê gớm.
Buổi trưa
Osamu không về nhà nên tôi vẫn thường ăn trưa một mình. Trong tủ lạnh
vẫn còn súp miso mà Osamu nấu từ tối qua, tôi bắc nó lên bếp rồi đun
nóng lại, trong đầu nhẩm tính tối nay sẽ tự tay vào bếp nấu món gì
đó thật ngon cho anh ấy. Rồi điện thoại reo vang.
“Nhà Naohito
Osamu và Takahashi Kumiko xin nghe.” Tôi nhấc máy trả lời sau hồi chuông
thứ tư.
“Kumiko đấy
à? Là bà đây.”
Giọng nói
khàn khàn ấm áp quen thuộc, đó là giọng bà nội của Osamu giờ đang
sống tại đảo Honshu, thành phố Osaka cùng với hai mẹ con người cháu
gái là em họ của bố Osamu. Mỗi khi nhắc đến bà là tôi lại nhớ đến
nụ cười khoẻ mạnh và câu nói cứ nhắc đi nhắc lại suốt của bà với
chúng tôi: “Hai đứa mau lấy nhau đi.”
“Con chào
bà!” Tôi vui vẻ hẳn. “Bà vẫn khoẻ chứ ạ? Cuối tháng này con và anh
Osamu lại về chơi với bà nhé?”
“Bà vẫn ổn
mà, thằng Osamu có ở đấy không Kumiko?” Bà hỏi, giọng điệu hơi có
phần gấp gáp.
“Anh Osamu đi
làm từ sáng sớm rồi bà ạ.”
“Chậc.” Bà
chắt lưỡi. “Vậy giờ này có gọi nó về nói chuyện được không nhỉ?”
“Có chuyện
gì quan trọng sao bà?” Tôi hỏi, cảm giác bỗng hơi căng thẳng.
“Ừ.” Bà
đáp cùng một cái thở dài. “Mẹ bé Miu ấy mà, nó bỏ nhà đi mất
rồi.”
Mimasaka Miu
là con gái của người cháu họ đang sống cùng với bà nội của Osamu.
Mẹ của cô bé là Mimasaka Yukiko, một người phụ nữ xinh đẹp nhưng yếu
đuối. Sau khi người chồng qua đời do tai nạn lao động cô đã cùng với
đứa con gái duy nhất khi ấy mới ba tuổi về Osaka sống với bà. Cuộc
sống của bà tại Osaka vốn rất đầy đủ nhờ những người con đã thành
đạt chu cấp nhưng bà cũng chỉ sống một mình nên rất cô đơn, việc cô
Yukiko cùng bé Miu dọn về ở với bà cũng là chính do bà đề nghị.
“Cô Yukiko
bỏ đi đâu được ạ?” Tôi hỏi, hai đầu lông mày của mình dường như đã
díu tịt cả vào nhau.
“Bà cũng
không rõ nữa.” Bà lại thở dài. “Nhưng bé Miu chỉ mới năm tuổi thôi,
nó còn nhỏ quá, vẫn chưa biết đang có chuyện gì. Mà bà thì lại
già yếu rồi.”
“Bà không
thể một mình chăm sóc cho bé Miu đúng không?” Tôi hỏi.
“Bà biết
chuyện này sẽ rất phiền đến hai đứa nhưng…” Bà lại tiếp tục thở
dài. “Con với thằng Osamu cứ bàn bạc với nhau đi nhé, giờ bà vẫn có
thể chăm sóc cho Miu thêm một thời gian nữa cho đến khi hỏi ý kiến
được hết tất cả các họ hàng.”
“Bà ơi. Vậy
con đến đón bé Miu nhé?” Tôi nói gần như ngay lập tức, đến suy nghĩ
vài giây cũng chẳng kịp.
“Chuyện này
phải bàn với thằng Osamu nữa đã.”
“Con sẽ nói
với anh Osamu mà. Giờ con đặt vé máy bay, bà nói với bé Miu vài hôm
nữa con đón bé lên Tokyo
chơi một thời gian nhé.”
Cuộc nói
chuyện kết thúc, tôi nghe tiếng nồi miso sôi lục bục trên bếp ga,
những giọt nước nhỏ tóc tóc xuống bồn rửa do vòi chưa khoá chặt.
Sẽ ổn thôi mà, tôi tự nhủ với mình điều đó.
Tôi còn nhớ
mỗi lần Osamu và tôi đến thăm bà ở Osaka thì Miu luôn là người tỏ ra
vui nhất. Miu là một đứa trẻ có tâm hồn rất trong sáng và đáng yêu,
nếu ngồi bên cạnh cô bé thì cứ năm phút một lần sẽ nhận được những
câu hỏi “Tại sao?” “Tại sao bầu trời lại có màu xanh?”, “Tại sao con
kiến thì lại nhỏ?” Osamu mỗi lần nghe như vậy thường đùa rằng: “Lại
đến chương trình Một Ngàn Câu Hỏi Tại Sao của Miu lên sóng rồi kìa!”
Mỗi lần như thế là cô bé lại cười khúc khích, âm thanh trong lanh
lảnh giòn giã tưởng chừng như có thể ăn được. Tháng ba sang năm cô bé
sẽ tròn năm tuổi, nghĩ lại thấy một đứa trẻ ở tầm tuổi đấy đáng
lẽ ra phải đang nhận được sự yêu thương và được bao bọc trong vòng tay
của cha mẹ mình. Nhưng Miu thì đã mất bố, còn mẹ của cô bé bỏ đi
vì lý do gì thì hiện giờ vẫn còn là một điều bí mật. Tôi vẫn luôn
biết cô Yukiko là một người phụ nữ yếu đuối, nhưng là một người mẹ
thì tại sao cô ấy lại không thể mạnh mẽ lên vì con mình được?
Tôi tắt bếp
khi nồi súp miso bắt đầu sôi lục bục và vặn chặt vòi nước lại. Giờ
thì tôi chẳng còn cảm thấy đói nữa, chỉ buồn ngủ. Nhưng trước hết
việc quan trọng lúc này là phải gọi cho Osamu. Tôi cần phải báo cho
anh biết chuyện hệ trọng này.
3. Osaka
Chuyến bay
từ Tokyo đến Osaka của tôi và Osamu diễn ra khá gấp gáp. Chúng tôi
cũng không có ý định ở lại nhà của bà lâu nên hành lý mang theo
không nhiều.
Vào buổi
chiều khi tôi nói cho Osamu chuyện của bé Miu và mong muốn đón cô bé
về của mình Osamu đã không hề phản đối một lời nào cả. Anh chỉ hỏi
tôi:
“Em có thực
sự chắc chắn muốn chuyện này không? Chăm sóc cho một đứa trẻ không
phải là chuyện gì dễ dàng, hơn nữa em lại luôn vùi đầu vào công
việc như vậy...”
Vào lúc
Osamu nhắc đến hai chữ “công việc”, thực sự trong đầu tôi đã lướt qua
rất nhiều ý nghĩ. Nhưng rồi tất cả những hình ảnh lẫn câu từ ấy
đều cứ xoay vòng vòng rồi bị hút xuống một cái hố đen trong đầu và
cuối cùng tôi vẫn chắc chắn câu trả lời của mình là: “Có.” Vậy là
hai hôm sau chúng tôi có mặt ở Osaka, thành phố nơi con người luôn luôn
quay cuồng bận rộn trong công việc này.
Người Osaka đi bộ rất nhanh trên
đường, thậm chí ngay cả khi đèn đỏ dành cho người đi bộ đã bật thì
họ vẫn cứ vội vã vượt qua nếu như xe cộ trên đoạn đường ấy qua lại
không quá đông. Tôi tự hỏi không biết có bao giờ những con người ở đây
chịu đi bộ một cách chậm rãi lại và đưa mắt nhìn ra xung quanh hay
không? Không biết họ sẽ nghĩ gì nếu một ngày đứng yên trên một góc
đường và thấy những con người quanh mình vẫn đang vội vã bước đi mà
chẳng hề quan tâm đến mình hay bất cứ ai, bất cứ mẩu chuyện đời nào
xung quanh mình như thế?
Bà nội của
Osamu là một người Osaka hiếm hoi vẫn còn bước đi chầm chậm trên
đường, đứng lại mỗi khi đèn đỏ cho người đi bộ vẫn báo và thỉnh
thoảng đặt những đồng xu lẻ trong ví xuống vỉa hè như một món quà
nhỏ cho những ai tình cờ bắt gặp chúng trên bước đi của mình. Khi
thấy chúng tôi bước chân qua cửa nhà bà rất vui vẻ tiến đến ôm lấy
tôi và đưa tay xoa đầu Osamu.
“Tốt rồi.
Tốt rồi.” Bà nói: “Vào nhà ngồi đi nào hai đứa. Bé Miu đang ngủ trưa
đấy.”
Tôi vào
trong phòng khách liền thấy bé Miu đang nằm phơi bụng trên chiếc mền
trải xộc xệch trên nền nhà, mái tóc cột hai chùm đã rối và xổ tung
nhưng cô bé vẫn ngủ ngon lành với cái miệng hơi hé như thể đang cười.
“Bà nói
với nó rằng Yukiko đang đi làm xa.” Bà hạ thấp giọng kể với chúng
tôi như sợ Miu nghe thấy: “Bé Miu vẫn chưa biết chuyện gì cả. Nó còn
nhỏ nên bà không muốn khiến nó buồn hay khóc lóc vì một chuyện đau
lòng như thế.”
“Nhưng cứ
giữ bí mật mãi như thế liệu có phải là điều nên làm hay không?”
Osamu lên tiếng, trong cách mà anh nói ẩn chứa sự không đồng tình.
“Vì mọi
người vẫn còn hy vọng Yukiko trở về với con bé mà.” Bà buồn rầu
đáp lời rồi lại hỏi: “Vậy hai đứa đã suy nghĩ kỹ về việc chăm sóc
cho bé Miu trong khoảng thời gian này rồi chứ?”
“Dạ vâng.”
Tôi trả lời.
“Nếu có
khó khăn thì các con cứ nói ra. Ngoài các con bé Miu cũng không phải
là không còn người họ hàng nào khác.”
“Không có
vấn đề gì đâu mà bà.” Tôi trấn an. “Giờ thu nhập của con và anh Osamu
cũng đã ổn định rồi, ngày thường con cũng làm việc ở nhà nên bà
không có gì phải lo lắng cho bọn con cả đâu.”
“Nếu được
vậy bà cũng yên tâm.” Bà gật đầu. “Bà bây giờ cũng già rồi, sức
khoẻ không thể cố thêm được nữa. Ngôi nhà này cũng đang tính đến
chuyện bán đi, vài tháng nữa bà sẽ chuyển đến nhà bác Masashi của
con đấy Osamu à.”
“Như vậy có
vợ chồng bác Masashi chăm sóc bà con cũng đỡ lo.” Osamu nhẹ nhõm đáp
lời. “Như vậy bà cũng không phải lo chỉ có một mình nữa.”
Như nghe
thấy tiếng người lớn rì rầm nói chuyện, bé Miu trở mình một lúc
rồi tỉnh. Cô bé chống khuỷ tay ngồi dậy, hai mắt díu tịt vào nhau,
những sợi tóc dính bết trên má còn đang hằn vết in của lằn chỉ trên
đệm trông rất buồn cười.
“A! Chị
Kumiko đến rồi!” Con bé reo lên rồi lật đật chạy tới ôm lưng tôi ríu
rít: “Bà nói chị Kumiko và anh Osamu đến đón Miu đi chơi máy bay đến Tokyo. Bà còn nói chị
Kumiko sẽ cho Miu chơi màu nước nữa!”
“Chào anh
chị chưa Miu?” Bà cười nhắc cô bé.
“Em chào anh
Osamu, chị Kumiko. Em là Mimasaka Miu, bốn tuội.”
“Tuổi chứ.”
Osamu nhắc.
“Tuội.” Miu
nói lại. “Không, là tuội. Không. Tuội…”
Vẻ mặt cô
bé mỗi lúc một bối rối, bà cười xoà: “Con bé vẫn chưa phát âm được
đúng chữ đấy, để dần dần rồi học là nói được thôi mà.”
“Bà nói Miu
học rất nhanh à nha!” Đôi mắt cô bé sáng rỡ cười khúc khích khi nghe
bà nói đỡ cho mình.
“Được rồi.”
Tôi bẹo má con bé rồi hỏi: “Thế Miu đã chuẩn bị hết đồ đạc để lên
máy bay đi Tokyo chưa nào?”
“Miu chuẩn
bị hết rồi.” Nói rồi con bé chạy vào phòng trong kéo ra một chiếc
vali nhựa màu cam hồng nhỏ dành cho trẻ con cùng một chiếc ba lô có
in hình nhân vật mèo Happy trong bộ truyện tranh “Fairy Tail”. “Miu mang
cả bàn chải đánh răng và khăn tay của Miu nữa này!” Em khoe.
“Bọn con
chuẩn bị vé máy bay xong hết rồi bà ạ.” Osamu quay sang thưa chuyện
với bà: “Vì công việc của bọn con ở Tokyo nên con và Kumiko không thể
ở lại đây lâu được, bọn con phải lên chuyến máy bay sau trong bốn tiếng
nữa.”
“Không sao
cả mà.” Bà xua tay. “Bà không sao đâu, chốc nữa thằng con cả của
Masashi sẽ đến đây chơi. Hai đứa đừng lo bà buồn.”
“Bọn con sẽ
liên lạc với bà thường xuyên.” Tôi nói. “Phải không Miu?”
“Vâng.” Miu
vui vẻ trả lời. “Miu sẽ viết thư cho bà nha, còn vẽ tranh gửi cho bà
ngắm nữa. Rồi bà bảo bác Masashi cho đi máy bay đến Tokyo chơi với Miu
nha?”
“Ừ, nhưng
trước hết Miu phải viết chữ thành thạo đã.” Bà hiền hậu nói.
“Miu viết
được chữ mềm rồi. À, khi nào mẹ về bà nhớ nhắn với mẹ hộ Miu là
Miu ở Tokyo
với anh Osamu với chị Kumiko nhé? Để mẹ biết đường đến đón Miu.”
“Được rồi,
được rồi…”
Nghe tới đây
tôi có cảm giác như vừa có một tảng chì rơi tõm thẳng từ lồng ngực
của mình xuống tận đáy dạ dày.
“Miu đáng
yêu quá.” Tôi nói.
Miu lại
cười tít mắt: “Em biết mà, ai cũng nói Miu đáng yêu hết a!”
“Được rồi,
được rồi.” Bà kéo bé Miu lại vào lòng rồi xoa đầu dặn: “Lên Tokyo
chơi không được đua đòi đâu đấy nhé.”
“Đua đòi là
gì ạ?” Cô bé thắc mắc.
“Là đòi
hỏi những thứ không cần thiết ấy.” Bà giải thích.
“Vậy thì
Miu làm được!” Miu quả quyết đáp chắc nịch.
“Nhớ phải
ngoan đấy.”
“Cái này
Miu cũng làm được luôn!”
“Nhớ nhắc
cả anh chị phải sớm lấy nhau nữa đấy.”
“A a a!” Lần
này cô bé lại kêu lên rồi tiếp tục cười khúc khích: “Nhắc anh chị
làm cô dâu chú rệ. Miu sẽ nhắc hết lần này đến lần khác luôn.”
“Chú rể
chứ.” Osamu lại nhắc.
“Chú rệ.
Không, chú rệ.” Miu tập nhắc lại nhưng vẫn chưa được. “A. Cái này Miu
vẫn chưa học được.”
Cứ như vậy
cho đến giờ chúng tôi phải nói lời tạm biệt với bà để ra sân bay
đón chuyến bay trở về Tokyo
của mình. Ra đến cửa, bà và Miu ôm hôn tạm biệt lần cuối cùng, rồi
khi đứng thẳng người dậy, dù là buồn như thế nhưng bà vẫn chẳng quên
nhắc nhở tôi và Osamu nốt thêm một câu: “Hai đứa mau mà lấy nhau đi.”
4. Phòng riêng
“Miu đang bay trên trời ha chị
Kumiko!”
“Suỵt!” Tôi
đặt ngón trỏ lên miệng cô bé dặn: “Khi ở chỗ đông người thì không
được lớn tiếng đâu nhé.”
“Tại sao
lại không được nói lớn tiếng ở chỗ có nhiều người ạ?” Cô bé tròn
mắt hỏi.
“Vì đó là
phép lịch sự.” Tôi đáp.
“Phép lịch
sự là không được nói lớn chỗ đông người ạ?”
“Vẫn còn
nhiều nữa nhưng đại loại là như vậy đấy.”
“Vậy từ bây
giờ Miu sẽ lịch sự nha?”
“Thế thì
Miu ngoan lắm.”
Đối với
những đứa trẻ, thế giới xung quanh chúng thật quá nhiều điều lạ
lẫm. Vậy nên trẻ con hỏi rất nhiều và cũng thường hay nghe lỏm những
điều mà người lớn nói. Tôi vốn không phải là một người hay chửi thề
nhưng đôi khi trong lúc làm việc, ví dụ như gạt tay làm đổ toẹt xô
nước vào bản vẽ màu đang lên dở hay dùng dao dọc giấy để cắt mép
tranh nham nhở rồi chẳng may vô tình chệch tay cắt trúng vào tranh
chẳng hạn. Những lúc như vậy tôi rất hay chửi thề, đôi khi còn phát
điên lên mà đập phá đồ đạc xung quanh. Nếu như để Miu nhìn thấy những
cảnh ấy mà học theo hẳn sẽ chẳng hay ho gì. Muốn nuôi một đứa trẻ
thành người tốt thì chính bản thân người lớn cũng phải sửa đổi lối
sống của mình trước đã.
Trẻ con
cũng có một đặc điểm mà tôi rất ngưỡng mộ: chúng dường như chẳng
biết mệt là gì cả. Chuyến bay từ Osaka
về Tokyo rồi
lại từ sân bay Narita trở về nhà khiến tôi kiệt sức.
“Anh Osamu
nấu bữa tối nhé?” Vừa về đến nhà tôi đã nằm vật luôn ra trên hiên
bảo với Osamu: “Em buồn ngủ lắm, cả mệt nữa nên chẳng nấu được cái
gì ngon đâu.”
“Miu cũng
biết phụ nấu cơm này. Để Miu giúp anh Osamu nhé?” Con bé vừa vui vẻ
nói vừa chạy tung tăng khắp trong ngôi nhà mới của mình.
“Vậy chúng
ta gọi đồ ăn về nhà vậy.” Anh nói. “Anh cũng thấy hơi mệt, em muốn ăn
đồ Ý hay đồ Nhật?”
“Miu muốn ăn
gì?” Tôi hỏi cô bé.
“Miu thích
ăn cơm lươn.” Con bé đáp.
“Vậy gọi ba
cơm lươn đi.” Tôi bảo.
“Được rồi.
Ba cơm lươn.”
Trong khi chờ người giao cơm đến
bé Miu đã kịp làm cho bản thân bận rộn. Cô bé khệ nệ kéo va li của
mình ra một góc phòng khách rồi bắt đầu mở ra xếp gọn gàng từng
món đồ lên sàn nhà. Thấy con bé chuẩn bị bày bừa khắp nơi tôi liền hỏi
nó:
“Này Miu,
sao lại trải hết quần áo ra sàn nhà thế?”
“Miu chọn
chỗ này mà.” Cô bé trả lời tôi. “Miu chọn chỗ này làm phòng riêng
của Miu rồi.”
“Em chọn
góc nhà làm phòng riêng sao?” Tôi hỏi lại.
“Miu bé mà
nên chỉ cần một góc nhỏ xíu xiu thôi.”
“Nhưng đây
là phòng khách mà.”
“Hồi ở với
bà Miu ngủ ở phòng khách quen rồi. Ở phòng khách có ti vi nữa nha,
mẹ cho Miu ngủ ngoài phòng khách rồi mở ti vi đến khi nào hết hoạt
hình thì thôi.”
“Miu không
sợ ma hả?”
“Ma là gì
ạ? Miu chưa được học cái này.”
“Là kẻ
chuyên đi trừng phạt những đứa trẻ hư đó.”
“Nhưng Miu
có hư đâu?”
Gương mặt cô
bé ngơ ngác không hiểu tôi đang nói đến chuyện gì, gương mặt ngơ ngác
của trẻ nhỏ trông cũng thật dễ thương.
Ngôi nhà
của Osamu và tôi sống chỉ có hai phòng ngủ trong đó một phòng đã
được dùng làm nơi làm việc của tôi. Vậy nên khi đón Miu về sống
chung, tôi cũng đã suy nghĩ khá nhiều về việc không có phòng ngủ
riêng dành cho cô bé, mà nếu để Miu ngủ chung phòng ngủ của tôi và
Osamu thì quả thật là có hơi bất tiện cho hai đứa.
“Miu thực
sự muốn ngủ ở chỗ này chứ?” Tôi hỏi lại thêm một lần nữa cho chắc
chắn.
“Không được
sao ạ?”
“Được chứ.”
Tôi gật đầu. “Nếu em muốn thì mai chị sẽ dẫn Miu đi mua một bộ chăn
đệm riêng nhé?”
“Được không
ạ? Miu muốn chăn in hình mèo Happy!”
“Được, mai
chị đưa Miu đi mua chăn in hình mèo Happy.”
“Hoan hô!”
Con bé nhảy cẫng lên sung sướng, rồi như chợt nhớ ra chuyện gì đó nó
lại hơi chùng xuống, hạ giọng hỏi tôi: “Nhưng như thế Miu có bị gọi
là đua đòi không ạ?”
Tôi cười:
“Không đâu, chăn đệm là cần thiết mà. Cả một cái tủ nhỏ cho Miu đựng
quần áo nữa.”
“Hoan hô!
Vậy là Miu sắp giàu rồi!”
Con bé lại
hò reo rồi chạy khắp phòng khách. Tiếng cười của trẻ con vang vọng
khuấy động bầu không khí đã từ lâu có chút im lìm trong căn nhà. Tôi
bỗng giật mình tự hỏi không biết tôi và Osamu đã sống ra sao trong sự
tĩnh lặng của ngôi nhà trong suốt những ngày tháng qua? Những ngày
mà anh phải đi làm từ sáng sớm và chỉ ở nhà vào buổi tối, những
ngày mà tôi luôn bù đầu trong công việc bất kể ngày đêm mà đôi khi là
ngủ quên luôn trong phòng làm việc.
“Cơm đến
rồi này.” Osamu bước vào phòng khách trên tay cầm hai bịch ni lông lớn
đựng đồ ăn. “Miu có uống trà không để anh pha cho chị Kumiko còn tiện
làm cho em luôn?”
“Miu muốn
uống nước có ga!”
“Ở nhà
không có mất rồi.”
“Vậy cho Miu
trà pha với đường cũng được.” Miu vẫn vui vẻ đáp. “Anh Osamu nhớ bỏ
đá vào cho Miu nữa nhé!”
Nhìn dáng
lưng đang đứng bếp của Osamu tôi chợt cảm thấy muốn chạy lại ôm lấy
anh từ phía sau thật chặt. Nhưng dường như vẫn có một cái gì đấy cứ
níu chân tôi lại. Không phải hôm nay, tôi tự nhủ với mình như vậy.

