Bên giòng lịch sử - Chương 32 - 33

Chương 32

32. Từ Nữu Ước trở lại
Ba-Lê.

Sau đại hội sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ được ít lâu tôi
lên Nữu Ước cùng với cha Jacques Houssa và vẫn trọ lại mấy hôm tại nhà dòng các
bà phước ở New Jersey. Những người quen ở Nữu Ước đến thăm và tiễn biệt tôi,
cha Houssa tiễn đưa tôi đến phi trường Nữu Ước và không quên căn dặn tôi tiếp tục
lo cho sinh viên du học. Bây giờ cha ở Mỹ đã lâu, quen biết nhiều, cho nên có
thể xin được nhiều học bổng cho sinh viên Việt Nam, hơn nữa dư luận Mỹ bắt đầu
thiện cảm đối với Việt Nam nhiều hơn trước.

Tôi đến Ba-Lê thì có Trần Hữu Phương ra đón. Câu nói đầu tiên
của ông Phương là một lời báo hung tin. Giọng Phương nghẹn ngào:

- Thưa cha, Cảnh mất rồi.

Tôi lặng người một lúc. Đặng Vũ Cảnh người Hà Nội, là một
thanh niên thông minh, ưu tú, đầy hứa hẹn mà tôi coi như một đứa em thân thiết.
Xác Cảnh đang quàng tại nhà thương. Tôi đến viếng xác ngay và đứng chủ tang,
làm lễ đưa xác cho Cảnh. Một số đông anh em Việt kiều, sinh viên tại Pháp bùi
ngùi đi đưa đám Cảnh.

Cái chết là một chuyện thường tình, ai cũng biết là không thể
tránh được, nhưng cái chết của một người trẻ tuổi đã có nỗi bi đát của nó. Cái
chết của một người Việt Nam trẻ tuổi ở nước ngoài lại càng bi đát hơn. Nhân đám
tang, một số Việt kiều và sinh viên đã gặp tôi và không quên hỏi sơ qua về kết
quả chuyến đi Mỹ của tôi.

Tôi tường thuật những hoạt động của các sinh viên ở Mỹ, chiều
hướng dư luận Mỹ, và kết luận rằng phải cố gắng thuyết phục cụ Diệm nên về chấp
chánh ngay trong lúc này.

Vài hôm sau, tôi đến gặp ông Diệm, lúc đó vẫn còn ở trong nhà
Tôn Thất Cẩn. Ông Diệm cho tôi biết ông đã xuống Cannes gặp Bảo Đại. Ông Diệm
có vẻ buồn, kể lại chuyến gặp gỡ Bảo Đại ở Cannes.

Bảo Đại ở biệt thự hè sang trọng, ngày thì trượt nước, đêm
thì vào sòng bạc, Nam Phương hoàng hậu không ở cùng với Bảo Đại mà chỉ có thứ
phi Mộng Điệp đi theo ông. Tôi có cảm tưởng rằng Nam Phương hoàng hậu là một
người đàn bà đức hạnh đã không tán thành cuộc sống của Bảo Đại.

Trong thời gian Bảo Đại về nước, Nam Phương hoàng hậu cũng đã
không theo về và đó là một điều đã gây nên nhiều dị nghị không có lợi gì cho Bảo
Đại. Lúc ở Đà Lạt Bảo Đại chỉ sống với Mộng Điệp một cách bán chính thức. Mộng
Điệp có một biệt thự riêng gần Lycée Yersin, tức là cuối thành phố Đà Lạt, còn
Bảo Đại thì vẫn ở đầu kia thành phố.

Lúc thì Bảo Đại đến Mộng Điệp, khi thì Mộng Điệp đến biệt điện
gặp Bảo Đại. Nhưng ở Cannes hai người sống hẳn với nhau trong biệt thự hè.

Ông Diệm mô tả con người Bảo Đại lúc này với một câu nói vắn
tắt: uể oải mệt mỏi. Tôi lại nhớ đến dáng điệu Bảo Đại lần gặp ở Đà Lạt và tôi
mường tượng như thấy Bảo Đại lúc tiếp ông Diệm cũng choài người ra trên ghế
bành, như người không xương sống.

Lắm lúc chỉ một lời nói, một cử chỉ vụng về mà mồi giao tình
giữa quân vương và thần tử có thể tan vỡ. Tôi nhớ những câu chuyện xưa, lúc một
ông vua tiếp một khanh sĩ, đang ăn nhổ cơm, đang rửa chân chải đầu thì quên xỏ
dép chải tóc, để ra tận cửa đón khanh sĩ.

Chắc chắn là Bảo Đại không bao giờ có được phong độ đãi hiền
tiếp sĩ như vậy, thành ra không lạ gì khi quanh Bảo Đại không có hiền thần lương
tướng.

Ông Diệm cho tôi biết rằng trong câu chuyện, Bảo Đại có đề cập
sơ sơ, một cách chiếu lệ về cái ý mời ông về chấp chánh. Bảo Đại không hề chính
thức mời cũng không tỏ ra vẻ gì tha thiết ân cần đối với việc ông Diệm về chấp
chánh.

Ông Diệm cho như thế là chưa được thuận tiện. Tôi hiểu ý ông
là Bảo Đại và người Pháp chưa đủ tin ông để giao cho ông nhiều quyền hành.
Quanh ông Diệm và quanh Cao ủy Pháp vẫn còn một số người Việt Nam mà ông Diệm
cho là không tốt, không hợp với ông vẫn được trọng dụng.

Lúc này hình như Bảo Đại đã nghĩ đến việc đem Bửu Lộc ra lập
chính phủ thay thế chính phủ Nguyễn Văn Tâm, một phần để làm hài lòng người
Pháp, một phần để thỏa mãn những đòi hỏi âm thầm của dân chúng Việt Nam. Người
Pháp tuy hài lòng về sự trung thành và ngoan ngoãn của cha con Nguyễn Văn Tâm
và thuộc hạ, nhưng vẫn muốn có một chính phủ có cái dáng nhân dân một chút. Những
ông công dân Tây, mang tên Tây chắc là không tạo được cái dáng nhân dân cho một
chính phủ. Bửu Lộc ít ra có thể làm hài lòng nhóm hoàng phái và một số trí thức.

Ông Diệm kết luận rằng ông không thể về chấp chánh được, vì
những điều kiện ông đưa ra bị Bảo Đại để ngoài tai. Thực tình thì Bảo Đại chẳng
đủ can đảm để từ chối bất cứ điều gì, nhưng ngược lại ông không đủ cứng rắn quyết
tâm để quyết liệt làm một cái gì. Những điều kiện của ông Diệm rất giản dị: được
toàn quyền điều hành chính phủ Việt Nam, đối phó trực tiếp với người Pháp dĩ
nhiên vẫn nhân danh Bảo Đại. Ý ông Diệm là muốn Bảo Đại đừng có trực tiếp hay
gián tiếp (qua Nguyễn Đệ) xen lấn gì vào nội bộ chính quyền Việt Nam.

Ông Diệm thấy cần phải cải tổ hoàn toàn bộ máy hành chánh và
quân đội, làm cho quyền hành Việt Nam mạnh thêm thoát dần khỏi sự lệ thuộc vào
quân đội và phủ cao ủy Pháp. Ông Diệm cũng mong Bảo Đại đặt một số điều kiện cứng
rắn dứt khoát với người Pháp trước khi ông về chấp chánh. Dĩ nhiên là Bảo Đại
không muốn mệt đến người, cho rằng những điều mà ông Diệm coi như cần thiết chẳng
quan trọng chi cả.

Ông Diệm đã từ chối. Ông đưa cho tôi một bức thư theo mật mã,
gởi ông Nhu.

Ông nói sơ lược cho tôi biết nội dung bức thư căn dặn ông Nhu
và ông Cẩn bên nước nhà hãy tiếp tục tăng cường các hoạt động chính trị, củng cố
tổ chức đảng, thu phục thêm đảng viên, lôi cuốn thêm nhân tài, chuẩn bị không
khí chính trị. Ông nói là tuy lúc này ông chưa thể về chấp chánh trong những điều
kiện chưa thuận tiện, nhưng nếu bên nước nhà có một phong trào nhân dân mạnh mẽ
đòi hỏi ông Diệm về chấp chánh, thì Bảo Đại và Pháp phải chấp nhận những điều
kiện của ông Diệm.

Nếu phong trào nhân dân sớm phát khởi cùng với tình hình quân
sự càng ngày bất lợi cho Pháp, thì chỉ trong vòng vài tháng nữa ông Diệm có thể
được long trọng về nước.

Ông cho biết trong lúc chờ đợi cơ hội thuận tiện, ông sẽ đi
tĩnh tâm ở một nhà dòng Benedictin bên Bỉ.

Tôi về Sài-Gòn bằng máy bay, đến gặp ông Nhu ngay, lúc này
đang ở Sài-Gòn và bắt đầu xuất bản một tờ tạp chí chính trị: tờ Xã hội. Ghé Sài-Gòn
vài hôm tôi ra Huế ngay. Trong câu chuyện với ông Nhu tôi cũng chỉ nói qua về
những nhận xét và cảm tưởng của tôi.

Ông Nhu giọng đầy tin tưởng cho tôi hay rằng càng ngày dân
chúng càng bất mãn với người Pháp, với Bảo Đại và thêm nhiều thiện cảm với ông
Diệm. Theo lời ông Nhu thì đa số những trí thức trẻ, có tinh thần yêu nước đều
hướng về ông Diệm. Tuy nhiên tại miền Nam, ngoài khu vực Vĩnh Long thì sự ủng hộ
của quần chúng chưa được mạnh lắm.

Ông Nhu không chính thức lập đảng vào lúc bấy giờ, nhưng bên
trong hình thức một đảng chính trị, với đầy đủ các chi bộ, phân bộ, lí thuyết.
Tài liệu học tập huấn luyện đã thành hình rõ rệt rồi.

Tôi về Huế, cũng đến thăm ông Cẩn. Ông Cẩn nôn nóng nghe tôi
kể những cuộc tiếp xúc giữa tôi và ông Diệm, than phiền vì ông Diệm quá dè dặt
không về nước lúc này.

Ông Cẩn đã quy tụ một số đông cán bộ, phần lớn là những người
hăng say, cuồng nhiệt, có thể nói là hơi quá khích. Ông Cẩn chịu ảnh hưởng tinh
thần của các thuộc hạ, muốn rằng ông Diệm về nước ngay lúc này rồi những điều
kiện chưa thuận tiện thì sẽ tạo lấy sau.

Tôi có phần đồng ý với ông Cẩn, vì tôi sợ rằng đến một lúc
nào đó tình hình chiến sự quá bất lợi cho Pháp, sẽ làm cho người Pháp nghĩ đến
việc thanh toán chiến tranh bằng mọi giá mà không nghĩ gì đến một giải pháp quốc
gia để đối đầu với Việt Minh.

Thời gian chưa chắc gì đã có lợi cho ông Diệm. Vả lại làm
chính trị mà cứ đòi cho được tất cả những điều kiện thuận lợi nhất được hội đủ
mới nhập cuộc, thì khó mà làm được vì chẳng mấy khi có những điều kiện lí tưởng
như thế.

***

Chương 33

33. Ông Diệm trở vế nước
lập chính phủ: 7/7/1954.

Tôi lại tiếp tục dạy học.

Cuối năm 1953, đầu 1954 tại miền Trung, Pháp tung ra cuộc
hành quân Atlante từ bốn mặt đánh vào chiến khu 5, tức vùng Nam Ngãi Bình Phú.
Tết năm đó một bộ lạc Batna trong vùng rừng núi Quảng Ngãi nổi loạn tàn sát một
đơn vị Việt Minh đang dưỡng quân. Xác chết lính Việt Minh theo dòng sông trôi
ra tận biển. Cuộc nổi loạn do gia đình họ Đinh khởi xướng và hình như được
phòng Nhì xúi giục, để tạo ra hỗn loạn bên trong.

Từ ngoài một cánh quân từ Nha Trang kéo ra, một cánh quân
khác từ Lào tràn xuống, còn phía biển và Đà Nẵng cũng có một cánh quân đánh thốc
lên. Quân Việt Minh trong trận này bị thiệt hại nhiều. Tướng Navarre coi chiến
thắng này tương tự chiến thắng vùng châu thổ sông Hồng của De Lattre năm 1950-1951.
Ông thêm tự tin và tung ra hành quân Castor, đổ quân nhảy dù và quân bộ xuống thung
lũng Điện Biên Phủ, ngày 20/11/1953, Điện Biên Phủ được tướng Navarre coi như một
tiền đồn chiến lược chận ngang đường tiếp tế và chuyển quân Việt Minh từ Lào về,
từ Trung Cộng xuống.

Điện Biên Phủ có hai mục đích chiến lược là chặn đường tiếp tế
và chuyển quân của Việt Minh đồng thời các đơn vị xung kích từ đó tỏa ra quanh
vùng rừng núi Việt Bắc, thọc vào lòng địch. Lịch sử đã cho biết những tính toán
của tướng Navarre đã sai lầm như thế nào tôi tưởng không cần nói nhiều làm gì.

Vào đầu năm 1954 lúc tình hình chiến sự biến chuyển mạnh và
thời gian đầu có vẻ thuận lợi cho Pháp thì về phía chính trị, Bửu Lộc được trao
nhiệm vụ thành lập một chính phủ liên hiệp chuyển tiếp nhưng tính cách liên hiệp
chỉ có danh vô thực.

Ông Bửu Lộc đem theo những bạn thân du học với ông ở Pháp
cũng là những người tôi có quen biết như Nguyễn Đắc Khê, Nguyễn Quốc Định. Tôi
không thấy có một nhân vật quốc gia tiếng tăm nào tham gia vào chính phủ Bửu Lộc.
Nguyễn Văn Tâm không còn làm Thủ tướng nữa, nhưng Nguyễn Văn Hinh vẫn nắm quân
đội và công an nghĩa là nắm hết thực quyền.

Tình hình biến chuyển nhanh chóng. Ngày 29/11/1953 tướng
Castries được chỉ định làm chỉ huy trưởng Điện Biên Phủ.

Ngày 14/12, cụ Hồ lên tiếng trên đài phát thanh bí mật của Việt
Minh đề nghị thương thuyết, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm bác bỏ. Ngày 3/2/1954,
cũng nhằm ngày Tết âm lịch trận đánh Điện Biên Phủ mở màn. Việt Minh bắn trên một
trăm đạn đại bác 75 li xuống Điện Biên Phủ trong vòng không đầy một giờ. Từ
ngày đó trận đánh càng ngày càng khốc liệt, càng thất thế đối với Pháp. Nhưng
trận đánh lớn chỉ thực sự bắt đầu từ ngày 11/3.

Lúc đầu Việt Minh chính thức đọc lời hiệu triệu của Hồ Chí
Minh và Võ Nguyên Giáp gửi chiến sĩ và nhân dân toàn quốc. Ngày 12/3, nửa đêm,
phi trường chính của Điện Biên Phủ bị quân Việt Minh đánh tràn vào, đặt mìn phá
phi đạo, để lại những truyền đơn cảnh cáo, Điện Biên Phủ sẽ là mồ chôn quân
Pháp và đế quốc Pháp. Đêm 13, đồn Beatrice thất thủ, Đại tá Gauchet, chỉ huy
trưởng pháo binh Pháp tại Điện Biên Phủ bị đạn pháo binh Việt Minh bắn bị
thương cụt cả hai tay, hai chân và chết ít phút sau đó. Đêm 15, đồn Gabriélle
Anne Marie thất thủ. Sáng 7/5 Điện Biên Phủ đầu hàng 10.000 quân Pháp bị bắt
làm tù binh.

Những chi tiết lịch sử này, tôi chỉ nhắc lại để làm hậu cảnh
cho câu chuyện nhỏ tôi đang kể mà thôi, 25 tháng tư, một ngày thứ hai, Hội nghị
Genève khai mạc trước đó, qua trung gian Nga nhiều cuộc thăm dò giữa Pháp và Việt
Minh đã được mở ra. Trong phiên họp sáng hôm sau ngày Điện Biên Phủ thất thủ, Ngoại
trưởng Pháp Georges Bidault đưa đề người ghị ngưng bắn có giám sát quốc tế.
Trong hành lang, vĩ tuyến 18, tức Đèo Ngang trong vùng Quảng Bình, hay sông
Gianh ranh chia phân Nam Bắc thời Trịnh Nguyễn được phe đồng minh nhắc đến,
phía cộng sản thì hình như chọn vĩ tuyến 16, ngang đèo Hải Vân. Việt Minh muốn
chiếm Huế, vì đối với dân Việt Nam, Huế vốn là kinh đô, có Huế tức là còn giữ
được kinh đô.

Trong tình trạng suy sụp của phe Pháp, Bảo Đại đã nằm lì ở
Cannes,và tên ông Diệm càng lúc càng được nhắc đến. Một đại diện của Bảo Đại đến
gặp ông Diệm ở Pháp và chính thức yêu cầu ông về lập nội các. Những cuộc tiếp
xúc và thăm dò kéo dài đến tháng 7 và ngày 7/7/1954, ông Diệm về nước làm Thủ
tướng.

Những chuyện này thuộc lịch sử, tôi không muốn nói đến nhiều.

Theo những nhận định của người am hiểu thời bấy giờ thì tình
hình đen tối đến cái độ không một phép lạ náo có thể cứu vãn được và ông Diệm về
nước khó mà thành công, trái lại rất dễ tiêu tan uy tín và sự nghiệp chính trị.
Có thể trong thâm ý của Bảo Đại và người Pháp việc đưa ông Diệm về là để đốt
cháy tương lai chính trị của ông mà thôi.

Ngày 26 tháng 4, nghĩa là mấy hôm sau khi Hội nghị Genève đã
chính thức khai mạc, Thứ trưởng Ngoại giao Pháp đặc trách vấn đề Đông Dương là
ông Marc Jacquet đến Cannes viếng thăm Bảo Đại và thông tri cho Bảo Đại rõ ý định
của các quốc gia đồng minh muốn chính phủ quốc gia Việt Nam cử một phái đoàn đại
diện tham dự Hội nghị Genève với tư cách quan sát viên. Vào ngày 30 Bảo Đại nhận
được một văn thư chính thức của các ngoại trưởng Pháp, Anh, Mỹ bày tỏ ý muốn
tham khảo về vấn đề Việt Nam với một đại diện của Bảo Đại. Báo Pháp tố cáo rằng
sở dĩ Việt Minh chần chừ trong việc thỏa thuận cho phép di tản thương binh khỏi
Điện Biên Phủ là vì sự do dự của Bảo Đại trong việc tham dự Hội nghị Genève,
làm cho phe Đồng minh gặp khó khăn, mất chính nghĩa.

Trước áp lực của Pháp, của dư luận Pháp và quốc tế, Bảo Đại
chấp nhận cử một phái đoàn quan sát do Nguyễn Quốc Định cầm đầu tham dự Hội nghị
Genève. Phái đoàn này không có tính cách độc lập, mà chỉ là một phái đoàn nằm trong
bộ phận thương thuyết của Pháp, nó cũng chẳng có quyền hành gì và chỉ là một
phái đoàn quan sát và cố vấn cạnh phái đoàn Pháp.

Lúc bấy giờ hình như Bảo Đại tin tưởng rằng nhờ áp lực của đồng
minh, nhất là của Mỹ, một giải pháp cho Việt Nam sẽ không hoàn toàn thất lợi
cho phe quốc gia.

Nguyễn Quốc Định trong thời gian làm trưởng phái đoàn Việt
Nam tỏ ra khôn khéo, cứng rắn đúng mức, không đến nỗi làm nhục quốc thể. Ông đồng
ý việc phái đoàn Việt Minh tham dự Hội nghị Genève cạnh một phái đoàn quốc gia,
nhưng trong các lời tuyên bố và diễn văn ông luôn nhấn mạnh rằng sự đồng ý này
không có nghĩa là thừa nhận chính phủ Việt Minh là chính phủ hợp pháp.

Sáng ngày 3/5, một văn thư mời chính thức được gởi đến Bảo Đại
và chính phủ Việt Nam. Ngày 9/5 phiên họp có thể coi là khoáng đại và chính thức
của Hội nghị Genève khai mạc. Như chúng ta biết, ngày 8/5 là ngày Điện Biên Phủ
thất thủ, 10.000 quân Pháp bị bắt làm tù binh. Báo chí, dư luận Pháp đòi hỏi
chính phủ phải làm mọi cách để thanh toán vấn đề Đông Dương. Phía Việt Minh, Phạm
Văn Đồng cầm đầu phái đoàn cộng sản. Mỹ không chính thức tham gia hội nghị mặc
dù Pháp khẩn khoản yêu cầu Mỹ nên cử một ngoại trưởng tham dự, để làm mạnh thế
phe đồng minh.

Lúc bấy giờ Ngoại trưởng Mỹ là ông Foster Dulles đã được Ngoại
trưởng Pháp là ông Bidault và Anh là Anthony Eden tiếp xúc nhiều lần, nhưng ông
Dulles từ chối. Cuối cùng Mỹ chỉ cử một Thứ trưởng Ngoại giao là ông Bedell
Smith cầm đầu phái đoàn Mỹ. Lúc bấy giờ Mỹ cũng đã đưa ra đề nghị chấm dứt các
cuộc đàm phán riêng và cạnh Hội nghị Genève, nhưng Anh và Pháp cho rằng nhờ các
cuộc đàm phán riêng và mật mà hội nghị mới có được những kết quả khả quan. Điểm
đáng lưu ý là trong các phiên họp khoáng đại phái đoàn Nga tỏ ra cứng rắn bao
nhiêu, thì trong các phiên họp riêng, họ lại tỏ ra mềm dẻo và nhượng bộ bấy
nhiêu.

Phái đoàn Việt Minh đòi hỏi cho hai phái đoàn Lào Cộng và
Miên Cộng tham dự hội nghị với tư cách đại diện thẩm quyền cho dân tộc Lào và
Cam-Bốt. Phe Đồng minh bác bỏ. Nga đưa giải pháp dung hòa là hai phái đoàn Lào
và Miên được tham dự với tư cách quan sát viên mà thôi. Cũng trong các phiên họp
kín này hai phe đã đồng ý về việc ấn định các thể thức ngưng bắn giữa Pháp và
Việt Minh bằng các phiên họp riêng của hai bộ phận quân sự Pháp và Việt Minh, cạnh
Hội nghị Genève.

Ngày 10/6 trong một phiên họp khác, Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Quốc
phòng Việt Minh đề nghị một giải pháp ngừng bắn và tập kết lấy vĩ tuyến 16 làm
ranh phân chia. Hội nghị Genève kéo dài không kết quả, chính phủ Pháp càng bị
dư luận dân chúng và quốc hội chỉ trích nặng nề. Ngày 13/6 quốc hội biểu quyết
bất tín nhiệm chính phủ Laniel và theo hiến pháp phe đối lập do Mendes France cầm
đầu được đề cử thành lập tân nội các. Ngày 17/6 nội các Mendes France được tấn
phong. Ông Mendes France hứa sẽ giải quyết vấn đề Đông Dương nội trong vòng một
tháng.

Chính lời hứa này của ông đã làm cho chính phủ ông phải thất
thế nhượng bộ nhiều, và khi đó nếu cộng sản không lo sợ Mỹ can thiệp trực tiếp
vào Việt Nam thì Việt Minh có thể được thỏa mãn trong yêu sách phân chia từ vĩ
tuyến 16. Vào cuối tháng 6, Thủ tướng Anh Winston Churchill và Ngoại trưởng
Anthony Eden đi Mỹ, với mục đích thuyết phục Mỹ về phe Anh-Pháp một cách rõ rệt
và công khai hơn. Lúc bấy giờ Ngoại trưởng Mỹ Foster Dulles trong chính quyền
Eisenhower có vẻ sẵn sàng chấp nhận giải pháp chia đôi Việt Nam thành hai vùng,
với điều kiện là vùng thuộc phe Đồng minh sẽ thực sự được độc lập và Pháp từ bỏ
những nỗ lực khống chế chính trị và kinh tế tại vùng quốc gia. Vấn đề còn lại
chỉ còn là chọn một ranh phân chia và lập những thủ tục rút quân.

Vào giai đoạn cuối của Hội nghị Genève, phái đoàn Mỹ không có
một nhân vật thượng hạng nào cầm đầu. Ngoại trưởng Dulles hay Thứ trưởng Smith
đều không tham dự, vì ý Mỹ muốn đứng ngoài, không trực tiếp chịu trách nhiệm
phê chuẩn hiệp ước.

Pháp muốn kéo Mỹ vào phe họ, nghĩ ra một cách là mời Ngoại
trưởng Mỹ Foster Dulles viếng thăm Ba-Lê ngày 12 tháng bảy và họp hội nghị tay
ba Pháp-Anh-Mỹ tại đây. Thủ tướng Mendes France cam kết rằng Pháp sẽ từ bỏ mọi
hành động khống chế và chi phối chính trị kinh tế tại vùng phía Nam ranh phân
chia và trao trả độc lập thực sự cho phần đất quốc gia này. Cái vẻ đoàn kết của
ba cường quốc đồng minh đã làm cho tư thế của Pháp khá hơn đôi chút tại Hội nghị
Genève. Phe cộng sản lo sợ rằng nếu họ gắng quá có thể đẩy phe đồng minh đến
cái thế phải can thiệp bằng quân sự trở lại ở Đông Dương dưới một danh nghĩa quốc
tế, như họ đã làm ở Cao Ly.

Lúc này ông Diệm đã bổ nhiệm Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ trong
chính phủ ông thay thế Nguyễn Quốc Định cầm đầu phái đoàn Việt Nam. Trần Văn Đỗ
từng quen biết với Phạm Văn Đồng, ngay sau lúc đến Genève tìm cách gặp riêng Đồng,
nhưng Đồng đã chấp nhận việc phân chia Việt Nam làm hai miền, không đề cập đến
một giải pháp nào khác và chỉ nói những câu chuyện đại cương trong cuộc gặp gỡ
riêng giữa hai người bạn cũ theo hai phe thù nghịch này.

Trần Văn Đỗ phản kháng chính phủ Pháp đã có những hành động
nguy hại cho sự tồn vong của Việt Nam mà không hề tham khảo với chính phủ Việt
Nam. Sự cứng rắn của ông Đỗ đã làm cho Pháp lúng túng, ông Đỗ cũng tố cáo rằng
Pháp đã chấp nhận vĩ tuyến 18 tức là đèo Ngang làm ranh phân chia. Pháp lại phải
nhờ Anh và Mỹ trấn an Việt Nam.

Ngày 18/7 trong một phiên họp khoáng đại, ông Đỗ theo lệnh
ông Diệm đọc diễn văn từ khước kí kết vào bất cứ thỏa ước ngưng bắn nào được kí
đến giữa Pháp và Việt Minh.

Chính phủ Mendes France đã đạt cái thời hạn hứa hẹn với quốc
hội là giải quyết vấn đề Đông Dương nội trong một tháng. Quốc hội Pháp rục rịch
biểu quyết bất tín nhiệm chính phủ Mendes France.

Quá nửa đêm ngày 20/7, vào những giờ đầu ngày 21/7 thỏa ước
ngưng bắn được kí kết giữa từng phe liên hệ, như thỏa ước ngừng bắn tại Việt
Nam được kí kết giữa tướng Pháp Délteil thay mặt tham mưu trưởng là tướng Ely
và Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Minh. Chiều ngày 21/7 một phiên họp
khoáng đại được triệu tập và các trưởng phái đoàn tham dự của chín quốc gia chấp
nhận bằng lời bản tuyên bố chung kết của Hội nghị Genève.

Trong lúc đó, tại Việt Nam, ông Diệm cố gắng cải tổ guồng máy
chính quyền, tập trung quyền hành vào tay ông nhưng gặp sự chống đối mạnh mẽ của
phe Nguyễn Văn Hinh và Bình Xuyên. Sau khi về nước được vài hôm, vào giữa tháng
bảy ông Diệm ra Huế. Lúc bấy giờ Phan Văn Giáo vẫn còn làm thủ hiến Trung Việt,
ý chừng muốn được ông Diệm thu dụng, đã tổ chức một cuộc đón tiếp linh đình từ
sân bay Phú Bài về đến Phú Vân Lâu. Tại đây dân chúng tụ tập hàng vạn người, đã
hân hoan chào mừng ông Diệm. Ông Diệm lên đọc diễn thuyết nói quyết tâm của ông
muốn giành lại độc lập thực sự và hoàn toàn cho Việt Nam, kêu gọi đoàn kết.

Tôi có ghé qua cuộc mít tinh tại Phú Vân Lâu và tôi nhận thấy
cảm tình của dân chúng miền Trung đối với ông Diệm thật là chân thành và nồng
nhiệt. Ngay sau đó ông Diệm về ở lại trong nhà ông Cẩn và tôi gặp ông ở đây.
Ông Diệm niềm nở chào tôi, lúc đó nét mặt ông có vẻ lo lắng, tư lự, nhưng cố gắng
tươi cười với tôi. Tôi chào mừng ông và trong câu chuyện riêng chỉ có ông Diệm,
ông Cẩn và tôi, tôi nói cảm nghĩ của tôi về việc ông về nước.

- Thưa cụ, tôi sợ rằng người Pháp và Bảo Đại đã không thành
thực khi mời cụ về chấp chánh lúc này. Tình thế khó khăn lắm ngoại trừ một phép
lạ khó có thể thành công được. Tôi lo rằng nếu thất bại cụ sẽ khó có cơ hội thứ
hai.

Ông Diệm gật gù:

- Cha nói đúng. Nhiều người bạn ở Pháp cũng nói như vậy. Tôi
cũng biết điều đó, nhưng tôi cho rằng lúc này không thể chờ đợi lâu hơn được nữa,
vì theo tôi đây là cơ hội cuối cùng, không còn cơ hội thứ hai nào khác nữa. Nếu
bây giờ tôi không về vì nghĩ khó khăn và thất bại thì không bao giờ về được nữa.
Thành công hay thất bại tôi cũng phải về. Tôi lo cho số phận giáo hội công giáo
và phe quốc gia Việt Nam nên tôi phải cố gắng cứu vãn những gì còn hi vọng cứu
vãn được. Tôi tin rằng chúng ta sẽ thành công.

Tôi đành đồng ý với ông Diệm về cái lí luận đường cùng này và
xoay qua câu chuyện khác:

- Thưa cụ, những anh em trí thức ở ngoại quốc có những ai về
hợp tác với cụ?

Mặt ông Diệm có vẻ tươi vui hơn đôi chút:

- Hầu hết người anh em trí thức mà cha đã biết đều về hợp tác
với tôi như các anh Nguyễn Văn Thoại, Trần Hữu Phương, Trương Công Cừu ở Pháp.
Những anh em ở Mỹ thì có các anh Đỗ Vạn Lý, Đỗ Trọng Chu, Bùi Kiến Thành…

Tôi nhớ đến Bửu Hội, một người trong Hoàng phái nhưng không hợp
tác với Bảo Đại:

- Cụ có mời Giáo sư Bửu Hội không?

Ông Diệm cau mày, ngập ngừng một lúc, rồi nói:

- Tôi chưa biết lập trường, thái độ của ông Bửu Hội như thế
nào nên chưa tiện mời, nhưng có lẽ sau này tôi sẽ cho người tiếp xúc và mời ông
về.

Ông Diệm ở Huế vài hôm rồi vào lại Sài-Gòn. Trước khi ông đi,
tôi có đến gặp ông thêm một lần tại nhà ông Cẩn. Câu chuyện trao đổi lần này
không có gì đặc biệt. Tôi đến gặp ông chỉ để bày tỏ thiện cảm của tôi đối với
ông và mong ông nỗ lực, chúc ông thành công.

Thời gian từ ngày về nước đến ngày kí kết Hiệp định Genève là
những ngày dài nhất, đau khổ nhất của ông Diệm. Ông theo dõi từng ngày các báo
cáo của Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ từ Genève gởi về. Ngày 20/7, hiệp định đình
chiến được kí kết và ngày 21 những bản phụ đính Hội nghị Genève được các phe
tham dự đồng ý chấp thuận bằng miệng.

Có lẽ lúc đó ông Diệm thấy nhẹ người hơn, vì dù sao Hiệp định
Genève cũng không hoàn toàn thất lợi cho phe quốc gia. Ranh phân chia được ấn định
là vĩ tuyến 17, dọc theo sông Bến Hải. Như vậy miền Nam còn giữ được Cao Nguyên
và đồng bằng Cửu Long. Huế tuy không quan trọng về phương diện kinh tế, chiến
lược, nhưng lại quan trọng về phương diện lịch sử và uy tín. Miền Nam giữ được
Huế thì cũng coi như giữ được kinh đô.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.