Bên giòng lịch sử - Chương 18 - 19
Chương 18
18. Nhìn cảnh trâu cày mắt rưng lệ.
Tháng tám 1947, nghĩa là vài tháng
sau khi yết kiến Đức Thánh Cha, tôi cùng mười lăm cha Việt Nam khác lên tàu
Felix Roussel về nước. Tàu lênh đênh hai mươi mốt ngày trên biển cả. Mỗi ngày
qua đi, tôi lại thấy lòng thương nhớ nước Việt Nam lớn thêm, những bồn chồn
mong đợi và lo sợ cũng tới theo. Những gì sẽ chờ đợi chúng tôi, chờ đợi nước Việt
Nam chúng tôi trong những ngày tới? Khi tàu ghé qua một vài bến ở Phi châu, tôi
và vài cha có lên thăm các thành phố xứ người cho khuây khỏa. Hình ảnh nước
Pháp hùng mạnh càng hiện rõ hơn, nhưng bóng dáng những nứt rạn, những lúng túng
của nước Pháp, của đế quốc Pháp cũng đã bắt đầu nổi lên tại các xứ thuộc địa
Pháp này rồi. Tôi tin tưởng gần như chắc chắn là nước Pháp sẽ phải thanh toán
các thuộc địa của họ. Điều đáng lo sợ là cái cách thanh toán đó, có bao nhiêu
dân tộc nhỏ bé bị nghiền nát, bị hi sinh?
Tàu đến Cap St Jacques dừng lại một
đêm ngoài cửa sông chờ người cầm lái. Sáng hôm sau, tàu ngược dòng sông lên Sài
Gòn.
Chúng tôi đứng trên boong tàu
nhìn vào hai bên bờ sông từ khi tàu vào sông cho đến lúc tàu cập bến, những đám
ruộng lúa bắt đầu hiện ra. Vài con trâu đủng đỉnh gặm cỏ trên bờ ruộng. Tự dưng
mắt tôi ươn ướt và tôi đã khóc thầm lặng không biết từ lúc nào. Nhìn sang các
cha bên cạnh, một vài người Việt Nam bên cạnh, cũng đang rưng rưng nước mắt.
Nhưng không phải là nước mắt đau thương mà là nước mắt sung sướng vinh dự được
trở về quê hương mình sau tám năm cách biệt. Mặc dầu báo chí đã cho tôi thấy những
cảnh chiến tranh tàn bạo nhưng lúc tàu ngược dòng tôi chỉ thấy cảnh thanh bình,
yên ổn hết sức. Những lũy tre, những rặng dừa, những thửa ruộng, những đàn trâu
bò, những đứa bé chăn trâu, vài đoàn người đi trên bờ ruộng. Tất cả đều có vẻ
thanh bình kì lạ.
Chúng tôi được một đại diện Đại
Chủng viện Sài Gòn ra Bến Nhà Rồng đón tiếp và chúng tôi về ngay Đại Chủng Viện
ở đường Cường Để bây giờ. Các cha khác, tùy gốc địa phận, chờ tàu trở lại địa
phận của họ. Riêng tôi thì chờ tàu ra Hải Phòng để tìm cách về địa phận Vinh.
Khoảng vài tuần sau, tôi mua được
vé tàu thủy ra Hải Phòng. Cảnh Vịnh Hạ Long hùng tráng, sừng sững nổi lên trên
mặt nước, với vài chiếc thuyền buồm, vài chiến hạm Pháp, tuy đồ sộ mà so với cảnh
thì thật là bé nhỏ vô nghĩa, càng làm tôi yêu mến đất nước mình hơn.
Lúc tàu cập bến Hải Phòng, cảnh
chiến tranh bắt đầu hiện ra trước mắt. Những dấu vết của vụ bắn phá Hài Phòng
cuối năm 1946 vẫn còn nguyên vẹn.
Dân Việt Nam ngoài bến tàu ra thì
rất thưa thớt. Chỉ có những khu phố của người Tàu và người Pháp là còn có vẻ
đông đúc, thịnh vượng. Vừa bước lên bến tàu tôi đã biết ngay thế nào là nỗi nhục
của một người dân nước nhỏ bị trị. Đáng buồn nhất, là chính một người Việt Nam
nhắc nhở cho tôi cái nhục này.
Tôi đến phòng nhà đoan để khai giấy
tờ. Trên phiếu khai bằng tiếng Pháp, nơi dòng ghi quốc tịch, tôi viết thật đậm
nét hai tiếng: Việt Nam.
Người thư kí nhà đoan gạch hai chữ
đỏ, nhìn tôi trâng tráo hỏi:
- Cha người Cochinchinois,
Annamites hay Tonkinois? Tôi trừng mắt nhìn người thư kí nhà đoan, gắt giọng:
- Tôi người Việt Nam.
Người thư kí nhà đoan cau mày, mấp
máy như sắp gắt gỏng với tôi, rồi chẳng hiểu sao lại mỉm cười, giải thích dài
dòng:
- Xin lỗi cha, lệnh quan trên bây
giờ bắt buộc mọi người lên bến phải khai rõ là người Cochinchinois, Annamite du
Centre, hay Tonkinois. Cha hiểu cho, đó chỉ là bệnh quan trên, chúng tôi có muốn
bắt ép ai làm gì đâu.
Tôi chán ngán đau đớn:
- Quê tôi ở Hà Tĩnh, thầy ghi sao
đó cũng được. Người thư kí nhà đoan viết nắn nót: Annamite du Centre. Tôi chua
xót vì hiểu ra âm mưu định gây chia rẽ Nam Bắc trở lại của người Pháp. Mình
không được quyền làm người Việt Nam nữa. Mình phải bị bắt buộc làm người Trung Kỳ,
Bắc Kỳ. Người Pháp muốn có ba nước Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ!
Tôi lên ngay Hà Nội.
Đường xe lửa đã được tái lập ngay
sau khi Pháp tái chiếm Hà Nội. Xe chạy thật chậm chạp, có lẽ chỉ khoảng năm chục
cây số một giờ hay kém hơn. Từ cửa sổ toa xe lửa nhìn ra ngoài, những làng mạc
hoang tàn, những khu nhà bị đốt cháy còn trơ nền, những nhà gạch đổ nát cho tôi
biết chiến tranh đã là một sự thật mà từ đây tôi phải làm quen, phải hòa mình
vào. Tôi đến ở tại nhà Chung Hà Hội, nơi tôi đã từng sống ít lâu trước khi đi
Pháp. Tôi bắt đầu làm quen lại với văn chương Việt Nam. Tôi đọc hầu hết những
sách của Tự lực Văn đoàn. Khi hay tin tôi về nước, một số người Việt ở Pháp và
những người biết tiếng tôi đôi chút lần lượt đến thăm, thỉnh thoảng mời tôi đến
nhà họ chơi.
Tôi nhớ hình như người đầu tiên
mà tôi gặp là Hoàng Bá Vinh còn được người công giáo trong địa phận Vinh gọi là
ông già Vinh. Tôi xin đóng một dấu ngoặc ở đây: ông già Vinh được gọi như thế
không phải vì ông nhiều tuổi, mà vì ông từng học ở Đại Chủng viện ra và gần thụ
phong linh mục, thì vì một lí do nào đó bỏ dở con đường tu hành.
Đối với những người đó, người
công giáo địa phận Vinh gọi là “ông già” để tỏ ý kính trọng một chút.
Hoàng Bá Vinh lúc bấy giờ cầm đầu
một nhóm thanh niên trẻ, hăng say lí tưởng, phần lớn người công giáo đầy lòng
yêu nước, tuy không theo Việt Minh, nhưng nhất quyết không hợp tác với Pháp,
đang hoạt động cho một giải pháp quốc gia thuần túy.
Lãnh tụ được tôn thờ nhất là ông
Ngô Đình Diệm. Trong này có anh Nguyễn Văn Châu, người Quảng Bình, về sau làm trung
tá giám đốc nha chiến tranh tâm lí, một thời được ông Diệm tin cậy. Ngoài ra, nếu
tôi nhớ không lầm thì có một anh chàng cao lớn, hơi gầy, đen, liều lĩnh, thật
thà, là anh Hoàng Bá Linh.
Không rõ lúc đó anh đã đi học trường
Hạ sĩ quan Pháp hay chưa, hình như là chưa thì phải.
Hoàng Bá Vinh gặp tôi rất thường
và những lúc đó tôi với anh ta bàn về tình hình đất nước, nói đến những niềm hi
vọng của mọi người Việt Nam, của những người công giáo yêu nước.
***
Chương 19
19. Gặp các cộng sự viên đầu tiên của Ngô Đình Diệm.
Những ngày chủ nhật, có lúc tôi
và mấy anh em đó ngồi lại nói chuyện rất lâu. Họ hỏi tôi về khuynh hướng, chủ
trương của nước Pháp đối với Việt Nam. Tôi cũng thành thật nói cho họ biết những
nhận xét của tôi: nước Pháp không thể dễ dàng trao trả độc lập cho Việt Nam, dù
với nhân vật chính trị nào.
Ít lâu sau, một số nhà trí thức bất
hợp tác với Pháp, vừa từ vùng Việt Minh trốn về đến gặp tôi như Hoàng Xuân Hãn,
Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Dương Đôn … Họ là những người không có một
lập trường hay một thái độ nào rõ rệt, dứt khoát.
Họ còn được gọi, đôi khi tự gọi
là những nhà trí thức hay chính trị trùm chăn. Họ không chịu hợp tác với Việt
Minh, có lẽ vì họ thuộc thành phần trí thức tiểu tư sản, không chấp nhận được
chủ nghĩa cộng sản và những thủ đoạn đàn áp tôn giáo, trí thức, địa chủ của Việt
Minh. Nhưng họ cũng không muốn hợp tác với Pháp. Nếu hỏi họ muốn làm gì, định
làm gì, thì họ không thể nào trả lời được, ngoài câu chờ xem.
Trong thời gian này tôi có gặp
Nguyễn Thế Truyền. Thật là một điều đáng buồn cho tôi và cho cụ. Trước đây tôi
từng nghe danh cụ Truyền, biết cụ viết bài tựa cho cuốn sách nhỏ của cụ Hồ: Le
Procès de la colonisation Francaise. Lúc ở Pháp tôi nghe tiếng cụ khá lớn, nghe
nhiều người ca tụng cụ. Tôi tưởng khi gặp cụ sẽ tìm được một cái gì mà tôi chờ
đợi không gặp. Tôi gặp, nói chuyện với cụ một cách hết sức kính cẩn. Nhưng câu
chuyện càng kéo dài, tôi không thấy được gì, ngoài một thời quá khứ đấu tranh của
cụ.
Sau vài câu hỏi tôi nêu lên không
được trả lời, tôi xoay qua một câu chuyện phiếm. Sau đó tôi không có ý mà cũng
không còn tìm cách gặp lại cụ, dù hai người vẫn ở Hà Nội.
Khoảng cuối năm 1947, hai tháng
sau khi tôi về Hà Nội thì nghe tin ông Trần Văn Lý ra Hà Nội. Bấy giờ ông Trần
Văn Lý ở trong hội đồng chấp chánh và quyền thủ hiến Trung phần. Ông Trần Văn
Lý đến gặp tôi mời tôi và cha Bồng cùng về Huế với ông. Tôi nhận lời. Ông Lý
trong câu chuyện có cho tôi thoáng thấy rằng sở dĩ ông ra làm việc với Pháp là
vì một cái thế bắt buộc.
Ông suy luận rằng không thể nào để
cho miền Trung hỗn loạn mãi được, hay hoàn toàn đặt dưới quyền cai trị hành
chánh trực tiếp của người Pháp. Người Pháp chẳng thành thực gì, nhưng chúng ta
yếu, chẳng có cách gì, theo Việt Minh thì không được, vậy thì phải tạm thời hợp
tác với người Pháp trước rồi từ từ sẽ tính. Ông Lý có nhắc đến tên Ngô Đình Diệm.
Hình như chủ ý của ông Lý, dù ông
không nói cho tôi hay là chuẩn bị thời cơ để đưa ông Ngô Đình Diệm giữ một chức
vụ lãnh đạo quan trọng nào đó, trong một thứ chính quyền mà người Pháp đang
tính lập ra.
Tôi có nói chuyện hứa về Huế với
các người quen như Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Mạnh Hà. Họ đều khuyên tôi chẳng nên
về Huế mà làm gì, mà cũng chẳng nên hợp tác với những người đang hợp tác với
Pháp như ông Lý.
Tôi nói mấy câu bênh vực sơ cho
ông Lý, đại ý là không nên kết án ai vội, phải chờ xem hành động rồi xét đoán
sau cũng không muộn. Tôi cho họ biết là tôi đã hứa về Huế, vậy thì dù sao tôi
cũng vào Huế rồi liệu sau. Tôi muốn vào Huế chẳng phải muốn làm việc gì với ông
Lý mà chỉ muốn tìm cách trở về địa phận Vinh qua ngã Quảng Trị, Quảng Bình, vì
lúc bấy giờ tôi nghe quân Pháp đã đổ bộ lên cửa sông Gianh, đã tiến ra sát đèo
Ngang và đang dự định vượt đèo Ngang tiến ra Hà Tĩnh, Nghệ An.
Có người trong bọn Hoàng Xuân Hãn,
Nguyễn Mạnh Hà bày cho tôi cái kế là cứ giữ chỗ máy bay (lúc đó Pháp mới mở một
đường bay đặc biệt dành cho quan khách, nhân vật quan trọng, dùng loại máy bay một
và hai động cơ), lên xe, rồi giả vờ cho xảy ra một tai nạn xe hơi và tôi vào nằm
nhà thương, thế là lỡ luôn chuyện về Huế với ông Lý. Tôi thấy chẳng cần phải
bày trò này làm chi. Về Huế thì đã sao?
Vả lại thâm tâm tôi cũng muốn được
đi nhiều nơi, nhìn thấy nhiều điều, gặp gỡ nhiều người. Những nhà trí thức và
chính trị trùm chăn làm cho tôi thất vọng khá nhiều. Họ chẳng đưa ra một giải
pháp hay một kế hoạch nào rõ rệt. Họ chỉ ngồi chờ, gọi là trùm chăn mà chờ. Chờ
ai chờ cái gì chính họ cũng chẳng biết. Khi thì họ chờ ông Ngô Đình Diệm, khi
thì họ chờ ông Bảo Đại, khi thì họ mơ Cường Để trở về.
Tôi có gặp một người tên là Nguyễn
Khuê. Đúng hơn Khuê nhờ Hoàng Bá Vinh dẫn đến gặp tôi. Vinh cho tôi biết Khuê
làm thư kí riêng cho ông Ngô Đình Diệm. Lần đầu vào gặp tôi, Khuê có vẻ lúng
túng, khép nép. Tôi hỏi thăm mấy câu anh ta trả lời ấp úng. Lúc Khuê về, Hoàng
Bá Vinh nói chuyện với tôi là Khuê thấy tôi nghiêm nghị, chẳng dám thưa chuyện
gì. Tôi ngạc nhiên, đâu có biết mình nghiêm nghị làm cho kẻ khác phải sợ.
Hôm sau, Vinh lại đưa Khuê đến và
lần này thì anh ta dạn dĩ hơn. Dĩ nhiên là Khuê ca tụng ông Diệm, khoe rằng lực
lượng của ông Diệm khá lắm và ông Diệm thì có sẵn một giải pháp cho Việt Nam, một
chủ nghĩa đương đầu được với chủ nghĩa cộng sản. Khuê trao cho tôi một tập giấy
viết tay, chữ của ông Diệm, đoạn thì viết bằng tiếng Pháp, đoạn thì bằng tiếng
Việt trong đó ông Diệm trình bày cái giải pháp và cái chủ nghĩa của ông.
Trên phương diện một người khảo
sát văn chương hay triết lí thì tôi không thể nào phục cái gọi là chủ nghĩa xã
hội quốc gia gì đó của ông Diệm được. Lập luận đôi khi lúng túng vấp váp chẳng
có gì khúc chiết vững chắc. Đại để thì tôi hiểu là ông Diệm chủ trương xây dựng
một lực lượng quốc gia thuần túy, không phải cộng sản, mà cũng không theo Pháp,
nhưng cũng lại không chủ trương đánh Pháp, mà hình như là chủ trương một sự
thương thuyết nào đó với Pháp, trên căn bản Pháp phải công nhận đương nhiên và
trước hết nền độc lập, thống nhất, chủ quyền của Việt Nam từ Cà Mau đến Nam
Quan.
Lí thuyết thì không làm cho tôi
phục được, nhưng cái tâm huyết của một người muốn tìm một đường đi cho quốc gia
Việt Nam trong hoàn cảnh đặc biệt này thì làm cho tôi thấy thương mến, kính trọng
ông.
Cái lực lượng của ông Diệm mà
Khuê đem ra khoe với tôi là khá mạnh, thì tôi có nghe nói đến.
Nó vốn là nhóm thanh niên Nghệ-Tĩnh-Bình
do cha Huê thành lập từ năm 1941, với chủ trương ôn hòa, không đổ máu để dành lại
độc lập từ tay người Pháp. Phong trào này định chọn Cường Để làm minh chủ và
lúc thế lực Nhật mạnh thì muốn mượn thế Nhật diệt Pháp. Về sau thời cuộc biến
chuyển, giải pháp Cường Để xem ra không thích hợp, nhóm cha Huê chọn ông Diệm,
quyên tiền giúp ông Diệm mở rộng tổ chức, mở những khóa huấn luyện bí mật cho một
số cán bộ phần lớn người công giáo trong vùng Nghệ-Tĩnh-Bình. Năm 1945, cha Huê
trốn vùng Việt Minh vào Nam để liên lạc với ông Diệm. Rồi vào đầu năm 1945, lúc
trên đường từ Sài Gòn đi miền Tây, không hiểu do một sứ mạng nào đó, xe cha Huê
bị phục kích và cha Huê tử nạn. Trong nhóm này có anh Hồ Hán Sơn, người Hà
Tĩnh, nhỏ bé, nhưng hoạt động, có tài thu hút người đối thoại rất mau.
Sơn còn có biệt tài vận động và
xách động quần chúng, nhất là thanh niên. Những hoạt động của Sơn có lúc bị mật
thám Pháp chú ý nên Sơn đổi tên, lánh mặt, tạm thời dạy học ở một trường nhà xứ
ở Quảng Bình. Lúc này Sơn cũng ra Hà Nội, có đến gặp tôi vài lần. Sơn và Vinh
là hai người mà tôi mến có thể nói là yêu quý và tin tưởng khá nhiều. Họ đều có
nhiệt tình, hăng say và trung thành.

