Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên (Tập 10) - Chương 2 phần 3

Đường phố đều trải
nhựa nên lái xe thật kì thú, êm và nhẹ giống như không phải thực. Mặt đường tựa
hồ biến chân ngựa thành cao su. Những vết thương trên mông chúng lõm xuống rồi
từ từ đầy lên cho tới khi phẳng phiu trở lại.

Chúng tôi lái xe
vòng quanh một khu nhà để nhìn thấy Viện Dân biểu, nơi làm việc của cơ quan lập
pháp. Tòa nhà thật đẹp nhưng đất đai xung quanh còn hết sức lôi thôi chưa có
gì được làm xong.

Chúng tôi qua
sôngKansastrên một cây cầu sắt có thể dài tới bốn trăm hoặc năm
trăm bộ. Con sông giống như sôngPlatte, không phải về bề rộng mà do cũng
có đầy những gióng cản cát.

Tại
namTopeka, một người đàn ông đưa cho chúng tôi mấy tờ báo mới nhất. Ông
ta có hai trăm bốn mươi mẫu đất ở đây nhưng nhà của ông ta ở Colorado. Tại đó
ông ta còn có lợi tức về khai thác mỏ. Ông ta nói với Manly rằng cơn nhốn nháo
về tiền bạc tạiWashingtonkhiến ông ta thiệt mất một triệu đô la.

Chúng tôi hạ trại gần
một nhà thờ, giữa bụi bậm.

15 tháng tám.

Khởi hành lúc 7
giờ 20. Bắt gặp một con chó nhỏ vá vàng đen đi lạc trên đường. Nó chỉ còn da bọc
xương do phải nhịn đói và rất sợ chúng tôi. Chúng tôi dừng lại nhiều nhà để hỏi
nhưng không ai biết con cho là của người nào nên chúng tôi mang nó theo. Lũ trẻ
rất thích cho nó ăn. Chúng tôi đặt tên cho nó là Fido.

Hôm nay tôi cứu một
cây dẻ ngựa và lần đầu tới với những quả phỉ.

Buổi trưa
quaRichland. Chúng tôi lái xe ngang nhà thờ. Trên sân nhà thờ có một buổi
cắm trại của lớp họcchủnhật.

Chúng tôi hạ trại gần
một trường học ở khu tây nam hạtDouglas. Có nhiều cỏ tươi cho ngựa và có
một vòi bơm tràn trề nước sạch, mát. Đây là một vùng trồng trọt tốt nhất mà
chúng tôi chưa từng thấy với đồng cỏ có những khu rừng tự nhiên rải rác và những
rừng cây dọc theo các dòng suối.

Lúc chúng tôi đi đường,
Manly đã bán và trao đổi mồi lửa và một chủ trại muốn cho mướn một nông trại với
điều kiện lấy một phần ba lợi tức mùa vụ. Một người khác kiếm tới chỗ chúng tôi
hạ trại bên trường học, đề nghị chúng tôi ở lại và thuê trại của ông ta. Chúng
tôi cứ tớiMissourinhưng chúng tôi có thể quay lại đây nếu không thích ở
đó. Đất ở đây giá từ hai mươi tới bốn mươi đô la một mẫu.

16 tháng tám.

Lên đường lúc 7
giờ 25. Sáng nay, Fido hoàn toàn thân mật vào sáng nay. Nó vẫn có vẻ rầu rĩ,
nhưng không còn run rẩy và hình như dễ chịu khi ngồi im trong lòng tôi nhìn
quang cảnh đồng quê mà chúng tôi đang đi qua. Mùa lúa ở đây xum xuê và mùa bắp
cũng khá tốt. Có một kho lưu trữ than ở nơi những người đào than và than được
bán với giá một đô la hai mươi lăm một tấn.

Lúc 5 giờ chiều,
chúng tôi quaOttawa. Sông Maradegene chia
thànhOttawaNamvà OttawaBắc, nhưng hạt trung tâm là hạt Franklin.
Người Ottawa giành hạt trung tâm này của một thị trấn khác vào ban đêm, dùng
quân sự giữ một thời gian rồi chiếm luôn. Tòa hành chính là một tòa nhà có vẻ
ngoài rất đường bệ.

Bệnh viện Hỏa Xa
Santa Fe nằm ở phía bắc củaOttawaBắc là một tòa nhà lớn xây bằng gạch.
Tại OttawaNamcó một trường học rất đẹp dựng bằng đá. Lúc này có rất
nhiều người da màu ở các thị trấn.

Chúng tôi hạ trại
bên bờ Suối Rock thuộc vùng ngoại ôOttawanam. Hai người đàn ông di
tới, dừng lại ngắm Prince một hồi và khi họ bước đi, người lớn tuổi hơn nói với
người kia:

- Đó là một con ngựa
tốt nhất mà tôi được nhìn thấy từ nhiều năm nay.

Lũ gà mái vẫn đang
đẻ trứng.

17 tháng tám.

Fido là một con chó
canh chừng thật tốt. Nó sủa mọi người lạ đến gần cỗ xe và về đêm sủa mọi người
lảng vảng qua lại.

Chúng tôi khởi hành
lúc 7 giờ 30. Ánh sáng hoang dại của buổi sớm rọi hỗn độn khắp nơi với những
màu sắc tẻ nhạt. Chúng tôi băng ngang một cánh đồng lớn trồng tiêu. Tiêu được
trồng như mùa vụ ở đây với mức thu hoạch mười tới mười lăm giạ mỗi mẫu, giá
bán từ một đô la hai mươi lăm tới một đô la năm mươi một giạ. Tiêu được hái
hai tuần một lần, chất đống dưới nắng cho tới khi nổ tách ra thì đưa vào quạt
và đóng bao.

Chúng tôi tới Lane
lúc 4 giờ và Pet được đóng móng. Người đóng móng ngựa từ Kentuckyđến đây
vào hai năm trước và trông giống hệt những hình ảnh chụp người đàn ông Kentucky.
Ông ta có một trăm ba mươi mẫu đất trũng chạy dài tới sôngPottawatomie
và có một ngôi nhà bằng đá lớn như mọi ngôi nhà lớn ở De Smet. Ngôi nhà rất đẹp
và đã làm xong hoàn hảo. Nhà dựng trong phốMaintại Lane và đất nằm
về phía tây bắc ngôi nhà. Ông ta sắp quay về Kentuckyvà muốn bán tất cả.
Ông ta đòi bốn nghìn ba trăm đô la.

Cho cả cửa hàng,
nhà và đất.

Chúng tôi dừng lại
tại một nông trại phía nam Lane để xin nước và người phụ nữ nói không đủ nước để
chia cho chúng tôi nhưng chúng tôi có thể có “vô khối trên đường đi.”

Lại hạ trại bên một
trường học và vòi bơm nước. Giặt một ít đồ sau bữa ăn tối. Chúng sẽ khô trong
đêm.

18 tháng tám.

Sáng nay khởi hành
lúc 7 giờ, đi ngang qua Goodrich vàtớiParkvào buổi trưa. Cả
hai nơi này đều là những thị trấn nhỏ và vùng quê bao quanh không tốt như những
nơi chúng tôi từng thấy. Mọi người nói ở đây gần như không có mưa nên nhiều người
đã đi xa hơn về hướng bắc.

Hạ trại gần Suối
Big Sugar, trên một bờ dốc cao bên cạnh đường đi trong rừng.

Chủ nhật 19 tháng
tám.

Mảnh ván chặn của
ông Cooley bị long ra. Ông ta và Manly gắn chặt lại để có thể di chuyển bình
thường. Bà Cooley cùng tôi và lũ trẻ đi xuống suối kiếm một ít trai sò. Một phụ
nữ và hai đứa trẻ tới ngó chúng tôi. Họ từMissouritới và đang hạ trại bên
con đường đưa họ đi về hướngNebraska.

20 tháng tám.

Mở đầu khởi hành thật
tốt vào lúc 7 giờ 30 nhưng đường đi lởm chởm đá dễ sợ. Mùa màng xơ xác. Mọi
người đều nói với chúng tôi rằng họ không bao giờ thấy mưa đúng khi họ cần ở
đây. Chúng tôi quaWall Street chỉ có vỏn vẹn một kho hàng nhỏ và không
còn gì khác. Buổi trưa chúng tôi tới thành phố Mound có vẻ là một thành phố
tương đối. Chúng tôi mua bánh mì, một chiếc bánh nhồi tám xu và hai xu cà
chua. Cà chua ở đây có giá ba mươi xu một giạ.

Chúng tôi dừng dưới
bóng cây bên đường để ăn bữa trưa. Ba cỗ xe chở di dân vượt qua trong lúc chúng
tôi ăn. Hai đi về hướngMissourivà một đi ngược lại. Manly không hỏi han
những người đó.

Suốt ngày không kiếm
ra nước và nếu kiếm ra một chút thì lại là thứ nước tệ đến mức không uống nổi.
Nước trong nhưng có mùi dầu và đắng nên làm hư hết vị trà. Lũ ngựa quá khát.

Hạ trại bên con đường
trên đồng cỏ. Mua một ít cỏ khô và chỉ kiếm được một chút nước. Trời có vẻ muốn
mưa.

21 tháng tám.

Mưa nặng hạt gần hết
đêm và vẫn còn tiếp tục vào lúc thức dậy. Manly choàng chiếc áo cao su đi nhóm
lửa và đặt nước lên lò rồi cho ngựa ăn. Khi mưa ngớt, tôi bước ra lo bữa ăn
sáng. Chúng tôi ngồi ăn ở trên xe để tránh bị ướt.

Đường đi lầy lội
nhưng trời đã quang đãng. Chúng tôi đi ngangPrescott, thực sự chỉ là một
trạm nhỏ. Gặp một gia đình di dân đã qua hai tháng vừa rồi di chuyển trong miền
tây nam Missouri. Họ không thích miền đó một chút nào. Người đàn ông nói:

- Đúng là một nơi để
mà đi nếu muốn trốn khỏi thế giới và sống với bánh bột bắp.

Người vợ cũng tán đồng
lời nói đó.

Chúng tôi vượt qua
một cỗ xe khác dừng ở bên đường và những người này đang hướng về Missouri. Khắp
xứ đầy những di dân, đi và đến. Nhiều người có vẻ dồn tụ lại tạiFortScott.
Chúng tôi tớiFortScottlúc 6 giờ và một người đàn ông ở đó nói
hôm qua có mười lăm xe di dân chạy trên đường.

FortScottrợp bóng cây. Nhà cửa sạch sẽ
và dễ chịu, các khu nhà buôn bán khá đẹp. Thôn quê bao
quanhFortScottcó vẻ là một vùng quê trù phú. Mùa vụ tốt ở những
chỗ có gieo trồng nhưng có khá nhiều đất bỏ trống và nhiều khu đã hoang hóa trở
lại. Hình như có nhiều người không chịu xoay xở và không thể nào hiểu rõ lí
do. Một người đàn ông bảo vùng quê này vô giá trị và khi Manly nói theo ý anh đất
ở đây có vẻ tốt thì ông ta nói “Ôi dào, đất có thể trồng được mọi thứ cây do
mình gieo nhưng nếu anh không bán nổi sản phẩm gieo trồng ngang với phí tổn do
anh bỏ ra thì có thể coi là đất có giá trị không?”

Than vương vãi đầy trên mặt đất và gom được ở mọi
nơi. Tại các mỏ than hoặc các vựa than như người ta gọi, than bán với giá năm
đô la một giạ.

Chúng tôi nhận được ba lá thư tạiFortScott,
hai lá được gửi từ nhà. Đi thêm một đoạn ngắn khỏi phía nam thành phố, chúng
tôi hạ trại bên cạnh đường.

22 tháng tám.

Khởi hành lúc 7 giờ 15 và sáng nay chúng tôi chạy
qua một vùng quê khá đẹp. Mùa vụ có vẻ tươi tốt. Lúa mạch được ước thu từ ba
mươi đến sáu mươi giạ một mẫu và lúa mì khoảng từ mười tới ba mươi giạ. Tất cả
củi muốn có có thể thuê kéo tới và giá than cung cấp tại nhà là một đô la hai
mươi lăm một tấn. Giá đất là mười đô la một mẫu nếu chưa khai khẩn và từ mười
lăm tới hai mươi lăm đô la đất đã được chuẩn bị sẵn và ở cách Fort Scott chừng mười
hai dặm.

Đúng 2 giờ 24 phút 45 giây, chúng tôi vào địa giới
Missouri. Và ngay những cánh đồng bắp đầu tiên chúng tôi nhìn thấy đã vượt xa
những cánh đồng bắp ởKansas.

Chúng tôi gặp bảy cỗ xe di dân đang rời khỏiMissouri.
Một gia đình có một con chim màu đỏ, một con két bách thanh và rất nhiều hoàng
yến nuôi trong lồng treo dưới mui xe. Chúng tôi nói chuyện gẫu một hồi và nghe
con két bách thanh hót. Hạ trại bên một ngôi nhà trong rừng.

23 tháng tám.

Khởi hành lúc 7 giờ 30. Vùng quê sáng này có vẻ khá
đẹp. 9 giờ 35, chúng tôi tới Pedro, một thị trấn nhỏ nằm bên đường sắt và ngay
chỗ đường sắt cắt chéo nhau về phía bên kia là thị trấn Liberal. Một người ở
Pedro nói với chúng tôi rằng một trong những vùng nông thôn tốt nhất trên thế
giới là khu bao quanhMansfield.

Gần lúc chiều tàn, chúng tôi đi ngang Lamar, thành
phố nhỏ xinh đẹp nhất mà chúng tôi thấy với hai nghìn tám trăm sáu mươi cư
dân. Tất cả đều sạch sẽ, tươi mát, hết thảy đường phố đều rợp bóng cây.

Chúng tôi hạ trại giữa những cây sồi không xa chỗ hạ
trại của những người đến từ Kentucky.

Dọc hai bên đường, những cây sồi thật đẹp đứng sừng
sững.

24 tháng tám.

7 giờ 20 đã có mặt sớm trên đường. Thời tiết lạnh
và nhiều mây, giống như sắp mưa. Qua Carvona trong buổi sáng. Đây là một vùng
nhỏ. Buổi trưa chúng tôi đi ngang thành phố Golden, cũng là một vùng nhỏ nhưng
đẹp hơn. Nông thôn có vẻ tốt nhưng xét qua những thứ cây trồng trong vườn và
ngoài đồng thì người ở đây cũng không năng nổ lắm. Vùng đất này có rất nhiều suối,
lạch. Màu đất chỗ thì vàng, chỗ thì đỏ. Đường đi thường có đá lổn nhổn.

Qua một thị trấn nhỏ khác, Lockwood vào lúc 4 giờ
chiều và hạ trại bên một dòng suối nhỏ nước trong veo chảy xiết. Đây là thứ nước
uống ngon nhất, mát rượi rất thích hợp.

Ngoại trừ trong các thị trấn, chúng tôi chỉ thấy một
ngôi trường ở rất xa trong vùng Missouri.

Chiều nay chúng tôi lái xe đi dưới mưa lần đầu tiên
từ khi rời Dakota. Mưa như trút nước nhưng chúng tôi hoàn toàn khô ráo trong xe
và trước giờ hạ trại, mưa dứt.

25 tháng tám.

Nhổ trại lúc 7 giờ 35. Trời lại mưa trong đêm và đường
đi lầy lội nhưng chỉ qua vài dặm đường lại khô ráo vì ở vùng này không có mưa.
Các gò đất cao lởm chởm đá nhưng đất dưới các trũng thấp đều là đất trồng trọt
tốt. Chúng tôi nhìn thấy nhiều loại cây như sồi, hồ đào, óc chó và đủ thứ táo
gai, táo dại và mận hoang.

Tại miềnNamGreenfield, hai nhân viên điền
địa xuất hiện và muốn chúng tôi dừng tại đó.

Một người là C.C Akin đã gặp ông Sherwin. Ông ta nói
ông Sherwin mới ở đó và vừa đi khỏi. Ông Sherwin đã đi khắp hạt Weight và trở về
hạt Cedar rồi cư trú ở đây. Nhưng sau hết ông Akin nói ông Sherwin chỉ mua những
vùng đất tốt ở trong hạt Wright.

Thế là cuối cùng chúng tôi đã tới ngay phần mở đầu của
vùng Ozakas và đất đai khá đẹp.

Chúng tôi đi dọc dưới chân nhiều ngọn đồi và nhìn
lên các sườn đồi. Cây và đá rất dễ thương. Manly nói chúng tôi gần như có thể sống
với việc ngắm nhìn chúng.

Chúng tôi ngưng lại ăn bữa trưa ngay trước khi tới
nơi đẹp nhất bên một dòng nước chảy xiết, sông Turnback. Chúng tôi băng qua
khúc sông cạn với mặt nước gợn sóng lấp lánh.

Chúng tôi còn băng ngang thêm một dòng nước trong nữa
trước khi tới Everton vào lúc 5 giờ.

Tại đây chúng tôi dừng lại để đóng móng ngựa nhưng
không có thời gian đóng móng cho chúng suốt ngày hôm nay nên chúng tôi hạ trại
bên ngoài thị trấn chờ qua ngày chủ nhật.

Chủ nhật 26 tháng tám.

Một ngày để viết, đọc và ngủ. Chúng tôi cho lũ trẻ lội
nước ở khúc suối cạn trong tầm nhìn của chúng tôi. Tôi dành gần trọn thời gian
viết cho gia đình về vùng quê từFortScotttới những ngọn đồi
và những khu rừng ở đây.

27 tháng tám.

Nhổ trại lúc 7 giờ 10. Chúng tôi rất thích vùng
này. Một người đàn ông cố nói chúng tôi định cư ngay phía bên kia đường từ chỗ
của ông ta và bảo chúng tôi có thể mua bốn mươi mẫu đất với giá bảy trăm đô
la.

Đất khá tốt.

Chúng tôi băng ngang sông Litte Rock và tới Ash
Grove, một thị trấn nhỏ sống động được lưu ý với nghề nung gạch. Hai khu nhà gạch
mới đang được dựng trên phốMain.

Hạ trại cáchSpringfieldmười hai dặm.
Manly đang tháo ngựa thì một người đàn ông cùng vợ và một đứa con gái lái một cỗ
xe tới hỏi thăm chỗ nào có thể lấy nước cho ngựa. Họ sống
cáchSpringfieldmười bốn dặm về phía đông trong hạt Hendersonvà
đang đi thăm anh của bà vợ tại Ash Grove.

Sau khi trò chuyện một hồi, họ bảo họ thích hạ trại
gần chỗ chúng tôi nếu chúng tôi có thể bán lại cho họ một ít thịt để nấu nướng.
Họ không có ý định hạ trại nên không mang theo thức ăn. Chúng tôi nhường cho họ
một ít thịt, cho họ mượn lò bếp thế là mau chóng trở thành quen nhau. Họ là những
người tốt, dễ thân. Tên họ làDavis. Sau khi làm xong các việc lặt vặt, họ
mang ra một trái dưa hấu lớn.

Chúng tôi gọi gia đình Cooley tới và tất cả chúng
tôi cùng ăn hết trái dưa. Ở đây có thể mua một trái dưa hấu lớn gần mười kí chỉ
với giá năm xu.

28 tháng tám.

Rời trại lúc 6 giờ 28. Đường tốt từ Ash Grove cho tớiSpringfield,
không có đồi dốc và đá. Đây là cao nguyên Ozarks và vùng quê rất giống vùng đồng
cỏ dù có nhiều rừng nhỏ hoặc rừng cây và luôn có những lạch suối.

9 giờ 25 tớiSpringfield. Đây là một thành phố
phát đạt với những ngôi nhà hoàn hảo và bốn khu buôn bán đứng quây quanh một quảng
trường. Các cửa hàng đều dự trữ tốt và bận rộn. Manly đóng ngựa và chúng tôi
mang giầy cho Rose. Tôi cũng mang giầy, mặc áo đầm còn Manly đội chiếc mũ mới.
Không mất nhiều thời gian và chúng tôi cho xe chạy dọc thành phố. Chúng tôi rời
thành phố trước buổi trưa. Thành phố có 21.850 cư dân và là một thành phố đẹp
nhất mà chúng tôi được thấy. Đơn giản là nó rất lớn.

Chúng tôi có thể nhìn thẳng suốt hai dặm theo phố
Walnut, một thành phố tương đối ít nhộn nhịp với những bóng cây ở hai bên đường,
những ngôi nhà đẹp và mặt đường phẳng lì sạch bóng.

Cách Springfield năm dặm về phía đông là suối Jones.
Nước ở đây trong như thủy tinh, chảy ra từ một mạch ngầm trong một hầm đá. Hầm
đá rộng khoảng mười bộ, ở độ cao bốn bộ và không ai biết nó ăn sâu vào phía
sau bao nhiêu. Manly và ông Cooley đi sâu vào phía trong một khoảng và vận hết
sức liệng đá đi thật xa vào phía trong để thăm dò nhưng những viên đá vẫn rơi
xuống nước trong bóng tối.

Những vòi nước tuôn ra từ hầm đá sâu 14 inch chảy
tràn qua những khối đá giữa các cây lớn làm thành một lạch suối chảy không ngừng.

Chúng tôi nghe nói cách Suối Spring bảy dặm về phía
đông bắc là một dòng suối chảy ra từ một hầm đá lớn đến mức có thể bơi thuyền
sâu vào trong đó suốt nửa ngày.

Sau khi vượt qua Pierson’s Creek, chúng tôi gặp liên
tục nhiều ngày mười cỗ xe di dân đang rời khỏiMissouri. Chúng tôi hạ trại
phía ngoàiHenderson, một thị trấn nhỏ nằm bên bờ của một con suối.

29 tháng tám.

Rời trại lúc 7 giờ 10. Chúng tôi đi dọc con đường
chạy xuyên qua rừng và được che mát bởi những cây sồi. Càng đi xa hơn, chúng
tôi càng thấy thích vùng này. Một số vùng ởNebraskavàKansascũng
khá tốt, nhưngMissourirõ ràng rực rỡ. Manly đã cắt lời tôi để nói:

- Đây là một vùng quê tuyệt đẹp.

Đường đi lên rồi xuống đồi và là một đường mòn bụi bặm,
lởm chởm đá, nhưng mỗi khúc quanh của bánh xe đều thay đổi cái nhìn của chúng
tôi về cảnh rừng và đồi cây. Ở đây bầu trời như thấp hơn và có màu xanh sáng
hơn. Những khoảng xa và các thung lũng cũng xanh màu trời ngay khi nhìn thấy.
Đây là một vùng dễ ru ngủ khiến người ta cảm thấy cần tỉnh táo nhưng rất dễ chịu
theo một cách nào đó.

Chúng tôi đi qua một nhà ga nhỏ trên đường sắt và đi
thêm vài dặm nữa thì tới một trại cây ăn trái rộng bốn trăm mẫu. Trại cây này
thuộc quyền sở hữu của một công ty. Có hai mươi sáu nghìn cây con đã được đặt
thành hàng và toàn thể bốn trăm mẫu đất sẽ được trồng kín không lâu. Những mẫu
dâu tây và cây ra trái nhỏ khác đang nặng trĩu. Chúng tôi ngưng lại để nhìn cho
no và Manly say mê trò chuyện với một số người của công ty. Họ bảo anh có thể
mua bốn mươi mẫu đất với giá bốn trăm đô la, tất cả đã được dọn sạch, ngoại
trừ năm mẫu rừng và còn có thêm một dòng suối không ngưng chảy, một ngôi nhà gỗ
tiện nghi và một kho chuồng.

Gần cuối buổi chiều chúng tôi qua Seymour. Ở đây các
phố chính của thị trấn được dựng quanh các quảng trường và trên quảng trường là
những cây cọc buộc ngựa. Trong văn phòng một xí nghiệp, một cô gái đang ngồi
đánh máy. Một người đàn ông cho chúng tôi hay ông ta đã sống nhiều năm tại
Dakota, gầnSioux Falls. Lúc này ông ta còn một người anh em đang sống tại
đó. Ông ấy canh tác gầnSeymour. Ông ta bảo khí hậu ở đây là nhất, chúng
tôi sẽ không bao giờ muốn rời khỏi những ngọn đồi này, nhưng cũng cần có một thời
gian để làm quen với những khối đá.

Chúng tôi qua nhiều dòng suối lớn rồi qua nhiều lạch
suối nhỏ. Các hàng rào bằng những khúc cây chẻ chạy ngoằn ngoèo và đầy những
cây ăn trái mọc hoang trong các góc. Có hàng đống những thứ như cây mâm xôi,
đào và mận giống, anh đào và những loại trái cây đang chín trên cành mà tôi
không biết là cây gì, một sự tụ hội phong phú những trái cây dại. Tất cả dường
như bỏ mặc cho bất kì ai muốn hái cũng được.

Hôm nay chúng tôi không thể tới Mansfield. Hạ trại
bên một dòng suối chỉ dài chừng mười dặm rưỡi. Không có đủ thời gian cho Rose
và tôi chất đầy một góc xô những trái mâm xôi mọng nước.

Chúng mọc thành bụi lớn trong rừng và đang chín nẫu,
rụng xuống một cách phí phạm.

Thêm sáu cỗ xe di dân hạ trại quanh dòng suối trước
khi trời tối.

30 tháng tám, 1894.

Đóng ngựa vào xe và ra đi lúc 7 giờ 10. Đường gồ ghề
và toàn đá khi xuyên qua các hẻm núi nhưng không xấu lắm và suốt hai bên đường
luôn có cây.

Chúng tôi qua các trại cây ăn trái Memphis, rộng một
nghìn năm trăm mẫu, chiếm một phần hai bên đường đi.

Đó là một vườn cây non với những hàng cây nhỏ, táo
và đào, trồng uốn vòng trên những ngọn đồi đã được cày đất.

Một vài cỗ xe xuất hiện ở phía sau chúng tôi và chúng
tôi nối sau những người khác, tất cả ngựa đều bước chậm, kìm giữ khi xuống đồi
và cố leo khi lên đồi. Lúc 11 giờ 30, chúng tôi tớiMansfieldtrong một
đoàn dài mười cỗ xe di dân.

Mansfieldlà một thị trấn tốt với khoảng ba
trăm tới bốn trăm cư dân gom trong một khu trung tâm và phát triển nhanh
chóng. Đường sắt chạy bên một quảng trường và có hai tuyến xe chở khách từ nhà
ga, một từ phía nam chạy tới vùng trung tâm của hạtDouglasvà một từ
phía bắc chạy tới vùng trung tâm của hạt Wright. Ở đây mọi thứ đều có sẵn sàng
theo ý muốn dù rằng chúng tôi phải theo đuổi tín ngưỡng của mình không có một
nhà thờ theo Giáo đoàn. Có một nhà thờ của Giám lí và một nhà thờ theo Giáo đoàn
Trưởng lão. Có một trường học rất tốt. Quanh quảng trường có hai cửa hàng bách
hóa, hai cửa hàng dược phẩm, ngăn hàng, chuồng nuôi ngựa thuê và cửa hàng đóng
móng ngựa ở gần đó. Có rất nhiều ngôi nhà lớn đẹp trong những sân rộng trồng
cây. Đường đi về phía nam cũng tốt như đường đi về phía bắc, hai hoặc ba ngôi
nhà lớn và ở đó có một nhà máy xay bột bên một hồ chứa nước.

Hạ trại trong rừng ở phía tây của thị trấn và chiều
nay, Manly tới thăm một địa điểm muốn bán nhưng thấy không thích hợp.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.