Biệt thự Hà Lan - Chương 04

IV

GÒ NỔI TRÊN SÔNG AM-XTEC-ĐI-EP

Đó
không phải là một cuộc theo dõi thật đúng nghĩa của từ ấy. Dẫu thế nào đi nữa, Me-grê
cũng không bao giờ có cảm tưởng rằng ông đi do thám một ai.

Ông
ra khỏi nhà Pô-pin-ga. Ông bước đi vài bước. Nhận ra hai người phía bờ bên kia
sông đào, ông dừng hẳn lại để quan sát họ. Ông không ẩn núp. Ông đứng sừng sững
bên bờ sông, răng cắn tẩu, tay thọc vào túi.

Nhưng
có lẽ vì ông không ẩn núp, những người kia không trông thấy ông và vì họ đang
say sưa theo đuổi câu chuyện mà khoảnh khắc này đâm ra có một cái gì cảm động.

Bờ
sông đào mà hai người đang đứng không có người ở. Một gian nhà kho đứng giữa
một công trường có hai con tàu nằm trên cạn được chống bằng những tấm ván dày.
Những chiếc ca-nô mục nát ngoài mép nước.

Cuối
cùng, ngay trên sông, những thân cây chỉ để lộ ra một hai thước chiều rộng mặt
nước và mang lại cho phong cảnh một mùi hương xứ lạ.

Lúc đó là chiều tối. Bóng chạng vạng bao trùm; tuy nhiên
không khí vẫn trong veo, khiến cho những sắc màu hoàn toàn tinh khiết.

Tĩnh lặng đến ngạc nhiên, và tiếng ếch ộp oạp từ cái ao
xa xa làm giật mình.

Ông chủ đang nói. Ông không cao giọng. Nhưng người ta cảm
thấy ông dằn từng tiếng, ông muốn người ta hiểu ông hay vâng lời ông. Đầu cúi
xuống, chàng trẻ tuổi mang sắc phục chuẩn úy lắng nghe. Anh ta xỏ đôi găng tay
trắng làm thành hai vệt sáng chói duy nhất trong bức phong cảnh.

Đột nhiên có một tiếng gọi xé tai. Một con lừa bắt đầu
rống lên trong một cánh đồng phía sau lưng Me-grê. Và thế là đủ để làm tan sự
diệu kì. Ôx-tinh nhìn về phía con vật đang gây sự với trời, trông thấy Me-grê,
lão để mặc ánh mắt lướt trên người ông này mà chẳng hề nhúc nhích.

Lão còn nói vài lời nữa với người bạn, rồi đút cán cái
tẩu đất vào miệng và đi về phía thị trấn.

Điều ấy chẳng có ý nghĩa gì, chẳng chứng tỏ gì hết. Me-grê
cũng bước đi, và hai người đi song song mỗi người trên một bến sông
Am-xtec-đi-ep.

Nhưng con đường mà Ôx-tinh đi theo sớm cách ra xa bờ
sông. Chẳng bao lâu Ông chủ đã khuất dạng sau những nhà kho mới. Trong gần một
phút nữa người ta còn nghe tiếng guốc của lão nện nặng nề trên đất.

Lúc ấy đã là đêm, chỉ có một quầng sáng gần như không cảm
thấy được. Đèn đóm vừa thắp lên trong thị trấn và dọc sông đào, ánh đèn ngừng
lại ở bên kia ngôi nhà của gia đình Vi-ê-nan.

Bờ sông bên kia không có người ở, nằm trong bóng tối. Me-grê
quay lại mà không biết tại sao. Ông càu nhàu vì con lừa lại mới rống lên một
tiếng tuyệt vọng.

Và ông nhìn thấy ở đằng xa, xa hơn những ngôi nhà, hai
cái vệt trắng nhảy nhót bên trên sông đào. Đôi găng tay của Cor-nê-li-uýt.

Nếu người ta không chủ tâm, và nhất là nếu quên mất rằng
mặt trước chất đầy cây gỗ, thì quang cảnh ấy thật ma quái.

Những bàn tay khua động trong chân không. Thân người lẫn
vào đêm. Và trên mặt nước phản chiếu ánh sáng của ngọn đèn điện cuối cùng.

Không còn nghe thấy tiếng bước chân của Ôx-tinh nữa. Me-grê
đi về phía những ngôi nhà cuối cùng, lại đi qua trước mặt nhà Pô-pin-ga, rồi
trước mặt nhà Vi-ê-nan.

Ông vẫn không giấu mình, nhưng ông biết rằng chính ông
cũng hòa lẫn vào bóng đêm. Ông dõi mắt theo đôi găng tay. Ông hiểu.
Cor-nê-li-tuýt, muốn khỏi phải đi vòng qua thị trấn để gặp chiếc cầu bắc ngang
sông đào, đã vượt sông nhờ những thân cây kết thành bè. Đến giữa dòng, cậu phải
nhảy một bước dài hai thước. Đôi tay trắng khua động mạnh hơn, vẽ nên một đường
cong rất nhạnh và nước vỗ lóc bóc.

Vài giây sau, cậu bước đi dọc sông, Me-grê theo sau chừng
một trăm thước.

Cả hai bên đều vô ý thức, vả lại Cor-nê-li-uýt chắc không
biết đến sự có mặt của Me-grê. Vậy mà ngay từ những bước đầu tiên hai người đã
bước cùng một nhịp, đến mức cả tiếng xào xạo của xi rải đường cũng hòa lẫn vào
nhau.

Me-grê nhận thức được điều đó vì có lúc bàn chân ông vấp
một cái, thì trong khoảng một phần mười giây sự đồng bộ không còn được tuyệt
đối.

Ông không biết là ông đi đâu. Tuy vậy bước đi của ông trở
nên nhanh hơn khi chàng trẻ tuổi bước nhanh hơn. Hơn thế nữa, ông cảm thấy mình
dần dà bị cuốn theo một cơn chóng mặt thế nào đó.

Lúc đầu, bước đi dài và đều đều. Bước ngắn dần.

Rồi dồn dập.

Đúng vào lúc Cor-nê-li-uýt đi qua trước mặt công trường
gỗ thì một cuộc hòa tấu thực sự của những con ếch bùng lên và chàng trai đứng
sững lại.

Cor-né-li-uýt sợ chăng? Bước đi tiếp tục, nhưng so le
hơn, đôi lúc lại do dự, ngược lại có những lúc hai ba bước gấp gấp khiến người
ta có thể cho rằng cậu ta sắp sửa chạy.

Sau đó thì hết cả yên lặng vì bản đồng ca ếch không ngưng
lại nữa. Nó tràn ngập cả màn đêm.

Và bước đi càng nhanh hơn. Hiện tượng lại tiếp tục: Me-grê,
khi ráng sức bước đi cùng nhịp với người bạn đồng hành, đã cảm nhận được hoàn
toàn tâm trạng của cậu ta.

Cor-nô-li-uýt sợ! Cậu đi nhanh vì cậu sợ! Cậu hối hả để
đi đến nơi. Nhưng khi cậu đi qua gần một bóng đen có góc cạnh kì dị, đống gỗ,
cái cây chết hay bụi rậm, bàn chân cậu có đến hơn một phần mười giây chới với
trên không.

Con sông đào uốn khúc. Cách xa một trăm thước, về hướng
trang trại, là khoảng không gian ngắn được ánh đèn biển rọi sáng.

Và chàng trai dường như lảo đảo trước luồng ánh nắng. Cậu
quay lưng lại. Cậu chạy qua luồng sáng mà vẫn quay lưng lại.

Cậtt đã vượt qua chỗ sáng và vẫn còn quay lại, trong khi Me-grê
bình thản bước vào, với tất cả tầm vóc dài rộng và với trọng lượng của ông.
Chàng trai không thể không nhìn thấy ông. Cậu dừng lại. Đủ thì giờ lấy lại hơi,
rồi lại đi.

Vùng sáng đã ở sau lưng bọ. Trước mặt là một khung cửa sổ
sáng đèn: cửa sổ của trang trại. Tiếng ếch chẳng đi theo họ đó sao? Họ đã đi xa
lắm mà tiếng ếch vẫn gần bên, bao bọc lấy họ như thể lũ vật ấy có đến hàng trăm
hàng trăm con tháp tùng theo họ.

Một bước dừng đột ngột, dứt khoát ở cách ngôi nhà một
trăm thước. Một bóng người tách khỏi một thân cây. Một giọng nói xì xào.

Me-grê
không muốn quay lại phía sau. Như thế thật lố bịch, ông không muốn ẩn núp. Thêm
vào đó, đã quá muộn bởi vì ông đã đi qua những luồng ánh đèn.

Người
ta biết có ông ở đó. Ông tiến lên phía trước, chậm rãi, bối rối vì không còn
một bước chân khác để dội lại bước chân ông.

Bóng
tối dầy đặc vì có hai cái cây vòm lá rậm rì ở hai bên đường. Nhưng có một chiếc
găng tay trắng đặt lên một vật gì.

Mội
cái ôm ghì. Bàn tay Cor-nê-li-uýt sau lưng một cô gái, cô Bét.

Còn
nhiều nhất năm mươi thước nữa... Me-grê dừng lại một lát, rút bao diêm trong
túi ra, bật một que châm lên tẩu. Và như vậy, đánh dấu vị trí chính xác của
mình.

Khi
ông tiến tới, đôi tình nhân động đậy, Khi ông chỉ còn cách mười thước, cái bóng
của Bét tách ra, đến đứng ở giữa đường, quay mặt về phía ông như chờ đợi. Và
Cor-nô-li-uýt vẫn tựa lưng vào một thân cây.

Tám
thước...

Sau
lưng họ, cửa sổ trang trại vẫn sáng đèn. Chỉ là một khung hình chữ nhật đỏ mờ.

Đột
nhiên một tiếng kèn ồ ồ, không thể nào miêu tả, một tiếng kêu sợ hãi, bứt dứt,
thuộc loại những tiếng kêu thường đi trước tiếng nức nở và nước mắt, giống như
một tiếng tách mở chốt hầm.

Chính
là Cor-nê-li-uýt đang khóc, tay ôm lấy đầu. Cậu dán mình vào thân cây như là để
tự che chở.

Bét
đứng trước mặt Me-grê. Cô khoác một chiếc áo măng tô, nhưng viên chỉ huy trưởng
nhận thấy bên trong người cô là chiếc áo ngủ, hai ống chân trần, bàn chân cũng
đi trần trong đôi dép lê.

- Ông
đừng để ý..


thì cô rất thản nhiên. Thậm chí còn ném cho Cor-né-li-uýt một cái nhìn trách cứ
và sốt ruột.

Cậu
tự quay lưng lại. Cậu gắng tự trấn tĩnh, nhưng không được và cậu hổ thẹn vì sự
sợ hãi của mình.

- Anh
ấy bứt rứt... Anh ấy tin là...

- Cậu
ấy tin làm sao?

-
Người ta sắp buộc tội cho anh ấy.

Chàng
trai tiếp tục đứng tách riêng ra. Cậu lau mắt. Phải chăng cậu sắp vắt chân lên
cổ chạy trốn?

- Tôi
chưa buộc tội ai hết! - Me-grê nói cho có chuyện.

-
Phải vậy không ông?

Và,
quay về phía cậu bạn, cô nói với cậu bằng tiếng Hà Lan, Me-grê tin là ông hiểu
được hay đúng hơn là ông đoán được.

- Anh
thấy đấy! Ông chỉ huy trưởng không buộc tội cho anh đâu! Anh phải bình tĩnh
lại... Trẻ con quá...

Nhưng
cô bỗng im bặt. Cô đứng bất động, giỏng tai nghe ngóng, Me-grê không nghe thấy
gì hết. Vài giây sau ông tưởng rằng ông cũng có cảm thấy một tiếng kêu rắc ở
phía đằng trại.

Như
thế cũng đủ khiến cho Cor-nê-li-uýt linh hoạt trở lại. Anh nhìn khắp xung
quanh, nét mặt phờ phạc, các giác quan thức tỉnh.

Không
ai nói năng gì.

- Anh
có nghe thấy không?... - Bét nói trong hơi thở. Chàng trai muốn tiến về phía
nơi phát ra tiếng động, với sự can đảm của một chú gà trống tơ. Cậu thở rất
mạnh.

Muộn
quá rồi... Kẻ thù đã gần hơn người ta dự đoán rất nhiều.

Cách
xa mười thước, một bóng người vươn cao, thoạt nhìn đã nhận ra ngay: bóng ông chủ
trại Li-ê-ven, dưới chân ông có đôi giày vải.

-
Bét! - Ông ta gọi.


không dám trả lời ngay lập tức. Nhưng vì ông bố lại gọi lại tên cô, cô thở dài
mội cách sợ hãi:

-
Vâng!...

Li-ê-ven
vẫn tới. Thoạt tiên ông ta đi qua trước mặt Cor-nê-li-uýt, làm như không thấy
cậu này. Có thể ông chưa nhìn thấy Me-grê chăng?

Thế
mà đến đúng trước mặt Me-grê, ông đứng lại, hai lỗ mũi phập phồng vì giận dữ.
Ông ghìm mình. Ông im lìm một cách nghiêm khắc. Khi ông nói, là ông quay đầu về
phía cô con gái, và nói với một giọng sắc bén váng tai.

Hai
hay ba câu thôi, cô vẫn đứng cúi đầu. Lúc đó ông nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần
chỉ nguyên một tiếng với giọng chỉ huy và Bét nói bằng tiếng Pháp:

- Bố
muốn tôi nói với ông...

Bố cô
theo dõi cô để đoán xem cô dịch lời ông có chính xác không.

- ...
rằng ở Hà Lan các thám tử không hẹn hò ban đêm với các cô gái, ở ngoài đồng.

Me-grê
đỏ mặt như ít khi thấy xảy ra ở ông. Một luồng máu nóng bốc lên ù cả tai.

Sự
buộc tội mới ngu ngốc làm sao! Nó bộc lộ một tà ý đến thế nào!?

Bởi
vì, cuối cùng thì Cor-nê-li-uýt đang sờ sờ ở đây trong bóng tối, mắt lo âu, vai
so cả lại!...

Và dù
sao ông bố cũng phải biết rõ ràng Bét ra khỏi nhà chính là vì cậu ấy. Vậy
thì?... Trả lời sao đây? Nhất là lại phải qua một người phiên dịch?

Vả
lại người ta thậm chí cũng chẳng đợi câu trả lời. Ông chủ trại bật ngón tay như
để gọi chó, chỉ đường cho cô con gái đang trù trừ, quay mặt về phía Me-grê, cô
không dám nhìn người tình và cuối cùng bước đi đằng trước ông bố.

Cor-nê-li-uýt
vẫn không động đậy. Tuy nhiên cậu giữ tay lên như để giữ ông chủ trại lại khi
ông đi qua nhưng rồi cậu lại thả tay xuống. Ông bố và cô con đi xa dần. Sau đó
có tiếng cánh cửa trang trại kêu lạch cạch.

Trong
lúc màn kịch diễn ra, thì những con ếch có im tiếng hay không? Không thể khẳng
định được, nhưng bây giờ bản hòa tấu của chúng hòa thành một sự huyên náo váng
óc.

- Anh
nói được tiếng Pháp chứ?

Cor-nê-li-uýt
không trả lời.

- Anh
nói được tiếng Pháp chứ?

-
Chút xíu...

Cậu
nhìn Me-grê một cách thù ghét, chỉ miễn cưỡng hé răng, đứng xéo xéo như để làm
nhỏ bớt mục tiêu tấn công.

- Tại
sao anh sợ hãi đến thế? - Những giọt nước mắt tuôn ra, nhưng không có tiếng nức
nở. Cor-nê-li-uýt xì mũi rất lâu. Hai bàn tay cậu run lên, có thể cậu lại sắp
lên cơn lần nữa?

- Anh
sợ người ta buộc cho anh tội giết giáo sư thật à?

Me-grê
nói thêm với một giọng cục cằn:

- Đi
nào!...

Ông
đẩy cậu đi về hướng thị trấn, ông nói dài, bởi ông cảm thấy đến phân nửa lời
ông lọt ra ngoài tai người nghe.

- Anh
sợ cho anh à?

Một
thằng nhóc! Khuôn mặt gầy guộc, chưa có nét rõ ràng, nước da nhợt nhạt. Đôi vai
hẹp trong bộ đồng phục bó sát. Chiếc mũ cát két chuẩn úy hàng hải hoàn toàn đè
bẹp cậu, khiến cậu trông như một đứa trẻ ranh mặc đồ lính thủy.

Và sự
thiếu tự tin trong mọi thái độ, trong biểu hiện của nét mặt. Nếu như Me-grê nói
lớn tiếng, chắc là cậu đã giơ tay lên để đỡ đòn. Tuy nhiên, cái băng tay đen
tạo cho cậu một sự khắc khổ đáng thương. Chẳng phải trước đây một thằng thằng
bé đã được tin mẹ chết bên Ấn Độ, có thể đúng vào một buổi tối mà ở Đen-phơ-di
nó đang rất vui vẻ, có thể tối đó là vũ hội mãn khóa ở trường. Cậu sẽ trở về
nhà sau hai năm nữa, với cấp bậc phó ba và bố cậu sẽ chỉ cho cậu một nấm mồ cũ
kĩ, thậm chí cả một người đàn bà khác ở trong nhà.


cuộc sống sẽ lại bắt đầu trên một con tàu lớn, những giờ trực ca, những bến
ghé, Giava-Rot-tec-đam, Hốt-tec-đam-Gia-va, hai ngày ở đây, năm bảy giờ ở đó...

- Lúc
giáo sư bị giết thì anh ở đâu?

Tiếng
nức nở vọt ra, dữ dội, gào xé. Cậu bé nắm lấy hai ve áo của Me-grê trong đôi
bàn tay xỏ găng trắng đang run lên, vặn vẹo.

-
Không đúng, không đúng. - Cậu nhắc đi nhắc lại ít nhất hàng chục lần... -
Nein... Ông không hiểu... Không... Không!... Không đúng!

Họ
lại va phải cái luồng sáng trắng sữa của ngọn đèn biển. Ánh sáng khiến họ quáng
mắt, tạc nổi hẳn lên mọi chi tiết của thân thể họ.

- Anh
ở đâu?

- Ở
đằng kia..

Đằng
kia, đó là ngôi nhà của ông bà Pô-pin-ga, là con sông đào mà chắc cậu đã có
thói quen vượt qua bằng cách nhảy từ thân cây này sang thân cây khác.

Chi
tiết này thật nghiêm trọng. Pô-pin-ga chết vào lúc mười hai giờ kém năm.
Cor-nê-li-uýt về đến vào lúc mười hai giờ năm.

Thế
mà, để vượt hết chặng đường theo lối đi thông thường, nghĩa là đi qua thị trấn,
thì phải mất gần ba mươi phút.

Nhưng
chỉ mất sáu hay bảy phút nếu vượt sông theo lối nọ, tránh đoạn đường vòng.

Me-grê
bước đi, nặng nề và chậm chạp, bên một chàng trai trẻ đang run lên như tàu lá
và lúc mà tiếng lừa lại rống lên vang dội, Cor-né-li-uýt rùng mình, run rẩy từ
đầu đến chân như thể sắp vắt chân lên cổ chạy trốn đến nơi.

- Anh yêu cô Bét à?

Im lặng bướng bỉnh.

- Anh đã nhìn thấy cô quay lại sau lúc ông giáo sư của
anh tiễn cô về?

- Không đúng đâu!... Không đúng!.. Không đúng.

Me-grê suýt nữa thì trấn an cậu ta bằng một trận đấm.

Tuy nhiên ông lại nhìn cậu bằng ánh mắt khoan dung, có
thể còn trìu mến:

- Ngày nào anh cũng gặp Bét à?

Lại im lặng.

- Anh phải về tàu lúc mấy giờ?

- Mười giờ... Trừ khi có phép... Khi tôi đến nhà giáo sư,
tôi có thể...

- Về muộn hơn! Vậy tối hôm đó thì không à?

Họ đã đến bờ sông, ở ngay chỗ Cor-nê-li-uýt đã vượt sông.
Me-grê, hoàn toàn tự nhiên, đi về phía những thân cây, đặt chân lên một khúc,
suýt ngã xuống nước vì không quen và vì gỗ lăn dưới đế giày ông.

Cor-né-li-uýt chần chừ.

- Đi nào! Sắp mười giờ rồi...

Cậu bé ngạc nhiên. Chắc cậu trông đợi sẽ không còn bao
giờ thấy lại con tàu, sẽ bị bắt, ném vào nhà tù.

Và đấy kìa, ông chỉ huy trưởng ghê gớm lại đưa cậu về,
ông cũng lấy đà để nhảy vọt lên qua hai thước nước giữa dòng sông như cậu. Họ
làm bắn bùn lên người nhau. Lên đến bờ bên kia, Me-grê dừng lại để chùi ống
quần.

- Đây là đâu?

Ông chưa từng đi bên bờ này. Đó là một bãi đất rộng bỏ
hoang nằm giữa sông Am-xtec-đi-ép và con sông đào mới, rộng và sâu, tàu biển có
thể vào được.

Khi quay trở lại, viên chỉ huy trưởng trông thấy một
khung cửa sổ sáng đèn trên lầu một nhà Pô-pin-ga. Có một bóng người, bóng cô
A-ni đang chuyển động sau rèm. Đó là phòng làm việc của Pô-pin-ga.

Nhưng người ta không thể đoán cô luật sư trẻ đang cặm cụi
vào việc gì.

Cor-nê-li-uýt đã bình tâm được một chút.

- Tôi thề... - Cậu ta bắt đầu nói.

- Không!

Tiếng đó làm cậu ta chưng hửng. Cậu nhìn ông bạn đồng
hành một cách sửng sốt đến nỗi Me-grê phải đập vào vai cậu mà nói:

- Không bao giờ được thề bồi. Nhất là trong tình trạng
của cậu... có phải cậu định cưới Bét?

- Vâng! Vâng!...

- Bố cô ấy có chịu không? Im lặng. Đầu cúi xuống,
Cor-nê-li-uýt cứ bước đi giữa những con thuyền cũ nát nằm trên cạn, ngổn ngang
trên bãi đất.

Trông thấy mặt sông đào Emx rộng rinh. Ở một khuỷu sông,
sừng sững một con tàu lớn sơn đen trắng, sáng bừng tất cả các lỗ cửa tròn. Mũi
tàu dáng cao. Một cột buồm với những trục buồm.

Đó là một con tàu cũ của hải quân Hà Lan, một con tàu có
đến trăm tuổi, không còn chạy được nữa, người ta neo ở đó để cho học sinh
trường Hàng hải.

Xung quanh tàu, những bóng người tối tối, những đốm lửa
thuốc lá. Một tiếng đàn pi-a-nô vọng từ phòng giải trí.

Đột nhiên một tiếng chuông khua bay bổng, trong khi tất
cả những bóng người rải rác trên bếp họp thành một bầy ong ở đằng trước cầu tầu
và đằng xa, trên đường đi thị trấn, bốn kẻ trễ giờ đang chạy về.

Đúng là một cảnh nhập trường, mặc dù tất cả những chàng
trai từ mười sáu đến hai mươi hai tuổi này đều mang đồng phục sĩ quan hàng hải,
găng tay trắng, mũ cát két cứng có viền kim tuyến.

Một hạ sĩ già, khuỷu tay chống lên bao lơn tàu, vừa hút
tẩu vừa nhìn họ diễu qua từng người một.

Thật là cảm kích, trẻ trung, hoan hỉ. Những lời bỡn cợt
chen ngang nhau, Me-grê nghe chẳng hiểu gì.

Những điếu thuốc bị quăng đi lúc vọt qua cầu tàu. Và, lên
đến tàu rồi, những cuộc chạy đuổi lại tiếp tục, cùng những đòn đánh dứ lẫn nhau.

Những kẻ về trễ, chạy về đến cầu tàu, hết cả hơi.

Cor-nô-li-uýt, nét mặt bơ phờ, mắt đỏ hoe, cái nhìn xốn
xang, quay về phía Me-grê.

- Đi đi thôi!... - Ông lầm bầm.

Cậu hiểu ông qua cử chỉ hơn là qua lời nói, cậu đưa tay
lên mũ vụng về phác ra một kiểu chào nhà binh, mở miệng toan nói.

- Thôi được rồi!... Chuồn đi!.

Vì viên hạ sĩ sắp đi về, trong khi một học sinh nhận
phiên trực ở cửa tàu.

Qua những lỗ cửa tròn, có thể nhìn thấy đám trai trẻ mở
võng, ném bừa quần áo.

Me-grê đứng nguyên một chỗ cho tới khi đã trông thấy
Cor-né-li-uýt vào trong phòng, rụt rè, khó chịu, nghiêng vai, nhận một chiếc
gối ném giữa mặt và tiến về một trong những chiếc võng ở cuối phòng.

Một màn kịch khác sắp bắt đầu, còn căng thẳng hơn. Viên
chỉ huy trưởng đi chưa được mười bước về hướng thị trấn thì trông thấy Ôx-tinh.
Cũng như ông, lão vừa đến chứng kiến cảnh nhập trường của đám học sinh.

Cả hai người đều một trạc tuổi, lớn con, nặng nề, bình
thản.

Người nọ cũng như người kia, cả hai chẳng kì khôi làm sao
khi đến đây ngắm những thằng nhóc leo lên võng và đánh nhau bằng gối?

Họ chẳng có cái vẻ của những gà mái mẹ to xù đứng trông
chừng một chú gà nhiếp phiêu lưu đó sao?

Họ nhìn nhau. Ông chủ không nhúc nhích, nhưng chạm tay
vào vành mũ cát két.

Họ đều biết trước rằng mọi sự trò chuyện giữa hai bên đều
không thể có, vì họ không nói cùng thứ tiếng.

- Goed avond... -
tuy nhiên người đàn ông Uốc-kum vẫn lầm bầm.

- Ngủ ngon! - Me-grê đáp như một tiếng vọng.

Họ cùng đi theo một con đường, con đường qua khoảng hai
trăm thước thì biến thành đường phố đâm vào thị trấn.

Họ bước đi gần như cùng một tốc độ. Để tách khỏi nhau,
phải có một trong hai người bước chậm lại một cách rõ ràng, mà cả hai đều không
muốn làm như thế.

Ôx-tinh đi guốc. Me-grê vận thường phục. Cả hai
đều hút tẩu, chỉ khác một điều là tẩu của Megrê bằng gỗ thạch thảo còn tẩu của
ông chủ thì bằng đất sét trắng.

Ngôi nhà thứ ba mà họ trông thấy là một quán cà-phê và
Ôx-tinh đi vào đó, sau khi đã dộng đôi guốc mà sau đó ông cũng bỏ lại trên tấm
thảm rơm, theo phong thái Hà Lan.

Chỉ sau một giây suy nghĩ, Me-grê cũng bước vào, có
khoảng chục thủy thủ đường biển và đường sông ngồi quanh cùng một cái bàn, hút
tẩu và xì-gà, uống bia và rượu đỗ tùng.

Ôx-tinh siết tay vài người, chọn một chiếc ghế và ngồi
xuống một cách nặng nề, nghe mọi người nói chuyện.

Me-grê ngồi tách ra, cảm thấy rằng thực ra tất cả đều tập
trung chú ý vào mình. Người chủ quán, ngồi trong bọn, đợi một lúc trước khi đến
hỏi vị khách nước ngoài uống gì?

Rượu đỗ tùng chảy từ một bồn nước bằng sứ và bằng đồng. Ở
đây chính mùi vị của nó ngự trị, cũng như trong mọi quán cà-phê Hà Lan, tạo nên
cái không khí khác hẳn với một quán cà-phê Pháp.

Đôi mắt nhỏ tí của Ôx-tinh lóe cười mỗi khi nhìn vào viên
chỉ huy trưởng. Ông này duỗi dài đôi chân rồi gập lại dưới ghế, rồi lại duỗi ra,
nhồi một nõ thuốc để giữ vẻ bình thản.

Chủ quán đứng lên, chủ bụng để đến châm lửa cho ông.

- Moie veer!

Me-grê không hiểu, nhíu mày lại, khiến người kia nhắc
lại:

-
Moie veer, ya... Oost vind..

Tất
cả những người khác lắng nghe, huých khuỷu tay vào nhau. Có một người chỉ ra
cửa sổ, bầu trời đầy sao:

-
Moie veer!... Thời tiết tốt!


anh ta tìm cách giải thích rằng gió thổi từ hướng đông, và như thế là rất hoàn
hảo.

Ôx-tinh
chọn xì gà trong một cái thùng. Lão khua khua năm hay sáu điếu mà người ta đặt
trước mặt lão.

Như
cố phô bày, lão cầm lấy một điếu xì-gà Ma-ni đen như than, cắn một đầu nhổ
xuống đất trước khi châm lửa.

Rồi
lão, chỉ chiếc mũ cát két mới cho các bạn:

-
Vier gulden.

Bốn
đồng tiền vàng Hà Lan! 40 phơrăng! Mắt lão vẫn luôn luôn cười cợt.

Nhưng
có một người đi vào, mở một tờ nhật báo.

Báo
nói về giá cước vận tải mới nhất ở sở giao dịch Am-xtec-đam.


trong cuộc chuyện trò náo nhiệt tiếp sau đó, giống như một cuộc tranh cãi vì
những giọng nói oang oang và sự gay gắt của những âm tiết, người ta quên mất Me-grê,
ông rút tiền lẻ trong túi ra và đi về khách sạn Van Hát-xen ngủ.

Báo cáo nội dung xấu