Võ sĩ đạo, linh hồn của Nhật Bản - Lời người dịch
Lời người
dịch
Ngày xưa, Việt
Nam chúng ta có phân chia các thành phần
xã hội theo “sĩ nông công
thương” nhưng
không khắc nghiệt đến mức
biến thành giai cấp.
Nhật Bản là nước chịu
ảnh hưởng của Trung Quốc,
họ cũng có chỗ giống chúng ta, cũng có “sĩ nông công thương” và họ
còn có một giai cấp khác ở trên là quý tộc.
Sĩ nông công thương ở
Nhật Bản là giai cấp, và từ cuối
thế kỉ 16 đến thời
Minh Trị Duy tân, thành viên
các giai cấp theo chế độ cha truyền
con nối, không ai được quyền thay đổi
thân phận của mình (nông dân hoặc thương
nhân dẫu là trí thức cũng không thể trở thành thành viên của
giai cấp ”sĩ”).
Chữ “sĩ”
ở Việt Nam thường được dùng để
chỉ những người trí thức,
cả văn lẫn võ, nhưng “sĩ” ở
Nhật Bản có thể nói tất
cả đều là những người
xuất thân từ võ sĩ, họ là giai cấp trí thức đại diện
cho quần chúng Nhật Bản. “Võ sĩ đạo”
là qui phạm đạo đức của
giai cấp “sĩ” này.
Xưa nay, Nhật Bản
liên tục du nhập tinh hoa của văn hóa thế giới và liên tục
biến những tinh hoa đó thành cái của riêng mình. Và đó là truyền thống của
văn hóa Nhật Bản. Do đó, về bản chất
những qui phạm của võ sĩ đạo
tuy không có gì mới mẻ đối với
những dân tộc Á Đông, nhưng qua cách vận
dụng, những qui phạm này đã biến thành những cái gì đó có tính cách độc đáo, đậm đà bản sắc
Nhật Bản.
“Võ sĩ đạo,
linh hồn của Nhật Bản”
lần đầu tiên được xuất bản
ở Philadelphia (“The Leeds
and Biddle Company, Philadelphia” xuất
bản) vào năm 1899. Tiến sĩ Nitobe Inazo[1] viết tác phẩm này với mục
đích giới thiệu qui phạm đạo đức
của Nhật Bản (của
giai cấp “võ sĩ”) đến những người
Âu - Mỹ. Vì thế các tỉ dụ
được tác giả đem ra để so sánh với trường hợp
của Nhật Bản phần
lớn đều được lấy
ra từ kho tàng triết học, văn học
v.v. của Âu - Mỹ. Nguyên tác được viết bằng
tiếng Anh với cách viết cô đọng, với
văn hóa độc đáo của Nhật Bản,
nhiều chỗ có cả tiếng
La tinh nên rất khó hiểu. Để giải
quyết những vấn đề
này, ngoài bản gốc tiếng Anh đăng trên mạng,
người dịch đã tham khảo bản dịch
tiếng Nhật được xem là rất
ưu tú của Yanai
Haratadao (bản dịch năm 1938). Trong phần dịch thuật,
các chú thích của ND (người dịch) được
viết bằng chữ nghiêng, nhưng để
tránh rườm rà, những chú thích dài hơn được viết ở dưới
trang.
Người dịch xin chân thành cảm tạ các bạn
trong “Nhóm Dịch thuật Văn học Nhật
Bản” đã khổ công kiểm tra, chỉnh lý để bản
dịch được hoàn hảo.
Lê Ngọc
Thảo
Kuala Lumpur, tháng 6, năm 2007
[1] Nitobe Inazo (1862-1933):
Tiến
sĩ nông nghiệp, tiến sĩ pháp chính học,
tiến
sĩ văn học, nhà văn hóa tầm cỡ
của
Nhật
Bản
ở
cuối
thế
kỉ
19, đầu
thế
kỉ
20. Sinh ra ở Morioka (vùng đông bắc Nhật
Bản)
vào năm 1862, sau khi tốt nghiệp trường
Nông học
Sapporo, ông đi du học ở Mỹ
và Đức.
Ông từng
đảm
nhiệm
các chức
vụ
như
giáo sư
Đại
học
Kyoto, hiệu trưởng trường Ikko (Đại
học
Tokyo ngày nay), Phó Tổng thư kí Hội
Quốc
Liên v.v. Ngoài “Võ sĩ đạo” ông còn có tác phẩm
“Tu dưỡng”
v.v. Ông mất năm 1933 ở Canada. (Hình ông
hiện
được
in trên giấy bạc 5.000 Yên của
Nhật
Bản).
Lời người
dịch
(cho lần xuất bản
năm 2011)
Ngày 11 tháng 3 năm 2011 một
trận động đất kinh hoàng 1.000 năm một thuở
với cường độ 9 độ
richter đã xảy ra ở ngoài khơi vùng biển
đông bắc Nhật Bản, thuộc
Thái Bình Dương. Đồ
đạc văng gãy tứ tung, nhà cửa xiêu vẹo đổ nát. Nhiều
người bị đè bẹp, những
người may mắn còn sống sót chưa kịp
hoàn hồn thì không đầy mười lăm phút sau sóng thần giăng trắng
ngoài khơi từng
đợt tràn vào, có nơi cao hơn bờ
đê chắn sóng gần 20 mét. Xe ô tô ở bãi đậu bị
đẩy trôi như đồ chơi trẻ
nít. Nhà cửa răng rắc sụp đổ
và những người không kịp thời chạy
lên những vùng đất cao bị sóng lùa theo dòng nước. Người
thoát nạn không kịp mang theo một món đồ gì ngoài manh áo dính thân. Họ lần lượt
tụ về những nơi tị
nạn ở những vùng đất
cao. Bi kịch chưa từng thấy đã được tivi truyền
chiếu trước mắt mọi
người qua lăng kính của những người
vừa thoát nạn.
Trước đó
cũng từng có những trận động
đất lớn ở Indonesia hay ở
Tahiti. Màn ảnh tivi đã cho
thấy những cảnh hỗn
loạn khi lánh nạn và hình ảnh cướp bóc vì đói khát.
Chắc mọi người trên thế
giới đang theo dõi điều gì sẽ xảy
ra ở Nhật sau trận động đất
kinh hoàng này. Nhưng thật
bất ngờ, sau cơn
ác mộng, tuy nước mắt có rơi vì bị mất
người thân, bị mất nhà cửa
nhưng không có cảnh la gào thảm thiết, không có cảnh
hỗn loạn xảy ra. Hình ảnh
cướp bóc vì đói khát cũng
không có. Một ngày sau đó,
hiện trên tivi hình ảnh những người
lánh nạn xếp thành hàng dài trước cửa hàng thực
phẩm với số lượng
hàng hóa ít ỏi còn sót lại, đợi đến
lượt mình. Có người đến lượt
mình thì hàng đã hết. Họ chỉ lắc
đầu tủi cho số phận
không may của mình. Chính
phủ và các cơ quan từ thiện
đã hành động nhanh chóng trong
việc chi viện, nhưng
không thể nào đáp ứng đầy đủ
nhu cầu vì số người bị
nạn quá đông. Những người không mua được
thực phẩm chỉ được
phát một nửa nắm cơm cho một bữa
ăn. Những người nhận thức
ăn cúi đầu cảm ơn,
không thấy ai có lời phàn nàn. Tuy mọi người đều
đói khát nhưng có thể thấy
trong số người lánh nạn có người đã nhường
phần ăn của mình cho trẻ nhỏ và người
già yếu. Những hành động của người
Nhật đã làm cho cả thế giới
kinh ngạc. Điều gì đã tạo nên phẩm chất của
người Nhật như thế
này?
Không hề
đơn giản để có một câu trả
lời về hành động của
người Nhật. Nhưng
nếu bạn có dịp sống
ở Nhật Bản có lẽ
phần nào bạn có thể hiểu
được đây là những hành động tất nhiên của
người Nhật. Có thể nói sự trầm
tĩnh đáng ngạc nhiên của người Nhật
trước thiên tai là một truyền thống.
Phải chăng đó là một biểu hiện
của đức tính “dũng khí” trong võ sĩ đạo, một đức
tính của các samurai xưa. Dũng khí được
đề cao và được hiểu (ở
trạng thái tĩnh) với nghĩa là lúc nào cũng tỉnh táo, không hốt hoảng sợ
sệt khi ra chiến trận hay khi gặp
thiên tai.
Bằng cách
nào người Nhật có thể tiếp
nối truyền thống của
cha ông mình khi mà ngày nay từ
mẫu giáo cho đến trung học phổ thông, không có môn học nào về
thần đạo hay võ sĩ đạo cả. Những
ý thức đạo đức ngàn xưa của
nước Nhật mà đại biểu
là những điều ta có thể thấy được
trong giáo huấn hành vi của giai cấp võ sĩ vẫn còn ẩn hiện
qua những bài học về xã hội
ở học đường hoặc
trong gia đình. Tỉ dụ như trẻ
em được huấn luyện và được
khuyến khích phải hành động hợp với
lễ nghĩa (cảm ơn khi được
giúp đỡ, xin lỗi khi gây hại hay đã làm phiền người khác, cảm
thông đối với tình cảm người khác bằng
hành vi giúp đỡ người yếu kém hơn mình v.v.). Những đức tính khác như
thành thật (trình báo đến nhà trường hay văn phòng cảnh sát khi nhặt được những
vật bị đánh rơi
v.v.), hoặc trọng danh dự trong cách hành xử v.v. (không được làm những việc có thể
hạ phẩm cách của mình như chen lấn, hoặc
không xếp hàng ở những nơi cần
phải xếp hàng, v.v.) cũng luôn luôn được nhắc nhở.
Mọi hành vi sẽ được những
người xung quanh (hoặc ở học
đường, hoặc trong gia đình.v.v.) kiểm chứng qua hành động
cụ thể của mỗi
cá nhân.
Người dịch xin được giới thiệu
tới bạn đọc bản
tác phẩm “Võ sĩ đạo - Linh hồn của Nhật
Bản” của tác giả Nitobe Inazo với mong ước giúp bạn
đọc có được một cái nhìn khái quát về ý thức
đạo đức và cách hành xử của người
Nhật ngày xưa (mà giai cấp
“võ sĩ” là đại diện) và qua đó ít nhiều hiểu được
ý thức đạo đức và hành động
của người Nhật ngày nay. Người
dịch xin cảm ơn
Công ty cổ phần truyền thông Quảng
Văn và nhà xuất bản Thời đại
đã có nhã ý giới thiệu bản dịch
này đến bạn đọc Việt
Nam.
Chiba ngày 23 tháng 3 năm 2011
Người dịch: Lê Ngọc Thảo
Lời giới
thiệu (Bản tiếng
Anh - 1905)
Thể theo
yêu cầu của nhà xuất bản mà Tiến
sĩ Nitobe đã dành cho một
chút ít tự do trong việc biên soạn lời tựa,
tôi hân hạnh được viết một
vài lời giới thiệu bản
“Võ sĩ đạo” mới này đến các độc
giả Anh ngữ trên toàn thế giới. Thật
ra, tôi đã quen biết với tác giả trên mười lăm năm, và ở
một chừng mực nào đó, tôi có liên quan đến chủ đề
của ông ít nhất cũng được khoảng bốn
mươi lăm năm.
Chuyện
vào năm 1860, ở Philadelphia
(nơi tôi chứng kiến
việc hạ thủy kì hạm
Susquehanna của Đô đốc Perry vào năm 1847) lần đầu tiên tôi được
thấy người Nhật và được
gặp những người trong phái đoàn ngoại giao đến
từ Edo. Tôi đã có ấn tượng hết
sức mạnh mẽ về
những người ngoại quốc
này, nguyên tắc hành xử và lí tưởng của họ
là võ sĩ đạo. Sau đó, trong
khoảng thời gian ba năm ở đại học
Rutgers, thuộc thành phố New Brunswick, bang New Jersey,
tôi có dịp sinh sống cùng với những thanh niên đến
từ Nhật Bản, tôi đã dạy
hoặc quen biết họ như
bạn học. Chúng tôi thường nói chuyện với nhau về
võ sĩ đạo và tôi đã tìm thấy võ sĩ đạo là đầu đề
hết sức hấp dẫn.
Trong sinh hoạt của những người
mà trong tương lai sẽ là thống
đốc, nhà ngoại giao, đô đốc, nhà giáo, hoặc giám đốc ngân hàng, có mùi hương thật dịu của loài hoa thơm nhất
từ xứ sở Nhật
Bản xa xôi. Đúng vậy, ngay trong giờ phút lâm chung của ít ra cũng trên một người trong số
những người đã yên nghỉ trong những nấm mồ
ở nghĩa địa Willow Grove, cũng có mùi hương này. Tôi không bao giờ
quên một samurai trẻ, tên là Kusakabe, khi được mời đến
chỗ có nghi thức tế lễ
cao quí nhất, với hi vọng to lớn
nhất, trong lúc hấp hối đã trả
lời rằng “Dẫu tôi có biết
đến Chúa Jesus của anh, tôi không thể chỉ dâng cho ngài cặn
bã của đời tôi”. Vâng, tôi cảm thấy hoàn toàn đồng
ý với những gì mà bạn tôi, Charles Dudley Warner đã
viết trước đó trong bài “Biện bác giấu diếm của
nhà truyền giáo” khi chúng
tôi thảo luận về đạo
đức và lí tưởng, hoặc trong những
lúc nói đùa vui vẻ ở bàn ăn khi so sánh sự vật của
Nhật và Mỹ, hoặc trong lúc chơi thể
thao, hay “trên bờ đê của con sông cũ Raritan”. Ở một vài điểm,
qui phạm về đạo đức
và lễ nghĩa tuy có khác nhau,
nhưng đó chỉ là khác biệt
ở điểm hay ở tiếp
tuyến, chớ không phải là khác biệt kiểu nhật
thực hay nguyệt thực. Một
nhà thơ của họ đã viết
- có lẽ cả ngàn năm trước - khi đi ngang qua hồ nước, áo của
nhà thơ đã chạm vào một cành hoa làm giọt
sương đọng
trên đó nhỏ giọt lóng lánh trên tay áo gấm, “vì hương thơm của
nó, tôi sẽ không phủi giọt sương trên tay áo”. Thật ra, tôi vui mừng như ếch
được ra khỏi đáy giếng, cái giếng chỉ khác với
nấm mồ về chiều
dài. Vì, so sánh không phải
là sinh mệnh của kiến thức
và học vấn hay sao? Trong nghiên cứu về ngôn ngữ,
đạo đức, tôn giáo, phép tắc lễ nghi, thì đúng là “kẻ chỉ
biết một là kẻ không biết
gì cả”.
Tôi được
đến Nhật Bản vào năm 1870 với
tư cách một nhà giáo khai sáng, nhằm giới thiệu
phương pháp và tinh thần của hệ
thống giáo dục công cộng của nước
Mỹ, nhưng tôi hết
sức vui mừng vì được rời
khỏi thủ phủ để
đến Fukui, một tỉnh trong vùng Echizen (vùng đất ở khoảng
giữa đảo Honshu, sát liền với biển
Nhật Bản, ND), được tận mắt
nhìn thấy chế độ phong kiến
nguyên chất đang vận hành. Tôi đã quan sát võ sĩ đạo không phải như một
sự việc ngoại lai mà ở
chính vùng đất sản sinh ra nó. Trong đời sống hằng
ngày, qua cha-no-yu (nghệ
thuật uống trà, ND), ju-jutsu (nhu thuật, ND), hara-kiri (mổ bụng, ND), qua cách phủ phục
lễ phép sát chiếu hay gập mình thật
sâu ở ngoài đường, qua phép tắc về đao kiếm
và đi đứng, tất cả những
cách chào hỏi ung dung và
cách thức ăn nói trịnh trọng, những
qui phạm về nghệ thuật
và cư xử, cùng với việc xả
thân của người vợ, của
tôi tớ, và của con trẻ, tôi hiểu ra rằng võ sĩ đạo
đã thành tín điều phổ biến và tập
quán cư xử hằng ngày của
tất cả giai cấp thượng
lưu sống trong
thành thị và ở địa phương. Đó là trường học
sống động của tư
tưởng và sinh hoạt, ở đó thiếu
niên, thiếu nữ đều được
huấn luyện như nhau. Tôi đã nhìn bằng con mắt
của mình những gì mà Tiến sĩ Nitobe đã thừa hưởng như
một di sản, đã hít vào mũi mình và viết về nó một
cách tao nhã và mạnh mẽ, với sự
am hiểu sâu xa, với cái nhìn rộng rãi, thấu đáo. Chế độ phong kiến
của Nhật Bản “đã biến
mất ra ngoài tầm nhìn” của người biện
hộ tin ở nó nhất và có năng lực
giải thích về nó nhất. Đối
với ông ấy, đó là mùi hương phảng phất. Đối với
tôi đó là “cây và là hoa của
ánh sáng”.
Nhờ tôi
đã sống dưới chế độ
phong kiến, mẹ đẻ của
võ sĩ đạo, và chứng kiến cái chết
của nó, cho nên tôi có thể trở thành nhân chứng
nói rằng tất cả những
điều mà Tiến sĩ Nitobe miêu tả, nay vẫn là sự
thật về bản chất
và những phân tích và tổng quát hóa của ông là trung thực. Với ngọn
bút tài tình của mình, ông
đã tái hiện màu sắc của bức
tranh phản ánh lộng lẫy văn học
Nhật Bản trong một ngàn năm. Võ sĩ đạo đã tiến hóa và trưởng
thành trong thời gian một ngàn năm, và tác giả đã ghi lại một cách đáng yêu những
tinh hoa trang điểm con đường mà hàng triệu đồng bào cao quí của
ông ta đã dẫm lên.
Nghiên cứu
phê phán chỉ khiến cảm giác của
chính tôi về năng lực và giá trị của võ sĩ đạo
đối với quốc dân Nhật
Bản sâu xa hơn. Ai muốn
hiểu Nhật Bản của
thế kỉ hai mươi
thì cần phải biết cái rễ
của nó trong mảnh đất quá khứ.
Bây giờ không chỉ người ngoại
quốc mà ngay chính người Nhật hiện
nay cũng không thể thấy, nhưng
nhà nghiên cứu sẽ hiểu được
kết quả của ngày hôm nay từ
sức mạnh được tích tụ
trong những thời đại đã qua. Nhật
Bản ngày nay đào lấy động lực
cho chiến tranh và hòa bình
của mình từ những lớp
đất do ánh sáng mặt trời xa xưa tạo
nên. Tất cả những cảm
giác về tinh thần của những
người được võ sĩ đạo nuôi dưỡng vẫn bén nhạy.
Cục kết tinh đã tan mềm trong tách, nhưng hương thơm ngọt
ngào vẫn tiếp tục làm vui lòng người.
Nói ngắn gọn, võ sĩ đạo đã tuân theo điều luật cao hơn do Người mà chính người
giải thích của nó đã cung kính và nhìn nhận là Chúa phát biểu - “Một hạt
lúa mạch rơi xuống đất, nếu không chết
thì cứ nằm ở đó một
mình; nhưng nếu
chết thì hãy sinh thêm nhiều hạt”.
Tiến sĩ
Nitobe đã lí tưởng hóa võ
sĩ đạo ư? Tốt hơn là chúng ta nên hỏi,
nếu không làm như vậy ông có chịu
được không? Ông gọi mình là “bị cáo”. Ở bất
cứ giáo lí, tín điều, và hệ thống
nào, thí dụ và giảng giải sẽ
thay đổi cùng với sự bành trướng
của lí tưởng. Sự điều
hòa được tích tụ dần và từ
từ đạt được. Đó là một
nguyên tắc. Võ sĩ đạo không bao giờ tới được
mục tiêu cuối cùng. Võ sĩ đạo đã quá sôi nổi, và cuối cùng nó đã chết nhưng
chết trong vẻ đẹp và sức
mạnh. Xung đột giữa chuyển
động của thế giới
và chế độ phong kiến của Nhật
Bản - cái tên mà chúng tôi
dành cho những sự kiện và những
ảnh hưởng dồn dập
sau khi Perry và Harris đến
Nhật - đã không làm cho võ
sĩ đạo biến thành một xác ướp, mà vẫn
là một linh hồn còn sống. Võ sĩ đạo
đúng thật là tinh thần đầy sức
sống của nhân loại. Thế rồi
cái nhỏ sẽ được cái lớn
ban phước. Theo những tiền lệ
cao quí của mình, Nhật Bản đã tiếp
nhận và sau đó đã đồng hóa những điều tốt
nhất mà thế giới cung hiến
mà không làm mất cái tốt nhất trong lịch
sử và văn minh của mình. Nhờ đó Nhật Bản
đã thành nước duy nhất có cơ hội
ban phước cho châu Á và nhân
loại và Nhật Bản đã đường
đường nắm bắt cơ
hội này - “phạm vi càng rộng, càng mạnh hơn”.
Ngày nay, Nhật Bản không chỉ đem hoa lá, tranh ảnh, và những vật đẹp
đẽ khác của mình làm cho vườn hoa, hoặc nghệ thuật,
hoặc nhà cửa của chúng ta có được
những “trò tiêu khiển trong chốc lát hay là thắng lợi vĩnh viễn”,
mà Nhật Bản còn đến với
chúng ta với hai tay đầy những tặng
vật của khoa học tự nhiên, của
vệ sinh công cộng, hay những bài học về hòa bình và chiến
tranh.
Luận giải của tác giả
trong quyển sách này không
phải chỉ là lời biện
hộ hay khuyên bảo dành cho bị cáo, mà tác giả còn có khả năng chỉ bảo
chúng ta với
tư cách là người dự ngôn, là gia chủ
khôn ngoan biết nhiều việc mới
và cũ. Không ai ở Nhật Bản có thể
bằng tác giả trong việc kết hợp
nhịp nhàng những giáo huấn và thực hành của
võ sĩ đạo với cuộc sống
và sinh hoạt, với lao động và công việc,
với sự khéo léo của đôi tay và ngòi bút, với canh tác đất đai và khai
hóa linh hồn. Là người lớn lên và thành danh trong Nhật Bản cũ, tiến
sĩ Nitobe đích thực là một người đã tạo
ra Nhật Bản mới. Ở
Đài Loan, vùng đất mới của Nhật
Bản, cũng như ở Kyoto, tiến
sĩ được biết như là một
học giả, một người
thực hành, tinh thông khoa
học tối tân và học thức tối
cổ.
Quyển sách
mỏng về võ sĩ đạo này không chỉ là một thông điệp
quan trọng đến những quốc
dân thuộc hệ Anglo - Saxon. Đây còn là một cống hiến
đáng chú ý đối với việc giải
quyết vấn đề lớn
nhất của thế kỉ
này - sự hòa hợp và thuần nhất giữa
Đông và Tây. Xưa nay có nhiều nền
văn minh: trong một thế giới tốt
đẹp hơn sắp tới, chỉ nên có một
nền văn minh. Danh từ Đông phương và Tây phương, cùng với ý nghĩa đầy
ngu dốt và vô lễ đối với
nhau, dần dần trở thành những
cái của quá khứ. Nhật Bản
giờ đây đã dần dần có tác động
như một thế lực
không thể cưỡng được, một
vế trung gian đủ tài năng điều hòa giữa trí tuệ và chủ nghĩa tập
đoàn của Á châu, giữa sức mạnh
và chủ nghĩa cá nhân của Âu - Mỹ.
Tinh thông học
vấn cổ kim, có tri thức sâu rộng về
văn học thế giới, tiến
sĩ Nitobe chứng tỏ mình thích hợp tuyệt diệu
với việc làm này. Ông đích thực là người giảng
giải và là người hòa giải. Ông không cần vả lại
ông cũng không biện giải thái độ của mình đối
với Chúa, người mà ông đã trung thành đi theo
từ lâu. Học giả quen thuộc
với con đường của Thánh Linh, với
lịch sử của nhân loại
được người Bạn Tuyệt
Đối của con người dẫn dắt,
sẽ phải phân biệt đâu là lời dạy của
đấng Sáng Lập và những kinh điển
chính gốc, với đâu là những thêu dệt thêm bớt của giáo hội,
của dân tộc, hoặc để
hợp lí hóa. Giáo lí cho rằng mỗi dân tộc
đều có “Cựu ước”, theo ám chỉ
trong lời tựa của tác giả,
là lời dạy của Chúa người
đã đến không phải để phá hoại
mà là để thi hành trọn vẹn giáo lí này. Ngay ở Nhật
Bản, nếu đạo Cơ
đốc tháo gỡ hình dáng và bao bì ngoại quốc của
mình, từ bỏ việc mình là tác phẩm
dị quốc thì chắc chắn sẽ
bám rễ sâu xuống lòng đất nơi
võ sĩ đạo đã trưởng thành. Cởi bỏ những
thứ như dây thắt lưng và quân phục ngoại quốc,
giáo hội Cơ đốc chắc
chắn sẽ thành không khí, biến thành cái của bản xứ.
William Elliot Griffis
Ithaca, tháng 5 năm 1905

