Việt sử giai thoại (Tập 6) - Chương 57 - 60
57 - VŨ DUY CHÍ VỚI LỜI CAN NGĂN CHÚA
TRỊNH TẠC
Vũ Duy Chí người xã Mộ
Trạch, huyện Đường An, sinh và mất năm nào không rõ, chỉ biết ông từng làm quan
dưới thời vua Lê Huyền Tông (1662 - 1671) và chúa Trịnh Tạc (1657 - 1682). Năm
1664, Vũ Duy Chí được trao chức Thượng thư Bộ binh và đến năm Kỉ Dậu (1669) thì
được dự bàn các việc của phủ Chúa. Bởi được chúa Trịnh Tạc đặc biệt ưu ái, hoạn
lộ của Vũ Duy Chí luôn rộng mở thênh thang, và điều này đã khiến cho bá quan
không khỏi dị nghị. Nhưng, Vũ Duy Chí có thực xứng với chức tước hay không?
Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, quyển
33, tờ 27) chép rằng:
“Duy Chí là người kín đáo,
làm việc có cân nhắc, tính toán cẩn thận, rất thông hiểu việc trị dân. Đã thế,
ông lại là người có văn học, cho nên, ngay từ khi còn là Thế Tử, Trịnh Tạc đã
có lòng tin cẩn và yêu mến ông. Duy Chí được thăng dần đến chức Thượng thư,
tước Phương Quận công, đến nay, Duy Chí lại được cùng với Đăng Tuyển (tức Trần
Đăng Tuyển, người xã Hoàng Mai, huyện Yên Dũng, nay thuộc Hà Nội, đỗ Tiến sĩ
năm 1643, nguyên Thượng thư bộ Hộ - ND) và Duy Hiệu (tức Lê Duy Hiệu, nguyên
Thượng thư bộ Công - ND) vào trông coi các việc trong phủ Chúa. Có người bàn
luận về tư cách của Duy Chí, Trịnh Tạc bèn làm bài Luận giải nghi (luận
giải chỗ còn ngờ), mượn việc lâm của Tiêu (tức Tiêu Hà, danh thần Trung Quốc
đời Hán - ND), Tào (tức Tào Tham, cũng là danh thần Trung Quốc đời Hán - ND),
Phòng (tức Phòng Huyền Linh, danh thần Trung Quốc đời Đường - ND) và Đỗ (tức Đỗ
Như Hối, cũng là danh thần Trung Quốc đời Đường – ND) để làm sáng tỏ (việc cất
nhắc Vũ Duy Chí) và làm yên lòng quan lại.
Lúc Vũ Duy Chí làm việc
trong phủ Chúa, gặp tiết Nguyên đán, trăm quan vào chầu mừng vua Lê và chúa
Trịnh. Theo lệ, chầu Vua trước, vào phủ Chúa sau, và khi vào phủ Chúa thì mọi
người phải thay triều phục rồi mới làm lễ lạy mừng. Trịnh Tạc bắt trăm quan cứ
mặc nguyên triều phục. Duy Chí nói:
- Lễ mừng ở phủ Chúa nên dùng áo thanh cát mới
đúng, không thể làm trái phép cũ được.
Trịnh Tạc nghe vậy bèn thôi.
Bấy giờ, người ta bảo Duy Chí rất có phong độ của một bầy tôi biết can ngăn.”
Lời bàn: Sử cũ cho hay, Vũ Duy
Chí xuất thân Lại điển, nghĩa là làm quan được thăng dần chứ không phải là xuất
thân khoa bảng tức là nhờ đỗ cao mà được tuyển dụng. Sử cũ phân biệt là chuyện
của sử cũ, thiên hạ xét quan trước sau đều chỉ ở tài và đức mà thôi. Tài ở đây
là tài xét việc, đức ở đây là đức thương dân. Mảnh bằng tài đức vô hình mà
thiên hạ cấp, xem ra còn ngàn lần giá trị hơn mảnh bằng của các trường thi. Vũ
Duy Chí tuy chưa được thiên hạ cấp cho mảnh bằng tài đức vô hình ấy, nhưng ít
ra thì ông cũng được chúa Trịnh Tạc xét tài không phải từ học vị mà từ công
việc cụ thể ông đã làm. Bài Luận giải nghi quả đúng là bài
chuyển tải chút lòng đặc biệt ưu ái mà Chúa đã dành riêng cho ông vậy. Cảm cái
nghĩa ấy, nếu Vũ Duy Chí có dốc lòng cúc cung tận tụy với Chúa, coi mệnh Chúa
là... mệnh trời, lẽ cũng dễ hiểu thôi.
Lời can ngăn chúa Trịnh Tạc
mà Vũ Duy Chí đã nói là lời nghiêm nghị và thẳng thắn, đáng làm mẫu mực cho một
thời chăng? Hẳn nhiên là chưa đến mức ấy, song, trước là chỗ thân tình thuở còn
chưa tức vị, sau là chỗ tương hợp chúa tôi tâm đắc. Vũ Duy Chí vẫn chẳng hề vì
nặng ơn nghĩa riêng mà coi thường quốc lễ, đáng khen thay!
Vua chúa xưa vẫn thường cầu
lời nói thẳng, miễn là lời nói thẳng ấy không làm ảnh hường gì đến ngôi vị đế
vương. Có được lời như lời của Vũ Duy Chí, nào khác gì được thêm một vật lạ để
trang trí trong cung. Hóa ra, can ngăn người khác mà khôn khéo thì kẻ thu lợi
đôi khi lại là chính mình. Các quan thời ấy khen Vũ Duy Chí là người có được
phong độ của bầy tôi biết can ngăn. Thật chí phải.
Nghe đâu về sau, có người
học đòi mà can chúa nên nghỉ ngơi để lo dưỡng sức vì sức khỏe của chúa cũng là
tài sàn của xã tắc, phung phí vào sự cần mẫn thái quá, thiệt cho trăm họ lắm
thay!
58 – TRỊNH TẠC VÀ CUỘC TRANH BIỆN VỚI
SỨ GIẢ NHÀ THANH NĂM 1669
Từ năm 1592, cuộc chiến
tranh Nam - Bắc triều về cơ bản đã chấm dứt. Cầm đầu Bắc triều là họ Mạc
phải bôn tẩu khắp đó đây, tuy cũng có gây cho Nam triều chút ít khó
khăn, nhưng nói chung, cơ hội phục hồi hoàn toàn không còn nữa. Một bộ phận con
cháu của họ Mạc đã chạy sang Trung Quốc, lúc đầu thì cầu cứu nhà Minh đã tàn
tạ, sau thì bám lấy nhà Thanh vừa được dựng lên. Bấy giờ, triều đình Mãn Thanh
cũng muốn lợi dụng con bài họ Mạc để tiến hành những mưu đồ chính trị lâu dài ở
nước ta, bởi vậy, bang giao giữa đôi bên cũng khá căng thẳng. Năm Kỉ Dậu
(1669), vua Mãn Thanh là Khang Hy sai Lý Tiên Căn và Dương Doãn Kiệt sang nước
ta. Một cuộc tranh biện gay gắt giữa sứ giả của Mãn Thanh với triều đình vua Lê
Huyền Tông và chúa Trịnh Tạc đã nổ ra. Sách Khâm định Việt sử thông
giám cương mục (Chính biên, quyển 33, tờ 25 và 26) viết:
“Trước đây, Mạc Kính Diệu
đầu hàng nhà Thanh, nhưng chưa kịp nhận phong tước thì đã mất. Con của (Mạc)
Kính Diệu là (Mạc) Kính Vũ nối nghiệp cha, tiếm xưng niên hiệu là Thuận Đức,
lấy tên giả là Nguyên Thanh. Nhà Thanh trao cho (Mạc Kính Vũ) chức An Nam Đô
thống sứ, cho theo như hiệu cũ mà nhà Minh đã phong cho (Mạc) Đăng Dung thuở
xưa. Đến đây, quan quân (chỉ quan quân của vua Lê, chúa Trịnh - ND) đã thu phục
được Cao Bằng và sai Vũ Vinh Tiến làm Đốc trấn để cai trị. Kính Vũ chạy sang
nhà Thanh kêu cứu thảm thiết. Quan Tổng đốc Lưỡng Quảng (của nhà Thanh) đem
việc này tâu lên. Vua Thanh cho Kính Vũ được đầu hàng và hạ lệnh cho Kính Vũ
đến ở tạm tại Nam Ninh (Trung Quốc - ND) rồi ra đặc chỉ cho quan Nội viện Thị
độc là Lý Tiên Căn và quan Binh bộ Chủ sự là Dương Doãn Kiệt sang nước ta để dụ
báo triều đình, bắt phải trả lại đất Cao Bằng cho họ Mạc.
Tháng giêng năm ấy, sứ nhà
Thanh đến Thăng Long, triều đình nhà Lê dùng đủ lí lẽ để biện bác. Phải hơn
mười ngày mới có thể tuyên bố sắc văn, sau lại bàn cho họ Mạc giữ một châu
Thạch Lâm (nay thuộc về Cao Bằng - ND), nhưng bọn Lý Tiên Căn kiên quyết không
chịu, thành ra phải bàn cãi hơn bốn mươi ngày. Sau, (Trịnh) Tạc nói:
- Thờ nước lớn thì phải kính theo mệnh lệnh!
Lấy cớ đó, (Trịnh) Tạc tâu
Vua nên gắng theo lời. Triều đình bèn lấy bốn châu thuộc Cao Bằng (là Thạch
Lâm, Quảng Yên, Thượng Lang và Hạ Lang - ND) cho Kính Vũ, và triệu (Vũ) Vinh Tiến
(ở Cao Bằng) về. Sau đó, Vinh Tiến chết.”
Lời bàn: Đầu năm 1594, sau bao
phen thất bại nhục nhã. Mạc Ngọc Liễn mệt mỏi, mang bệnh rồi mất. Trước phút
lâm chung, Mạc Ngọc Liễn có để lại di chúc, khuyên con cháu nhà Mạc không nên
cầu cứu nhà Minh, càng không nên rước quân Minh về nước. Tiếc thay, lời di chúc
đúng đắn đó chẳng được nghe theo. Việc làm của Mạc Kính Vũ lúc này, dẫu muốn
hay không thì cũng đã xúc phạm tới tổ tiên của chính Mạc Kính Vũ rồi vậy.
Vật đổi sao dời, hết triều
Minh lại đến triều Thanh cai trị Trung Quốc, nhưng tâm địa của kẻ cầm quyển thì
trước sau vẫn là một đó thôi. Nắm ngay lấy con bài họ Mạc, Hoàng đế Khang Hy
muốn gì, khỏi bàn cũng đã rõ. Gớm thay!
Triều đình vua Lê - chúa
Trịnh, đã cất công biện bác lần đầu những mười ngày, lần sau lại kéo dài đến
hơn bốn mươi ngày nữa, vậy mà rốt cuộc vẫn phải chịu chào thua. Cái họ thiếu
không phải là lí lẽ mà là sức mạnh và bản lĩnh. “Thờ nước lớn thì phải kính
theo mệnh lệnh!” Lời bạc nhược ấy của Trình Tạc đã khiến cho cuộc tranh biện
đang hồi gay cấn phải chấm dứt một cách mau chóng và buồn bã. Trịnh Tạc vẫn còn
chút lòng trắc ẩn nào đấy với họ Mạc chăng? Hẳn nhiên là không. Song, đạo thờ
nước lớn trong tâm Trịnh Tạc mạnh quá, nếu không có lời ngăn chặn của bá quan,
giả thử sứ giả nhà Thanh có đòi thêm điều gì nữa, ắt Trịnh Tạc cũng xuôi lòng
đó thôi. Mạc Kính Vũ được hưởng phúc bởi đạo thờ nước lớn của Trịnh Tạc.
Có điều phàm là kẻ đội trên,
ai mà chẳng đạp dưới, chính sự thời này đổ nát, có gì là lạ đâu!
59 - CUỘC BẠO LOẠN ĐẦU TIÊN CỦA ƯU
BINH
Bởi cuộc hỗn chiến kéo dài
triền miên, các guồng máy chính quyền ở nước ta trong khoảng thế kỉ XVI và XVII
đã thực hiện chính sách bắt lính rất gắt gao. Theo Lịch triều hiến
chương loại chí (Binh chế chí) của Phan Huy Chú, lính của Nam triều
được chia làm hai loại. Loại tuyển ở vùng Thanh Nghệ (vùng lập nghiệp của Nam
triều) gọi là ưu binh, loại tuyển từ đất tứ trấn (tức bốn trấn
thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ ngày nay, vốn là vùng bị Bắc triều chiếm giữ khá
lâu dài), thì gọi là nhất binh. Tuy đều cùng là lính của Nam
triều nhưng ưu binh bao giờ cũng được hưởng chế độ
đãi ngộ khá hơn nhất binh. Điều này cũng dễ hiểu, bởi lẽ ưu
binh được thành lập sớm hơn, từng trải trận mạc nhiều hơn, và do đó,
cũng có nhiều công lao hơn. Chế độ đãi ngộ này, cùng với một loạt những nguyên
nhân khác, đã dần dần biến ưu binh thành kiêu
binh. Họ ngang tàng càn rỡ, trên thì coi thường vua chúa và bá quan
văn võ, dưới thì ức hiếp nhân dân, chính sự vốn đã rối ren lại càng thêm rối
ren hơn nữa. Năm Giáp Dần (1674), ưu binh đã thực hiện cuộc
bạo loạn đầu tiên, khiến cho kinh thành Thăng Long phải một phen điêu đứng.
Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, quyển
33, tờ 36 và 37) viết:
"Lúc bấy giờ, ưu binh
Thanh Nghệ cậy có công lao nên sinh ra kiêu ngạo và phóng túng. (Nguyễn) Quốc
Trinh (người làng Nguyệt Áng huyện Thanh Trì, nay thuộc ngoại thành Hà Nội, đỗ
Trạng nguyên khoa Kỉ Hợi, 1659. Chữ Trinh thường bị chép nhầm thành
chữ Khôi) cùng với (Phạm) Công Trứ (Người xã Liêu
Xuyên, huyện Đường Hào, thuộc tỉnh Hải Hưng cũ, đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Thìn, 1628)
bàn cách kìm hãm bớt sự ngông cuồng của chúng, vì thế, ưu binh không bằng lòng.
Đúng lúc ấy, các quan là Phạm Kiêm Toàn và Lê Hiệu vì mắc tội, bị giáng chức
nên có ý bất mãn. Hai người nhân đà bất bình của ưu binh, nói khích thêm vào,
khiến họ bị kích động, reo hò ầm ỹ, đón đường giết chết (Nguyễn) Quốc Trinh,
rồi xông đến cướp phá nhà (Phạm) Công Trứ. Công Trứ phải chạy trốn ra ngoài mới
thoát được nạn. Trịnh Tạc sợ quá, sai quan đi phủ dụ và cấp tiền cấp bạc cho
họ, bấy giờ, họ mới tạm chịu ngưng.
(Trịnh) Tạc mời (Phạm) Công
Trứ vào trong phủ, ban cho một ít vàng để an ủi, sau đó, (Trịnh) Tạc sai bắt
giết ba tên lính cầm đầu cuộc nổi loạn để tế (Nguyễn) Quốc Trinh, truy tặng
(Nguyễn) Quốc Trinh chức Binh bộ Thượng thư, tức Tri Quận công, lại đặt cho tên
thụy là Cương Trung và cho lục dụng con cháu.
Khi làm quan ở triều,
(Nguyễn) Quốc Trinh là người khảng khái dám nói điều chưa phải (của vua và chúa
cùng các quan), nay chết trong đám loạn quân nên ai cũng thương tiếc. Còn bọn
(Phạm) Kiêm Toàn và Lê Hiệu cũng bị trị tội vì có dự mưu chung với loạn quân.”
Lời bàn: Nổi giận giết chết cả
đại thần, ưu binh quả có làm điều không phải, nhưng có thế, thời loạn mới ra
thời loạn đó thôi. Trách họ không biết giữ kỉ cương và phép nước chăng? Thì
đành vậy, nhưng kỉ cương và phép nước đã bị vua chúa xé nát đã lâu, còn đâu mà
bảo họ giữ. Lẽ thường, hễ có vay là có trả, phủ Chúa và cung Vua được xây bằng
xương máu của họ, trong phút nổi giận không kiềm chế được, họ lấy lại có chừng
ấy, nào thấm tháp gì đâu. Kể thì họ cũng có lỗi vì đã lấy sai địa chỉ, nhưng
biết sao hơn được, lính mà.
Khá thương cho Nguyễn Quốc
Trinh, hoạn lộ đang khi rộng mở, chưa kịp đắc chí đã phải đầu rơi máu chảy,
ngậm hận lớn mà về với suối vàng. Cũng khá thương cho Phạm Công Trứ, lấy cớ cao
niên để xin trí sĩ mà vẫn không yên, bị triệu ra nhận chứ, chưa được một năm đã
phải hú vía vì loạn ưu binh, không nhờ phúc tổ và chút tài chạy lánh nạn, ắt đã
về âm phủ cùng lượt với Nguyễn Quốc Trinh rồi!
Chúa Trịnh Tạc phải cậy nhờ
đến tiền bạc mới có thể khiến cho quân sĩ tạm yên. Thế mới biết, khi mà đạo
nghĩa bị chà đạp, chỉ có tiền mới xoay chuyển được tất cả. Ôi, thương thay
cũng một kiếp người!
60 - BUỒN THAY, CHƯ VỊ ĐẠI NHÂN!
Năm 1683, khi cảm thấy không
thể lợi dụng con bài chính trị là phe đảng họ Mạc được nữa, nhà Mãn Thanh liền
bắt tất cả lực lượng này đem trả cho vua Lê - chúa Trịnh. Tiếc thay, sự kiện có
phần tích cực rất đáng được ghi nhận ấy lại diễn ra một cách không bình thường.
Không ít chư vị đại nhân của cả đôi bên để lại tiếng xấu khó bề bỏ qua được khi
vâng mệnh của triều đình thực thi công vụ này. Buồn thay!
Sách Khâm định Việt
sử thông giám cương mục (Chính biên, quyển 34, tờ 13 và 14) chép sự kiện
này như sau:
"Tháng sáu năm trước
(năm 1682 - ND), vua nhà Thanh hạ lệnh cho các quan ở Quảng Tây (Trung Quốc - ND)
phải trao trả tù binh, gồm tất cả những người nhà Mạc là bọn Kính Liêu. Quan
Tuần phủ tỉnh Quảng Tây là Thích Dục liền báo tin này cho ta hay. Triều đình
sai quan Phó Đô ngự sử là Vũ Duy Đoán và Trấn thủ Lạng Sơn là hoạn quan Thân
Đức Tài, cùng đến cửa ải biên giới để nhận tù binh.
Khi trao đổi công văn, tên
của Duy Đoán đứng dưới tên của Đức Tài, đến nay (tháng 6 năm 1683 - ND), triều
đình lại sai Vũ Duy Đoán và Vũ Công Đạo đi nhận tù binh. Vũ Duy Đoán đã thăng
chức Thượng Thư, còn Vũ Công Đạo thì chỉ là quan Đô ngự sử, nhưng chúa Trịnh
Căn lại muốn giữ nguyên thứ tự tên của Vũ Duy Đoán như trong công văn cũ. Vũ
Duy Đoán khảng khái nói:
- Tôi lấy làm xấu hổ vì chức Thượng thư của
tôi chẳng qua là Chúa đặt ra cốt cho đủ lệ bộ mà thôi. Những tưởng, Vương
thượng coi Nam nha (chỉ các quan văn võ nói chung - ND) cao
quý hơn hẳn Hoàng môn (chỉ hoạn quan - ND), nào ngờ giờ
đây Hoàng môn lại ở trên Nam nha, cho nên tôi
không dám vâng mệnh.
Vũ Công Đạo cũng cố biện
bác, nói là không nên làm (trái thứ bậc) như vậy. (Trịnh) Căn giận lắm, bèn bãi
chức của cả hai người rồi ra lệnh cho quan Bồi tụng là Nguyễn Quai cùng với các
quan Cấp sự trung là Trần Thế Vinh, Đặng Đình Tướng và (Trấn thủ Lạng Sơn là
hoạn quan) Thân Đức Tài đi thay.
Quan Thông phán ở Nam Ninh
(Trung Quốc) là Vương Quốc Trinh được triều Mãn Thanh ủy thác việc trao trả tù
binh, muốn mọi việc sẽ được tiến hành ở cửa Thủy Khẩu (Cao Bằng). Hắn làm sẵn
nhà ở nơi đó để đợi phái bộ của ta. Bọn Nguyễn Quai viện lẽ rằng, Cao Bằng
không phải là nơi giao nhận, nên không thể theo. (Vương) Quốc Trinh trong lòng
thì căm tức nhưng vẫn phải gượng nghe theo mà đến trấn Nam Quan. Đến nơi, hắn thả
cho lính của hắn đánh bừa vào quân ta, đâm thủng cả hai lần áo cừu của (Đặng)
Đình Tướng, đã thế lại còn đòi nạp phạt 5.500 lạng bạc về khoản di chuyển hành
lí (từ Cao Bằng sang Nam Quan).
Số tù binh người nhà Mạc mà
họ trao trả, lớn nhỏ tổng cộng là 350 người. (Thân) Đức Tài kiểm xét xong, phân
phối cho về ở lẫn với dân Lạng Sơn, cốt cho họ yên phận, riêng bọn Kính Liêu
(là bọn đầu sỏ) gồm cả thảy 121 người thì dẫn giải về kinh, dâng ở dưới cửa
khuyết. Nhà vua ngự đến điện Càn Nguyên để nhận tù binh, sau lại sai dẫn chúng
đến phủ Chúa để chúng chịu tội. Tất cả bọn họ đều được tha, riêng bọn Kính
Liêu, tổng cộng ba người, còn được triều đình trao cho quan chức, số còn lại,
phân phối cho đi ở lẫn với dân các nơi trong xứ, hàng năm giúp đỡ cho họ chút
ít vải vóc và tiền bạc.
Sau, triều đình xét thấy
(Đặng) Đình Tướng đưa số bạc cho (Vương) Quốc Trinh của nhà Thanh nhiều quá nên
giáng bớt một trật, Nguyễn Quai và (Trần) Thế Vinh vì có bệnh, không dự vào
việc họp bàn giao bạc cho (Vương) Quốc Trinh nên bị phạt tiền nhiều ít có khác
nhau.
Xong, triều đình đưa thư
sang nhà Thanh nói rõ tình trạng yêu sách nhũng nhiễu và thiếu lễ độ của bọn
(Vương) Quốc Trinh. Viên Tổng đốc Lưỡng Quảng (của nhà Thanh) là Ngô Hưng Tộ
xét hỏi và dâng án (Vương) Quốc Trinh về triều đình, khiến Quốc Trinh bị khép
vào tội trảm giam hậu (bị xử tội chém, nhưng còn giam lại để sau có thể xét lại
- ND), còn số bạc mà Quốc Trinh thu được đều bị đem sung công.”
Lời bàn: Quan Thượng thư là Vũ
Duy Đoán trọng vị thế của mình hơn cồng việc của quốc gia, đành rằng trước đó
Trịnh Căn cũng có lỗi, nhưng bãi chức của Vũ Duy Đoán là phải lắm. Vũ Công Đạo
may nhờ Vũ Duy Đoán được thăng chức Thượng thư nên mới được giữ chức Đô ngự sử
của Vũ Duy Đoán trước đó, bởi vậy, nói lời ủng hộ Vũ Duy Đoán là lẽ tự nhiên,
và tất nhiên, bị bãi chúc cũng là chí phải.
Chỉ mỗi việc đi nhận một đám
tù binh mà quan Thượng thư Tiến sĩ là Vũ Duy Đoán, quan Đô ngự sử là Vũ Công
Đạo bị bãi chức, quan Bồi tụng Tiến sĩ là Nguyễn Quai, quan Cấp sự trung Tiến
sĩ là Đặng Đình Tướng, cùng chư vị quan lớn khác, kẻ bị giáng, người bị phạt,
lạ thay! Nghe đâu đương thời, có người đã sắp hương án, lạy riêng chư vi Tiến
sĩ mỗi người trăm lạy, kính thỉnh chư vị cất kĩ mảnh bằng, kẻo nó bốc mùi, làm
ô uế cả núi rừng biên cương và đất đai xã tắc.
Quan Cấp sự trung là Tiến sĩ
Đặng Đình Tướng bị đâm suýt chết mã vẫn ngoan ngoãn nạp tiền phạt cho kẻ vô lễ
đâm mình, xin kính bẩm, rằng chẳng hay khí phách của ngài đáng giá bao nhiêu?
Khéo góp sao, thiên triều
cũng có Vương Quốc Trinh. Thiên triều khép ngài vào tội trảm giam hậu, nhưng
ngài đã tự giết ngài từ trước rồi, phải không?
Ôi, buồn thay, chư vi đại
nhân!

