Mảnh gốm vỡ - Chương 04
Chương 4
Sáng hôm sau, trước lúc
chuông chùa đổ, Mộc Nhĩ đã có mặt ở cửa nhà ông thợ Min. Đúng như nó trông chờ,
bà vợ ông Min ra mở cửa cho nó.
Nó đưa cho bà cái bát làm
từ quả bầu khô và lễ phép cúi đầu.
“Hôm nay cháu mang bát
của cháu tới, để bớt phiền cho sư mẫu ạ,” Mộc Nhĩ thưa. Nó định bụng chỉ ăn một
nửa phần cơm của mình rồi đem giấu cái bát ở chỗ nào đó, làm việc xong sẽ mang
nửa còn lại về nhà cho bác Sếu. Bà Min gật đầu, nhận cái bát từ tay nó.
Thằng bé nhận thấy ánh mắt bối rối của bà. Hôm qua, Mộc Nhĩ trả lại cho bà cái
bát và đôi đũa sau khi đã rửa và lau chùi sạch sẽ; rõ ràng nó đâu cần phải mang
bát của nó đến làm gì.
Mặc cảm tội lỗi khiến Mộc Nhĩ phải quay đi. Nhưng nó
tin rằng mình không làm gì xúc phạm đến bà. Mình thật lòng không lừa gạt
ai cả, nó nghĩ bụng. Mà mình cũng đâu xin thêm thức ăn... Với bà ấy,
chuyện này cũng chẳng có chút khác biệt nào...
Lại đẩy xe đi lấy đất sét
cho ông chủ. Đến xế chiều, nó bắt đầu quen với công việc. Nó học được mẹo đào
đất bằng mai - nhấn vừa đủ cho một lát xắn gọn gàng, không quá sâu đến mức chôn
luôn lưỡi mai trong lớp đất dẻo. Công việc chạy nhanh hơn, những bắp thịt ở
lưng và ở cánh tay đã cứng cáp
hơn sau những ngày đốn củi nên không còn bị đau nữa.
Mộc Nhĩ đẩy xe đất sét
cuối cùng về nhà ông Min. Như thường lệ, cuối ngày không thấy ông thợ gốm đâu.
Mộc Nhĩ dựng xe dưới mái hiên và đi lấy nửa phần cơm trưa còn lại của nó.
Mộc Nhĩ nín thở. Cái bát
không còn ở chỗ nó cất giấu
dưới gốc cây bào đồng nữa. Nó sục sạo xung quanh gốc cây. Nó đã bọc cái bát
trong một miếng vải và lấy một hòn đá chèn lên cơ mà. Miếng vải đây rồi, vắt
qua một lùm cây lúp xúp và bị rách - còn kia, cách vài bước chân và ở bên trong
bụi cây, là cái bát.
Cái bát rỗng không. Không
chỉ rỗng, mà còn sạch bóng. Con thú hoang nào đó...
Thất vọng, uất ức, Mộc
Nhĩ rú lên, nghe như tiếng tru của loài sói. Rồi nó nhặt cái bát lên, lấy hết
sức ném mạnh vào bụi cây.
“Ái!” Tiếng kêu hoảng hốt
vọng ra từ đâu đó sau lùm cây khiến Mộc Nhĩ khiếp đảm, khuỵu chân suýt ngã. Bà
Min ló ra từ sau bụi cây, một tay cầm cái bát, tay kia cầm cái rổ đầy quả mọng
mà bà vừa hái ở trên núi.
Bà mỉm cười dịu dàng đưa
cái bát cho Mộc Nhĩ. “Cái bát này hẳn muốn thế chỗ cái nón của ta,” bà nói.
“Một cái bát biết bay! Chả trách cháu thích nó hơn cái bát của ta.” Mộc Nhĩ bối
rối và ngượng ngùng quá nên chỉ chực gật đầu đáp lại. Tuy vậy, nó đã kịp hiểu
ra mọi chuyện, chuyển cái gật đầu thành một cái cúi chào lễ phép rồi nhanh chân
lủi mất.
Lại một lần nữa nó không
thể chia sẻ phần ăn của mình cho bác Sếu. Và tệ hơn cả là nó đã ném bát suýt
trúng đầu sư mẫu.
Mộc Nhĩ làm việc cho ông
Min tới nay tuy mới được hai tháng, nhưng cứ như đã một năm hay thậm chí lâu
hơn nữa. Có những lúc khó khăn lắm nó mới nhớ nổi cuộc sống của mình trước kia
ra sao. Ngày tháng cứ thế trôi qua đều đều, càng ngày nó càng cảm thấy thoải
mái, tự tin hơn. Thức dậy từ rất sớm, làm việc cho ông Min, chén một nửa phần
cơm trưa, lại làm việc, sau đó trở về cây cầu vào lúc sẩm tối.
Để tránh lũ thú hoang ăn
mất nửa phần cơm dành dụm trong lúc nó đang làm việc, Mộc Nhĩ đem giấu bát cơm
gần ngôi nhà hơn. Ở một góc xa trong sân nhà thầy, nó đào một cái hố chỉ đủ để
đặt cái bát vào, rồi tìm một phiến đá phẳng khá lớn ở gần đó làm nắp đậy. Bát
cơm không hề suy suyển kể từ khi nó giấu ở đấy. Từ đó trở đi, ngày nào nó cũng
có thể mang nửa phần cơm về cho bác Sếu.
Đó là điều làm Mộc Nhĩ
mãn nguyện nhất. Những bữa ăn bà Min dành cho nó tuy đạm bạc, nhưng bao giờ
cũng làm vui lòng người bạn già của nó. Tối nào bác Sếu cũng thích thú mở cái
gói bọc quả bầu khô như thể trong đó chứa ngọc ngà châu báu.
“Tối nay có đậu hũ,” bác
Sếu sẽ reo, đôi mắt sáng lên. “Cả kim chi dưa leo nữa chứ. Thực khéo chọn món.
Đậu hũ mềm như sữa đông, dưa leo thì giòn tan trong miệng. Của nhà người khác
đậu hũ nhạt thếch, dưa leo thì đắng ngắt. Bà này đúng là một nghệ nhân.”
Vài ngày sau khi nó bắt
đầu sử dụng chỗ giấu thức ăn mới, Mộc Nhĩ khám phá ra một điều kì lạ. Như
thường lệ, nó chén hết một nửa phần cơm trưa. Nhưng cuối ngày, lúc lấy cái bát
ra khỏi hố sau một ngày làm việc, tháo mảnh vải bọc ra xem lại thức ăn bên
trong, nó thấy cái bát lại đầy vun lên.
Mộc Nhĩ tròn mắt ngạc
nhiên. Nó nhìn về phía căn nhà, nhưng không thấy cả ông Min lẫn bà vợ. Thế là
từ đó, tối tối nó lại về nhà với một bát thức ăn đầy, đủ bữa tối cho cả nó và
bác Sếu.
Mộc Nhĩ bắt đầu được học
cách lọc đất sét. Một công việc khá buồn tẻ, nhưng nó rất thích thú.
Ở một chỗ cách khá xa nhà
ông thợ Min, gần con suối nước trong vắt, người ta đào một dãy hố nông rồi trải
vài lớp vải thô lót dưới lòng hố. Đất sét được cho vào một hố, trộn với nước
thành một thứ bùn sền sệt. Mộc Nhĩ dùng mái chèo gỗ quậy cho thật nhuyễn.
Sau đó, thứ nước bùn đặc
quánh này được múc sang hố bên cạnh qua một cái sàng để loại bỏ những hòn sỏi
nhỏ và rác rưởi. Cuối cùng, hỗn hợp được để lắng trong vài ngày, nước nổi lên
trên mặt sẽ được tháo ra theo đường ống hoặc tát cạn.
Lúc đó, ông Min sẽ thò
tay vốc lên những nắm đất sét tinh mịn và vân vê nó giữa những ngón tay. Mỗi
khi làm thế mắt ông thường nhắm lại, chắc là để cảm nhận đất được tốt hơn, Mộc
Nhĩ đoán vậy.
Nó không hỏi ông Min về
chuyện này, bởi nó biết ông không ưa nói nhiều trong lúc làm việc. Muốn gì, ông
chỉ quát vài tiếng cụt lủn. Cậu học trò phải đánh vật với những mệnh lệnh khó
như câu đố. Bằng cách xem ông Min và những người thợ gốm khác làm, rồi mày mò
một mình. Mộc Nhĩ không hiểu tại sao ông Min không giải thích công việc cặn kẽ
hơn. Những sai sót của nó thường tiêu tốn thời giờ quý báu hoặc phung phí đất
sét. Những lúc như vậy, ông Min quát tháo om sòm hoặc chì chiết dai dẳng. Mộc
Nhĩ chỉ biết cúi đầu nhìn chăm chăm vào ngón chân của mình. Nó thấy tủi hổ, và
có khi còn oán giận.
Nhưng kể từ hôm Mộc Nhĩ
làm vỡ cái hộp, ông Min không bao giờ đánh nó nữa. Thời gian đầu, mỗi khi bị la
rầy, Mộc Nhĩ luôn chắc mẩm sẽ bị ăn đòn. Trước đây, nó cũng thường bị đòn khi
đang bới rác. Tuy vậy, kể cả những lúc ông Min nổi cơn thịnh nộ, dù nóng máu
đến đâu, ông cũng không hề đánh nó.
Công việc khuấy, sàng,
lắng và tát nước ra ngoài lặp lại nhiều lần cho đến khi ông Min hài lòng với
chỗ đất sét lắng mới thôi. Điều đó còn phụ thuộc vào sản phẩm sắp tới sẽ là cái
gì. Nếu đất sét dành để làm một cái ấm cứng cáp dùng hằng ngày thì lắng một lần
là đủ. Nhưng với một cái lư hương trang trí tinh xảo do một nhà buôn giàu có
đặt làm để cúng chùa thì đất sét phải lắng hai hay thậm chí ba lần. Đất sét đã
qua sự kiểm nghiệm kĩ lưỡng của ông Min được vo thành những cục tròn lớn, sẵn
sàng lên bàn xoay.
Phần đất sét tinh túy còn
lại sau nhiều lần gạn lắng được dành để chế men ngọc bích. Với việc này, năm
bảy lần lắng lọc vẫn chưa đủ. Mộc Nhĩ nhiều phen muốn bật khóc và tuyệt vọng
đấm nắm tay vào tảng đất sét khi ông thầy bất ngờ ngoắt tay ra hiệu nó phải lọc
thêm lần nữa.
Đất sét dùng chế men được
trộn với nước và tro củi theo một tỷ lệ chuẩn xác. Cách pha trộn này hẳn là kết
quả của một sự tình cờ đầy may mắn từ thời nảo thời nào. Có thể trong một lần
nung nào đó tro bếp vô tình rớt lên mặt một chiếc bình tráng men thô ở trong lò
và để lại những vệt men màu ngọc bích trong suốt. Ngày nay thợ gốm sử dụng tro
than củi, mỗi người có công thức bí mật riêng, để tạo ra màu men đặc biệt.
Người thợ gốm nào cũng tự
hào về màu men của mình! Chưa có ai đưa ra một tên gọi thỏa đáng cho những sắc
độ ấy, vẫn biết là màu xanh lá cây đấy, nhưng bên dưới dường như vẩn lên
những đám mây mang màu của da trời, của khói, của sắc hoa violet[2], lúc nào cũng chuyển động xôn xao
khó nhận biết, tựa như mặt biển luôn biến đổi trong một ngày đầy mây. Những gam
màu khác biệt ấy kết hợp với nhau tuyệt khéo ở những chỗ lớp men được tráng dày
hơn một chút dọc những đường rạn hoặc những khoảng lồi lên của bề mặt lớp hoa
văn chạm trên sản phẩm. Thật vậy, một học giả nổi tiếng người Trung Quốc từng
có lần đưa ra danh sách mười hai tiểu kì quan thế giới - mười một trong số đó
là của Trung Quốc và kì quan thứ mười hai là màu men ngọc bích của gốm sứ Triều
Tiên! Ở làng Chulpo, đến trẻ con cũng biết điều này.
[2] Hoa violet: Một loại hoa bông nhỏ màu tím mọc ở
vùng khí hậu lạnh - ND.
Mộc Nhĩ đã có thể cảm
nhận được sự khác biệt giữa kết quả của lần lọc đất đầu tiên với kết quả của
lần lọc thứ ba chẳng hạn. Sau ba lần sàng lọc, đất sét láng mịn hơn trông thấy,
sờ vào có cảm giác êm mượt và nhẹ như lông tơ, trong khi dường như vẫn còn cái
gì lợn cợn sau lần lóng nước đầu tiên.
Nhưng từ lần lọc thứ tư
trở đi thì hầu như không có khác biệt nào cả - ít nhất là đối với Mộc Nhĩ. Nó
cũng nhắm mắt lại, nín thở và miết đất sét giữa những ngón tay, cố tìm xem có
gì khác giữa lần lọc thứ năm và thứ sáu. Ông thợ Min cảm nhận được cái gì vậy?
Tại sao nó lại không thấy gì hết?
Sư phụ Min không biểu lộ
một dấu hiệu hài lòng nào với công việc của học trò. Ông chỉ lẳng lặng cầm một
tảng đất sét lên, phăm phăm đi về nhà, để thằng bé ở lại tiếp tục công việc gạn
nước. Mộc Nhĩ đành bấm bụng nghĩ rằng thầy mình mới là người làm được một cái
gì đó với tảng đất sét ấy và chiếc bàn xoay.
Ngày trước, vểnh tai hóng
chuyện trong làng luôn là một tuyệt chiêu của Mộc Nhĩ. Chẳng hạn, tin tức về
một đám cưới có nghĩa là gia đình nhà gái sẽ làm cỗ bàn suốt mấy hôm trước lễ
vu quy; đống rác nhà họ sẽ là kho báu của nó trong suốt thời gian ấy. Một thằng
cu chào đời, một vị trưởng lão tạ thế... - những sự kiện như thế sẽ ảnh hưởng
đến đống rác trước nhà.
Dĩ nhiên, chẳng ai rỗi
hơi đi kể những sự kiện đại loại như thế cho một thằng bé cầu bất cầu bơ như
nó. Sau bao năm, Mộc Nhĩ đã học được cách tìm kiếm manh mối qua những lời xầm
xì quanh những biến cố trong nếp sống thường nhật của dân làng. Những bao gạo
kìn kìn chở đến nhà nào là dấu hiệu báo trước một bữa yến tiệc sắp xảy ra; hoặc
một ông bố say khướt đi liêu xiêu về nhà một đêm nọ đồng nghĩa với việc vợ ông
ta vừa mới sinh quý tử.
Nhảy từ đống rác này sang
đống rác khác, dừng lại ở hầu hết các ngôi nhà trong làng, lắng nghe những mẩu
chuyện không đầu không đuôi trên đường đi - bằng cách đó Mộc Nhĩ nhận thức rõ
được thân phận hèn kém của mình. Mọi người hoàn toàn phớt lờ nó. Thỉnh thoảng,
dù trông thấy nó, họ vẫn cứ nói chuyện như thể chẳng hề có nó trên đời. Còn nó
thì mang những câu chuyện và mẩu tin này về kể cho bác Sếu và bàn xem liệu
những tin tức ấy có thể dẫn đến một bữa ăn tươi hơn cho hai bác cháu hay không.
Bác Sếu thường nói đùa:
“Mộc Nhĩ à! Thấy chưa, cái tên của con thật hợp. Con giống như lỗ tai của cái
cây nhỏ khẳng khiu, chẳng ai để ý đến nhưng lại nghe không thiếu chuyện gì!”
Trong thời gian học nghề
gốm, đôi tai lại giúp nó thật đắc lực.
“Hai tháng mới xong một
bình hoa!”
“Lão Min đúng là thợ
rùa!”
“Một cái bình của lão Min
có giá bằng hai con bò mộng, một con ngựa, cộng với đứa con trai đầu lòng của
ngươi đó!”
Đó là những lời bình phẩm
thông thường của cánh thợ gốm và cả một số dân làng. Chỉ là những lời bông đùa
hời hợt, nhưng thấp thoáng ý chế giễu. Lâu dần, Mộc Nhĩ hiểu ra rằng thầy mình
nổi tiếng làm việc chậm, rất chậm và bán giá rất cao. Phải thật lâu ông mới cho
ra đời một món đồ. So với những người thợ gốm khác trong làng, sản phẩm của ông
ít hơn nhiều, nhưng giá bán bao giờ cũng cao hơn. Những gì qua bàn tay ông đều
nổi bật vẻ đẹp riêng, không phải ai cũng có đủ tiền mua.
Chẳng ai kể, nhưng Mộc
Nhĩ vẫn biết được rất nhiều chuyện. Chẳng hạn, thời trai trẻ, sư phụ nó là một
trong những thợ gốm thành công nhất ở Chulpo, chỉ vì quá cầu toàn nên đã bỏ lỡ
nhiều thương vụ cung cấp hàng với tiền công hậu hĩnh. Người mua dần dần chán
nản vì phải mỏi mắt chờ đợi hàng nhiều tháng trời sau khi thời hạn thỏa thuận
đã hết. Những lần sau, họ tìm đến người thợ khác để đặt hàng. Thật ra, vẫn còn
có người sẵn sàng chờ đợi các kiệt tác của ông Min, nhưng số này mỗi năm mỗi ít
dần đi.
Ngoài những điều kể trên,
ông Min còn nhắm tới mục đích cao hơn nữa: cung cấp vật phẩm cho hoàng gia; đồ
dùng hàng ngày cho nhà vua; những tác phẩm nghệ thuật trưng bày trong các cung
điện, đền chùa. Và quan trọng hơn hết là những phẩm vật được triều cống ra nước
ngoài để bày tỏ thiện chí hòa bình và lòng ngưỡng mộ đối với quốc gia lớn nhất
thế giới - nước Trung Hoa... Những vật như vậy mới được cho là sự đền bù xứng
đáng nhất và là sự tưởng thưởng hào phóng nhất. Được làm hàng cho hoàng gia là
giấc mơ của tất cả mọi thợ gốm, nhưng Mộc Nhĩ cảm nhận được rằng đối với thầy
nó, điều này còn hơn cả giấc mơ cao vời nhất. Đó là nỗi khao khát trọn đời của
người thợ tài hoa.
Như vậy, Mộc Nhĩ biết về
ông chủ mình qua những người khác, qua quan sát và hít thở cái không khí làm
việc của ông, nhưng chưa bao giờ qua một lời nào từ chính miệng ông, ngoài
những mệnh lệnh cộc lốc.
Mận trong làng trổ hoa
khắp lượt. Những cánh hoa trắng nhỏ bồng bềnh rơi như bông tuyết, để
lại những quả mận xanh non bé tí tẹo thẹn thò nấp trong đám lá. Trong khi Mộc
Nhĩ học cách xắn và lọc đất sét, những quả non bé bỏng mỗi ngày một phổng phao
hơn, có thêm sắc tía cho đến khi nặng dần, chín mọng và rơi lộp bộp xuống đất.
Bác Sếu nhặt quả chín cho vào cái vạt áo chẽn của bác đã được cột lại để làm
giỏ đựng.
Đến cuối hè, hai bác cháu
luôn có đủ cái ăn. Bát cơm trưa vơi đi một nửa bao giờ cũng biến thành một bát
cơm tối đầy ắp. Có lần Mộc Nhĩ đã bị cám dỗ muốn chén sạch cả bát cơm, vì biết
rõ rằng thế nào cái bát rỗng cũng sẽ lại đầy. Nhưng ý nghĩ đó đã khiến nó hoảng
sợ. Con người ta dễ trở nên tham lam như thế đấy! Và nó hiểu mà không cần phải
hỏi, rằng bác Sếu sẽ không bằng lòng nếu nó làm thế, vì bác thường nói, lợi
dụng lòng tốt của người khác là không tốt.
Mộc Nhĩ cân nhắc rất lâu
và rất kĩ lưỡng để tìm cách trả ơn bà Min. Nó cảm thấy hổ thẹn vì một chuyện
đơn giản như thế mà cũng không làm được. Thỉnh thoảng được thầy
cho về sớm, nó đi quanh nhà, cố tìm ra những việc lặt vặt để làm - nhổ cỏ dại
trong vườn rau hay quét sân. Chiều nào trước khi ra về nó cũng đi múc nước suối
đổ đầy thùng chứa. Chán thật, chỉ có thể làm được có bấy nhiêu đó để tỏ lòng
biết ơn. Nỗi buồn ấy giống tiếng muỗi vo ve, nhỏ thôi nhưng liên tục, ám ảnh
mãi.
Tuy nhiên, nỗi buồn ấy
cũng không đủ sức làm nó phải lo lắng trong suốt những ngày tháng tươi đẹp đáng
nhớ này - những ngày nắng vàng rực rỡ, những đêm ấm áp bình yên, có việc để
làm, có cái để ăn. Và như bác Sếu vẫn thường nói, không gì tốt đẹp hơn việc
tráng miệng sau bữa ăn bằng một quả mận chín ngọt.

