Tổ ấm nơi tận cùng thế giới - Chương 3 - Phần 02
Rebecca không chịu nín,
và chúng tôi đành mang nó ra ngoài. Nó cứ khóc mãi như một cái thuyền máy bị
chìm đắm trong tiếng động cơ và bụi nước. Chúng tôi bế nó đi quanh khu đất, và
để nó khóc ầm ĩ trong không khí buổi trưa. Jonathan ngắt lấy một bông cúc. Cậu
huơ huơ bông hoa trước khuôn mặt nhăn nhó đỏ gay của con bé.
“Này, bé con,” cậu nói.
“Này. Hãy xem thứ này lạ chưa này.” Trong tất cả các nét tính nết của nó,
Jonathan yêu nhất là vẻ hay ngạc nhiên. Cậu gần như phát khóc khi nó tròn xoe
mắt nhìn chằm chằm vào một cuộn len hay một cái thìa uống trà lấp lánh dưới ánh
mặt trời. Nhưng nó vẫn cứ khóc dù bông cúc ở ngay trước mặt.
“Không thể bị những
bông hoa mua chuộc đâu,” Clare nói. Giọng nàng toát lên vẻ hãnh diện thật sự.
Nếu Jonathan yêu con bé vì nó là thính giả tuyệt vời nhất trên đời này, thì
Clare lại yêu cái tính cố chấp bướng bỉnh với những bí ẩn riêng của nó.
Chúng tôi bước đến rừng
cây sau nhà. Ở đây, trong bóng râm bất tận, không hề thấy một cọng cỏ. Chỉ có
những thứ rác rưởi của rừng – những quả thông, những cành cây rụng và phân của
những con hươu. Chúng tôi đi giữa những rặng cây yên tĩnh, kéo theo tiếng khóc
ầm ĩ của Rebecca như một chiếc khăn óng ánh.
Clare hỏi: “Hôm nay hai
người đã gọi thợ sửa ống nước chưa?”
“Rồi,” Jonathan nói.
“Phải đến thứ Ba tuần sau nữa anh ta mới dành thời gian cho chúng ta được. Sao
chị không để em thử dỗ con bé lần nữa xem nào?”
“Chết tiệt. Ngôi nhà này
chắc phải đến thế kỉ sau mới được hoàn thiện mất. Cậu cũng biết thế, đúng
không?”
“Đâu cần quá vội vàng
thế,” Jonathan nói. “Lại đây nào, Rebecca.”
Cậu giơ tay ra đón nó,
nhưng Clare vẫn ôm nó khư khư.
“Đâu cần quá vội vàng
thế,” nàng nhại lại. “Vậy chúng ta cứ phải giữ nước nóng trong lò suốt đời à?”
“Chúng ta là những người
khai hoang mà,” Jonathan nói. “Không thể mong đợi một cuộc sống tiện nghi ở
ngoại ô ngay tức khắc được.”
“Tôi nghĩ,” nàng nói,
“rằng cả hai người đều đần độn kiểu gì ý. Tôi thực sự nghĩ thế đấy.”
Nàng ôm chặt con bé và
rảo bước đi lên trước chúng tôi, tiến sâu vào trong rừng. Những tia sáng, bị
những cành thông chặn lại, treo lơ lửng. Jonathan vội chạy theo sau nàng, như
thể cậu cho rằng nàng đang định đem Rebecca đi và một mình nuôi nó ở nơi hoang
dã.
Gần một tuần nữa, tiệm ăn
của chúng tôi sẽ được khai trương. Jonathan và tôi làm việc suốt ngày để hoàn
thiện nốt. Nó không lớn, chỉ là một tiệm ăn kê được chín cái bàn, trước đây vốn
là một quán rượu. Chúng tôi đã cải tạo lại quán rượu ấy như một cặp cô dâu lấy
chồng ngoại quốc mới đến biên giới. Chúng tôi đã sơn nó thành màu trắng, và
treo lên cửa những tấm rèm sọc. Jonathan còn dán tấm ảnh cũ lên tường: những
tấm ảnh tập thể ở trường của lũ trẻ đeo nơ con bướm và mặc áo choàng không tay,
những người đàn ông và đàn bà mặc quần soóc Bermuda kẻ ô đang nằm phơi nắng bên
một cái hồ, một bà lão đang xúc tuyết. Cậu treo lên đó cả một con cá hồi to kỉ
lục bị bắt được vào năm 1957 và một cái giá đựng đầy những cái cúp. Đó là những
bức tượng nam nữ màu vàng kim, khỏa thân nhưng không gợi tình, như những thiên
thần, đang biểu diễn sự xuất sắc của con người trong môn bowling, golf, cầu
lông và quyền công dân. Đây sẽ là một tiệm ăn đơn giản, chỉ phục vụ bữa sáng và
bữa trưa. Chúng tôi mua những chiếc bàn và ghế không đồng bộ ở những cửa hàng
đồ cũ, nơi chúng tôi tìm được những chiếc cúp, những bức ảnh và con cá hồi bóng
loáng đó.
“Đến đây nào, mọi người,”
Jonathan nói. “Tiệm ăn Gia đình sắp khai trương đây.” Cậu trát sơn trắng lên gờ
tường. Cậu đang mặc quần yếm, và mái tóc được buộc túm ra sau kiểu đuôi ngựa.
Tôi đang ở trong bếp,
chất những lọ mứt và nước xốt cà chua loại hai cân lên giá. “Họ không gửi mứt
dâu tây đến,” tôi nói. “Mà họ gửi đến, ờ, một nửa là mứt phúc bồn tử và một nửa
là mứt đào.”
“Mình sẽ gọi điện đến
mắng cho họ một trận. Chắc là họ nghĩ họ có thể gửi cho chúng ta bất cứ thứ gì
mà họ đang cố tống khứ, vì ngỡ rằng chúng ta không biết gì đấy.”
Khi những cái lọ đã được
xếp thành chồng trên giá, tôi đến đứng ở quầy thu tiền, xem Jonathan quết sơn.
“Clare nghĩ chúng ta nên coi những điều chúng ta đang làm là lạ lùng,” tôi nói.
“Đúng thế đấy,” cậu nói. “Ai nghĩ là nó không lạ lùng kia chứ?”
“Chà, mình cho rằng cô ấy
nghĩ đáng lẽ chúng ta phải thấy thất vọng hơn.”
“Chị ấy lo lắng chỉ vì
chị ấy đang phải thanh toán các hóa đơn. Chị ấy đã chờ cả đời để có được số
tiền này, thế mà bây giờ, rầm, nó đang bị tiêu mất.”
“Nó đang được, cậu biết
đấy, đầu tư chứ,” tôi nói.
“Ừ. Gần đây chị ấy hơi
bực tức gì đó thì phải.”
“Ôi, mình không biết
nữa.”
“Mình nghĩ thế. Dạo gần
dây Clare cứ trái tính trái nết thế nào ấy. Thực sự thì, từ dạo chị ấy mang
thai.”
“Ừm, cậu biết đấy,” tôi
nói. Tôi nhét một băng cassette mới vào giàn âm thanh. Jimi Hendrix bắt đầu hát
bài Are you experienced?
“Mình nghĩ chị ấy sẽ ổn
thôi.” Jonathan nói. “Làm cha làm mẹ thật là khó. Bản thân mình cũng thấy khó
nữa là.”
Tôi lấy một cái chổi sơn
ra và giúp Jonathan quét lại sơn. Jimi phát ra một tiếng gầm nhẹ nhàng, một
giọng hát vẫn đang tồn tại từ thế giới của những người đã khuất, khi Jonathan
và tôi sơn phủ lên cái gờ tường cuối cùng. Chúng tôi đung đưa theo tiếng nhạc.
Khi cùng nhau sơn một bức tường với giọng hát của Jimi vang lên bên tai, tôi
cảm thấy một sự hoàn hảo. Thời gian như đan dệt vào nhau, quá khứ bị lẫn lộn
với tương lai. Đột nhiên tôi ngỡ ngàng nhận ra: tôi đã có thứ tôi muốn. Một
người anh em để cùng làm việc. Một tương lai bị thay đổi, lung linh như chiếc
bóng đèn đang treo phía trên đầu chúng tôi.
Đây chính là điều khó nói
về chúng tôi: Jonathan và tôi là những thành viên của một nhóm đã tồn tại quá
lâu đến nỗi không ai khác có thể gia nhập ngay cả khi chúng tôi muốn có họ.
Chúng tôi yêu mến Clare nhưng nàng không hẳn là người trong nhóm. Không hẳn.
Thứ đã ràng buộc hai chúng tôi còn mạnh mẽ hơn cả tình dục. Nó mạnh mẽ hơn cả
tình yêu. Chúng tôi được gắn kết với nhau. Mỗi người chúng tôi là bản thân
người kia được sinh ra trong một cơ thể khác. Chúng tôi có thể yêu Clare, nhưng
nàng không phải là chúng tôi. Chỉ có chúng tôi mới có thể cùng lúc vừa là bản
thân mình vừa là người kia. Tôi quét sơn lên một vết tróc cũ. Những khuôn mặt
bị ố màu của những cô cậu học sinh, giờ đều đã ở độ tuổi bốn mươi và năm mươi,
từ trên tường nhìn ra ngoài với sự lạc quan thấy rõ.
Sau đó, chúng tôi khóa
cửa tiệm ăn và đi đến chỗ chiếc xe đang đỗ bên đường chính. Tôi thích được đi
bộ giữa vạn vật – tôi là người thích thị trấn này. Tôi vẫn đang trên đường đến
Woodstock từ khi tôi mới chín tuổi và giờ đây, hơn hai mươi năm sau, tôi đã đến
nơi. Anh trai tôi đã đúng – vẫn còn có người ở đây. Đại nhạc hội, theo như tôi
biết, đã diễn ra cách đây sáu mươi dặm, trong một đồng cỏ rậm rạp rộng lớn. Một
không gian trống trải bao quanh bởi những rặng cây xanh đen. Jonathan và tôi
từng thử bơi trong cái ao màu sô-cô-la trong khi Clare ngồi với Rebecca giữa
đám cỏ, nhưng bọn muỗi đã buộc tất cả chúng tôi phải trở vào xe. Cuối cùng,
chúng tôi đã đi ăn trưa ở một quán mà Clare cho rằng đó là nơi nàng từng đến
với vị hôn phu khi họ rời khỏi đại nhạc hội thực sự. Nàng nói những cái bánh
hamburger sẽ được kèm theo ba miếng dưa góp và một lớp phủ nước xốt cà chua,
quả đúng thế.
Woodstock được coi là một
thị trấn kiểu mẫu trước khi tương lai cũ bị chệch hướng và một cái mới thế chỗ
nó. Những gã lãng mạn để râu vẫn gảy guitar trong quảng trường thị trấn, mơ
mộng rằng họ là những sinh vật trong rừng và những nhà ảo thuật tập sự. Những
bà lão tóc bạc gật gà gật gù nhịp nhàng trên ghế băng. Clare coi hình ảnh đó là
kì cục còn Jonathan không để ý lắm, nhưng tôi lại đánh giá cao vẻ đẹp của những
con phố yên tĩnh và cái quyết tâm theo đuổi những lối sống bên lề của con người
nơi đây.
Jonathan và tôi lái xe về
nhà trong chiếc Toyota mua lại, lên xuống những ngọn đồi, với những cành cây in
bóng lập lòe trên kính chắn gió. Cậu ngồi ngả người trên chiếc ghế cạnh ghế
lái, đôi giày vải chống lên bảng đồng hồ. “Mình sẽ nói cho cậu biết điều gì
thực sự là kì lạ trong toàn bộ những việc mà bọn mình đang làm này,” cậu nói.
“Điều mà thực sự, thực sự lạ lùng chính là: cuối cùng chúng ta cũng đã thực
hiện được nó. Người ta nói họ sẽ chuyển về quê và mở một tiệm ăn nhỏ, nhưng có
mấy ai thực sự làm thế đâu?”
“Có chúng ta,” tôi nói.
“Chúng ta đã làm thế.”
Khi chúng tôi đã lên đến
đỉnh ngọn đồi cuối cùng, tôi đạp phanh. “Gì thế?” Jonathan hỏi.
“Không có gì,” tôi bảo
cậu. “Mình chỉ muốn nhìn ngắm một lát.”
Từ nơi tôi dừng lại,
chúng tôi có thể trông thấy ống khói của ngôi nhà màu nâu cũ kĩ của chúng tôi
nhô lên giữa một đám cây bách xù. Ba cửa sổ trên mái đón lấy thứ ánh sáng sắp
sửa biến mất đằng sau dãy núi, và dây thường xuân vốn đã tự do mọc lên qua hàng
thập kỉ đang rung rinh, tỏa ra ánh bạc lấp lánh trên mặt lá. Ngôi nhà đã đứng
đó hơn một thế kỉ mà không chịu nhượng bộ trước khung cảnh xung quanh. Không
cành dây leo nào trườn được lên nó, không cái hố ngầm nào mở rộng được diện
tích bằng cách thấm vào móng nhà. Tôi thường hát bài Woodstock để trêu chọc
Clare, nhưng giờ đây tôi hát cho Jonathan nghe với thái độ nửa nghiêm túc. Với
cái một nửa đó, bài hát nghe lại thú vị hơn. “Chúng ta là những kẻ lãng mạn,
chúng ta chắc chắn sẽ thành công, và chúng ta phải quay lại khu vườn.” Cậu lắng
nghe vài câu, rồi hát theo.
Lúc ăn tối, chúng tôi nói
chuyện về tiệm ăn và đứa bé. Dạo gần đây, cuộc sống của chúng tôi được dành hết
cho những điều thực tế - chúng tôi lo lắng trước cơn ho của Rebecca và công
suất của cái tủ lạnh cỡ nhỏ tuy cũ nhưng đã được tân trạng lại của chúng tôi.
Tôi đang bắt đầu hiểu ra sự khác biệt thực sự giữa đám thanh niên và những
người lớn tuổi. Giới thanh niên có thời gian để lập ra các kế hoạch và nghĩ về
những ý tưởng mới. Còn những người lớn tuổi thì cần tập trung toàn bộ năng
lượng của họ để duy trì thứ đã được đưa vào hoạt động.
“Em không thích bác sĩ
Glass,” Clare nói. Nàng đang ngồi cạnh cái ghế ăn cho trẻ con của Rebecca, đút
pudding vani cho con bé. Trước mỗi miếng, Rebecca đều nghi ngờ nhìn vào cái
thìa, kiểm tra lại những gì có trên đó. Nó đã được di truyền cái tính háu ăn
của tôi, nhưng cũng kế thừa cả tính đa nghi của Clare nữa. Tuy đói nhưng nó vẫn
thận trọng.
“Tại sao?” Tôi hỏi.
“Ừm, vì anh ta là một
gã hippie. Và anh ta chắc hẳn chưa
quá ba mươi lăm. Em thà đưa Rebecca đến khám ở một người già lụ khụ còn hơn.
Anh biết đấy, một người đạo mạo đã giúp mẹ anh và tất cả anh chị em của bà ấy
qua khỏi những thứ bệnh như đậu mùa và bại liệt khi họ còn nhỏ. Khi Glass bảo
em không cần phải lo lắng về những cơn ho của con bé, em cứ nghĩ rằng: “Mình
đang được một người đàn ông quá tân tiến khuyên bảo.”
“Em đồng ý,” Jonathan
nói. “Glass tập dưỡng sinh đấy. Em thà tìm ai đó chơi golf còn hơn.”
“Anh thấy Glass được đấy
chứ,” tôi nói. “Ý anh là, anh thích anh ta. Em có thể nói chuyện với anh ta
mà.”
Jonathan nói: “Em cho
rằng điều quan trọng là chị muốn bác sĩ của con chị là một người mẫu mực hơn.
Đúng không? Người nào đó có vẻ không bị ảnh hưởng bởi các trào lưu.”
“Đúng vậy đấy,” Clare
nói. “Ngày mai tôi sẽ tìm một bác sĩ nhi mới.”
“Anh thực sự thấy Glass
rất được,” tôi nói.
Clare dừng thìa pudding
ngay trước cái miệng đang há của Rebecca. “Em muốn thử chuyển sang người khác,”
nàng nói. “Em không yên tâm với Glass, em nghĩ anh ta quá dễ dãi. Anh hiểu
không?”
“Ôi, thôi được,” tôi nói.
“Ừm.” Nàng đưa chiếc thìa
vào miệng Rebecca với sự chính xác thuần thục, nhẹ nhàng. Clare đang biến mình
thành nhân vật Mẹ từ hồi chúng tôi còn sắm vai nhà Henderson. Chúng tôi đã
không còn nhắc nhở gì đến nhà Henderson nữa, có lẽ vì sự khác biệt giữa cuộc
đời thực của chúng tôi và cuộc đời giả định của họ đã co lại hết mức.
Sau đó, sau khi đã cho
Rebecca đi ngủ, chúng tôi cùng nhau xem ti vi. Đó là điều thích hợp để làm vào
buổi tối ở miền quê khi có một đứa con. Chúng tôi nằm trên chiếc giường cỡ lớn,
xung quanh là bim bim, bia và Coke cho người ăn kiêng. Những căn phòng ngủ trên
gác đều tối và ấm cúng. Trần nhà lượn theo đường cong của mái nhà. Những người
chủ trước đây – những người đã dán giấy dán tường hình con chim đại bàng và kê
chiếc tủ kiểu Tây Ban Nha ở dưới nhà – có lẽ đã hết tiền khi sửa đến lan can
cầu thang. Trên này bị hư hỏng nhiều hơn. Giấy dán tường trong phòng này chi
chít những bông hoa nhạt màu trông như loài ăn thịt, và những cánh cửa chớp lật
đung đưa trên những cái cây bị cọ sờn có màu chè đặc. Clare xem qua một lượt
các kênh. Ở đây chúng tôi có truyền hình cáp, một thỏi nam châm mạnh mẽ hút lấy
bất cứ thôi thúc vô hình nào băng qua trong đầu. Ngoài các kênh thông thường,
chúng tôi còn có những show diễn thoát y từ New York, những bộ phim truyền hình
dài tập Mexico, những phụ nữ Nhật Bản hồ hởi giới thiệu các phát minh quá phức
tạp đến nỗi chỉ những phát minh khác mới có thể đánh giá một cách đầy đủ về
chúng được. Đôi khi, chúng tôi chuyển sang một kênh mơ hồ, mờ ảo, gần như đáng
sợ - trông như thể những người đàn ông và đàn bà đang đi, và chỉ đi, qua một
cánh đồng trống. Có thể đó là một kênh truyền hình mà chúng tôi đã chọn nhầm,
được phát ra từ một thế giới mà chúng tôi không định trông thấy.
“Một trăm hai mươi kênh
và vẫn chẳng có gì để xem,” Clare nói.
“Tối nay ti vi chẳng có
gì cả, hãy làm chuyện đó đi,” Jonathan nói.
Clare nhíu mày nhìn cậu
và mắt nàng tối sầm lại. “Hai người đi mà làm,” nàng nói.
Jonathan nhảy chồm lên
người nàng và giả vờ như đang làm tình một cách kích động. “Ôi, bé cưng, ôi bé
cưng, ôi bé cưng,” cậu rên rỉ.
“Xuống ngay,” nàng nói.
“Buông tôi ra. Không đùa đâu. Đi mà nhảy lên Bobby ấy.”
“Ôi, bé cưng,” Jonathan
nói.
“Bobby, bắt cậu ta dừng
lại đi,” nàng nói.
Tôi nhún vai, bất lực.
“Tôi sẽ hét lên đấy,” nàng nói. “Tôi sẽ gọi cảnh sát.”
“Và nói gì với họ?”
Jonathan hỏi.
“Rằng tôi đang bị hai
người đàn ông giam giữ trong ngôi nhà này. Rằng họ đã dụ dỗ tôi để gây giống và
ép tôi sống như thế từ năm 1969.”
“Chị đã làm xong việc
sinh con rồi,” Jonathan nói. “Nếu đó là mục đích duy nhất của chị ở đây, thì
giờ bọn em đã xong việc với chị rồi.”
“Đứa bé vẫn cần sữa, đúng
không?” Clare nói. “Và ngôi nhà này chẳng phải vẫn cần một người mẹ sao?”
Jonathan ngừng lại một
lúc, ngẫm nghĩ. “Không,” cậu nói. “Chị đã được trả tự do.”
Cậu lăn khỏi người nàng
và cầm lấy cái điều khiển từ xa. “Hãy xem có gì hay từ Sao Mộc tối nay không.”
“Nếu tôi đi,” Clare nói,
“tôi sẽ mang con bé theo.”
“Ôi không, không được,”
cậu đáp. Rồi cậu nhớ ra là phải điều chỉnh giọng nói. “Con bé thuộc về tất cả
mọi người,” cậu dịu giọng.
Clare ngửa ra sau, ngả
đầu về phía tôi: “Bobby?”
“Hả?”
“Em muốn biết bí mật về
sự điềm tĩnh thản nhiên của anh. Chúng ta đang thực hiện một kế hoạch vô cùng
kì cục và dị giáo, trong một ngôi nhà có thể sụp xuống quanh chúng ta bất cứ
lúc nào, Jonathan và em đang cãi nhau về quyền sở hữu đứa con của em...”
“Con của chúng ta,” Jonathan nói. “Thực sự thì,
Clare ạ, chị phải thôi cái từ của
chị đó đi.”
“Về quyền sở hữu đứa con
của chúng ta,” nàng nói, “còn anh chỉ ngồi đây như Dagwood Bumstead[65] vậy. Đôi khi em nghĩ anh chính là kẻ đến từ Sao Mộc.”
“Chắc vậy,” tôi nói. “Ý
anh là, anh chẳng thấy toàn bộ chuyện này có gì là lạ cả.”
[65] Dagwood Bumstead: Nhân vật chính trong bộ truyện
tranh hài hước Blondie.
Nàng ngước lên trần nhà,
mắt mở trừng trừng. “Đáng lẽ em nên biết trước,” nàng nói. “Đáng lẽ em nên đoán
ra điều đó ngay lần đầu tiên em gặp anh, với mái tóc rối bù và chiếc quần jean
Calvin Klein. Và rồi anh gần như có thể biến thành một người tân tiến ở East
Village chỉ qua một đêm. Thật nực cười. Hóa ra Jonathan và em mới là những
người bảo thủ. Bọn em mới là những kẻ cần phải nhìn vào trong gương và xem xem
bọn em sẽ thấy gì mỗi ngày. Anh có thể làm bất cứ điều gì, đúng không?”
“Không,” tôi bảo nàng.
“Đâu phải điều gì anh cũng có thể làm được.”
“Hãy kể ra xem nào. Hãy
kể ra điều mà anh sẽ không làm được ấy.”
“Ừm, ờ, anh sẽ không thể
ở một mình. Anh đã, em biết đấy, quá cô độc từ hồi còn nhỏ rồi.”
“Thế đấy,” nàng nói. “Anh
là một người đại diện, đúng không? Anh phản chiếu những khát vọng của mọi
người. Ôi, sao em chưa bao giờ nghĩ về điều này nhỉ? Khi anh sống với bố mẹ
Jonathan, anh là một cậu bé Ohio dễ thương, khi sống ở East Village, anh thật
trầm tĩnh, và giờ đây khi sống ở ngoại thành, anh là mẫu nhân vật người cha
hippie ngọt ngào. Anh cho người ta bất cứ thứ gì họ muốn. Đúng không?”
“Anh không biết,” tôi
nói.
Có những điều tôi không
thể nói với nàng, những điều mà tôi không biết phải nói ra sao. Tôi một phần là
người sống và một phần là người chết. Tôi đang sống vì nhiều người chứ không
chỉ cho riêng mình.
“Ôi, Clare,” Jonathan nói
từ phía cuối giường. “Sao đột nhiên chị lại có vẻ cả nghĩ thế? Chị thực sự nghĩ
rằng chị có thể kết luận về Bobby trong một câu như thế à?”
“Còn cậu thì cứ liệt kê
ra từng câu trong cuộc đời này,” nàng nói.

