Tổ ấm nơi tận cùng thế giới - Chương 3 - Phần 01

PHẦN 3

BOBBY

Những thú vui ở chốn thị
thành quả là quá phức tạp đối với việc nuôi dạy một đứa trẻ. Chúng rất dễ dẫn
đến sự sa ngã. Tôi nghĩ thế, và Jonathan cũng vậy. Clare không chắc lắm – nàng
lo rằng sự êm ả quá mức có thể làm thui chột trí tưởng tượng của đứa bé.

“Nếu nó trở thành một đứa
cù lần thì sao?” Nàng nói. “Em không muốn đứa con nào của mình lại lớn lên để
trở thành một người quá tốt
bụng cả. Em không thể chịu được điều đó.”

Tôi nhắc nàng nhớ lại
rằng New York đã chuẩn bị những gì cho những người quá nhỏ bé và không mấy hiểu
biết, những người khó có thể giành được một chỗ đứng ở đó. Tôi nghĩ ra những
con số xác suất về những trường học ở thị trấn và những hiệu quả của màu xanh
tới sự phát triển tâm lý.

“Và nghe này, ở thời buổi
bây giờ, đâu còn cái khái niệm cứ lớn lên ở nông thôn là người ta lại hiền lành
tốt bụng nữa,” Jonathan nói. “Hầu hết những kẻ sát nhân thực sự gây xôn xao đều
xuất thân từ những trang trại vô chủ và những khu nhà lưu động đấy.”

“Ừm, thôi được rồi,” cuối
cùng Clare nói. “Tôi nghĩ New York là nơi để mọi người đổ xô đến. Nếu chúng ta nuôi con ở đây, nó sẽ
chuyển về nông thôn khi nó lớn lên mất.”

Và thế là chúng tôi bắt
đầu gọi điện thoại. Chúng tôi bắt đầu lái xe ra ngoại thành để tìm kiếm những
mảnh đất quá xa lạ hoặc hoang vắng mà chúng tôi có thể mua bằng tiền thừa kế
của Clare. Khi đi mua những bất động sản rẻ tiền, bạn sẽ có được cái nhìn của
người trong cuộc về sự thất bại thường nhật của con người. Bạn ngửi thấy mùi
cây cỏ ẩm ướt từ bên ngoài len lỏi vào qua những tấm ván lát tường ẩm thấp,
trông thấy những trần nhà và sàn nhà đang dần dần xuống cấp. Bạn thấy được thời
tiết và tình trạng mục nát đã chiến thắng thế nào chỉ bằng cách tiếp tục, ngày
này qua ngày khác, cho đến khi nào tiền bạc cạn kiệt.

“Chúng ta không thể dừng
lại quá lâu để suy nghĩ được,” Clare cứ lải nhải. “Chúng ta phải tiếp tục tìm
kiếm. Nếu chúng ta dừng lại và suy nghĩ quá lâu, em e rằng em sẽ đổi ý đấy.”

Sau ba tuần, chúng tôi đã
tìm được một ngôi nhà hai tầng màu nâu cách Woodstock năm dặm, một căn nhà
không mấy giá trị với những ưu điểm và nhược điểm gần như tương đương. Những
bức tường được xây trên một nền móng vững chắc. Giá nhà lại rẻ - vì chủ nhà
muốn bán tống bán tháo nó đi. Ánh sáng từ đồng cỏ linh lăng bồng bềnh qua những
căn phòng như thể thời gian đang ngưng đọng. Nước giếng trong và lạnh hệt như
nước được chảy ra từ vòi.

Nhược điểm của ngôi nhà
là hệ thống dây điện đã xuống cấp còn hệ thống ống nước thì bám đầy gỉ sắt. Ván
lát sàn bằng gỗ thông cũ đầy rẫy những con kiến đục gỗ và đang trong tình trạng
mục khô.

“Ít nhất thì nơi này cũng
có một linh hồn,” Jonathan nói. “Chị biết ý em là gì không? Em cảm thấy bây giờ
vẫn còn chưa quá muộn. Nơi này vẫn chưa bị hư hỏng hoàn toàn.”

Clare gật đầu. Nàng miết
ngón cái theo khung cửa, và nhìn vào ngón tay với vẻ tần ngần.

“Có vẻ được đấy,” tôi
nói. “Nơi này không gây ra cho em cảm giác gì sao?”

“Hừm,” Clare nói. “Buồn
nôn. Chóng mặt. Hoảng loạn.” Nàng vẫn nhìn vào ngón tay cái.

Chúng tôi bàn bạc trong
một tuần, và mua ngôi nhà đó. Kèm theo nó là cả cái giếng và ánh nắng chiếu,
cùng mười lăm cây sồi, tám cây thông, một bụi mâm xôi, và một cặp mộ quá cũ đến
nỗi bia mộ đã bị bào mòn nhẵn thín. Khi Clare ngồi trên cái ghế nhựa màu xanh,
với cái bụng to, để ký giấy tờ, nàng nói: “Tạm biệt, Paris và Istanbul.”

Jonathan thêm vài: “Tạm
biệt, thời trang Armani. Tạm biệt, những đôi giày cá sấu.” Hai người họ cùng
thốt ra một tiếng cười hơi chua chát. Và rồi việc mua bán hoàn tất. Clare đã
mua cho tất cả chúng tôi một sự khởi đầu mới bằng tài sản kiếm được từ kim
cương giả của người ông quá cố của nàng. Để chúc mừng, nhân viên của công ty
bất động sản đã cùng chúng tôi uống rượu vang trắng đựng trong những cái cốc
xốp màu trắng.

Khi rời khỏi căn hộ ở New
York, chúng tôi đã vứt đi tất cả những thứ bị hư hỏng hay vỡ nát – chúng chiếm
gần một nửa số tài sản của chúng tôi. Chúng tôi vứt chúng ra đường như món quà
biếu dành cho những người mới đến, những người đang tràn đầy hi vọng trước cuộc
sống mới ở nơi mà chúng tôi sắp rời đi này. Từ cửa sổ, chúng tôi ngắm nhìn
những người qua đường đến lấy và mang chúng đi. Một phụ nữ lấy cái đèn dung
nham. Hai gã đầu trọc và một cô gái xăm mình mập mạp thì lấy đi cái sofa bọc
vải polyester da báo bị võng.

“Tạm biệt, những kho
báu,” Clare nói. Hơi thở của nàng tạo nên một làn khói mong manh trên kính.

“Tạm biệt, những món phế
thải từ thùng rác ở các cửa hàng đồ cũ,” Jonathan nói. “Cưng à, có những lúc
chúng ta chẳng cần phải tiếc nuối thứ gì hết.”

“Tôi đã tha cái sofa đó
về đây từ phố Sáu mươi bảy,” nàng nói. “Nhiều năm trước, cùng với Stephen
Cooper và Bill Choắt. Bọn tôi đã khiêng thứ chết tiệt đó qua vài dãy nhà, dừng
lại và ngồi lên nó, rồi lại đi thêm vài dãy nhà nữa. Chúng tôi đã mất cả đêm để
mang nó về. Có lúc đám ăn xin cũng ngồi lên nó với chúng tôi, và tất cả chúng tôi
cùng nhau uống bia. Đêm đó chúng tôi đã kết bạn được với rất nhiều người.”

“Và giờ thì chị sắp được
làm một bà chủ nhà và một bà mẹ rồi,” Jonathan nói. “Chị có thực sự muốn mình
tha thẩn nhặt nhạnh quanh các con phố của New York suốt đời không?”

“Bill Choắt mất rồi,”
nàng nói. “Tôi đã bảo cậu chưa nhỉ?”

“Chưa.”

“Corinne bảo tôi thế. Anh
ấy mất ở Nam Carolina, ôi, ít nhất đã được một năm rồi. Trước đó chúng tôi đều
đã mất liên lạc với anh ấy.”

“Em rất tiếc. Stephen vẫn
ổn chứ?”

“Ôi, Stephen vẫn ổn. Anh
ấy đã thực sự mở một tiệm kim hoàn ở mũi Cod. Tôi cho rằng anh ấy đang kiếm bộn
tiền nhờ vào việc bán những con cá voi và những con mòng biển nho nhỏ bằng vàng
cho khách du lịch.”

“Chà,” Jonathan nói.
“Tuyệt quá. Ý em là, ít nhất anh ấy vẫn còn sống.”

“Ừm.”

Chúng tôi nhìn theo chiếc
sofa được mang đi trên phố Bốn Đông. Trên vỉa hè, phía dưới cửa sổ của chúng
tôi, một cặp đôi mặc áo khoác da đang reo lên trước chiếc đồng hồ treo tường cũ
của Clare – một chiếc có hình boomerang bằng nhựa màu vàng với những con số
điện tử màu hồng và đỏ.

“Không thể tin nổi là tôi
lại nghe theo lời xúi giục của cậu mà ném cái đồng hồ đó đi,” nàng nói. “Tôi sẽ
xuống dưới đó và bảo họ là tôi đã nhầm.”

“Quên đi,” Jonathan nói.
“Họ sẽ giết chị đấy.”

“Jonathan, chiếc đồng hồ
đó là một vật đặc biệt. Nó đáng tiền đấy.”

“Cưng ơi, nó hỏng rồi,”
cậu nói. “Nó đâu còn báo giờ nữa. Hãy để họ lấy nó đi.”

Nàng gật đầu và lặng lẽ
dõi theo cặp đôi kia chạy bộ về hướng đại lộ Một, chuyền qua chuyền lại chiếc
đồng hồ như một quả bóng bầu dục. Nàng xoa xoa cái bụng bầu của mình. Hơi thở
của nàng phả lên mặt kính.

Đó là hơi mười tháng
trước. Còn hiện giờ chúng tôi đang sống trong một cánh đồng quay mặt về phía
núi. Những bông hoa có mũi nhọn màu xanh leo lên những thanh hàng rào nhà chúng
tôi. Những con ong kêu vo ve trong nhịp hối hả của công việc hằng ngày, và một
bầu trời màu xanh sữa lơ lửng sau những rặng cây. Đây là dãy núi già. Mưa gió
đã bào mòn chúng. Chúng không nhấp nhô hay hùng vĩ như những dãy núi “ăn ảnh”
hơn. Những ngọn núi này đổ xuống một cái bóng bằng phẳng – những vách đá của
chúng không gợi nhắc đến sự va chạm của những đĩa lục địa. Chúng được những cây
thông bao quanh. Chúng nhô những hình bán nguyệt khiêm tốn lên bầu trời.

“Em ghét phong cảnh,”
Clare nói. “Nó quá hiển nhiên.” Nàng đang đứng cạnh tôi trên bãi cỏ không được
tỉa xén. Đó là tháng Tư đầu tiên của thập kỉ mới và nàng là một Clare mới. Giờ
nàng sắc sảo hơn, những lời nói đùa châm biếm hơn. Đáng lẽ việc trở thành một
người mẹ phải khiến nàng dịu dàng hơn thế.

“Ôi, thôi nào,” tôi bảo
nàng. “Hãy cố vượt qua điều đó đi, nhé?”

Một đôi quạ bay lướt qua
ngôi nhà. Một con phát ra tiếng kêu khàn khàn, như tiếng hai miếng kim loại
xoắn vào nhau.

“Lũ chim ó,” Clare nói.
“Lũ chim ăn xác thối. Chúng đang chờ người đầu tiên trong số chúng ta chết vì
buồn chán đấy.”

Tôi khẽ hát vào tai nàng.
Tôi hát: “Lúc chúng tôi đến Woodstock, chúng tôi có tới nửa triệu người, và
khắp nơi tràn ngập những bài ca và những lời tán tụng.”

“Thôi đi,” nàng nói, xua
bài hát đi như thể nó là một con quạ khiêu khích. Những chiếc vòng tay bằng bạc
của nàng kêu leng keng. “Điều duy nhất mà em chưa bao giờ ngờ tới,” nàng nói,
“là rốt cuộc mình sẽ trở thành một kẻ hippie lụ khụ.”

“Em biết đấy, đó đâu phải
là điều tệ nhất,” tôi nói.

“Quá muộn rồi,” nàng nói.
“Những quả bom bướm đang quay lại những chiếc máy bay ném bom. Anh không nhận
thấy sao? Người ta sẽ xây những tòa chung cư trên ngọn núi đó, cứ chờ mà xem.”

“Anh không nghĩ thế. Anh
nghĩ nó sẽ không có đủ khách hàng đâu.”

Nàng nhìn dãy núi như thể
tương lai được viết trên đó bằng những chữ cái nhỏ bé lấp lánh. Nàng nheo mắt.
Trong một thoáng, nàng giống như một phụ nữ nông thôn, gân guốc và đa nghi, và
không bao giờ để ý đến son môi hay những chiếc áo màu lục nhạt. Nàng có thể
giống như bà ngoại tôi, đứng trên rìa mảnh đất ở Wisconsin của mình, bất mãn
nhìn ra sự rộng lớn của thứ mà bà không sở hữu.

“Miễn là vẫn có đủ khách
hàng cho Tiệm ăn Gia đình. Chúa ơi, em vẫn không thể tin được là chúng ta lại
quyết định đặt tên cho nó như thế.”

“Người ta sẽ thích cái
tên đó,” tôi nói.

“Ôi, nó thật quá kì cục.
Nó quá lỗi thời và... kì cục.”

“Ồ, chỉ một chút thôi
mà,” tôi nói.

“Một chút cái gì chứ.”

Nàng quá gay gắt và khó
chịu, quá giống với bản thân đã bị thay đổi của nàng, đến mức một niềm vui khó
hiểu chợt dâng lên trong tôi. Nàng quá thật, quá Clare. Tôi chợt ngó ngoáy một điệu nhảy. Nó không quyến rũ chút
nào, cũng không tuân theo những luật chặt chẽ, vô hình về nhịp điệu – tôi giống
như một con rối bằng gỗ nhỏ bé trên một sợi dây. Clare đảo mắt như một người
vợ. Ở đây có chỗ cho những sự kì quặc thường nhật.

Nàng nói: “Em thấy mừng
vì ít nhất một người trong chúng ta cũng cảm thấy hài lòng với tất cả chuyện
này.”

“Ôi cưng ơi, em thấy
không hài lòng điều gì nào?” Tôi nói. “Giờ đây chúng ta đã là một thứ gì đó, ý anh là chúng ta sẽ
không bị chia lìa chỉ vì một người trong chúng ta muốn thế.”

“Nếu mà đúng như thế thì
tốt,” nàng nói.

“Em có biết mai này anh
muốn làm gì không? Anh muốn sửa lại cái nhà kho thành một ngôi nhà nhỏ riêng
biệt, để cô Alice có thể chuyển đến đây khi cô ấy đã chán công việc nấu nướng
thuê.”

“Ôi, chắc chắn rồi. Hãy
xây cả một ngôi nhà tranh cho giáo viên lớp bốn cũ của em nữa.”

“Clare?” Tôi nói.

“Ừm?”

“Em thực sự không thấy
hạnh phúc khi ở đây à? Ý anh là, đây là cuộc sống của chúng ta. Đúng không?”

“Ồ, đúng vậy. Đây là cuộc
sống của chúng ta. Anh hiểu em mà, em suy nghĩ dưới dạng phàn nàn. Đó là cách
trí óc em làm việc.”

“Đúng,” tôi nói.

Chúng tôi đứng ngắm những
ngọn núi, rồi quay sang ngắm ngôi nhà. Ngôi nhà này đã quá cũ đến nỗi linh hồn
của nó đã ngấm vào trong những bức tường. Nó không chứa những nỗi bất hạnh của
riêng ai mà là nơi ghi dấu những tháng ngày của mười thế hệ, những bữa ăn và
những cuộc cãi cọ, những lần sinh nở và những hơi thở cuối cùng. Giờ đây, ngay
lúc này, nó là một sự kết hợp tai tiếng giữa những nỗi thất vọng cũ và mới.
Những tấm ván lát sàn nhà đang mục nát, và căn bếp đã được tu sửa chật ních với
lớp vải sơn lót sàn màu cam và những cái tủ con giả gỗ kiểu Tây Ban Nha. Chúng
tôi sẽ sửa lại căn nhà, dần dần, bằng số tiền chúng tôi kiếm được nhờ tiệm ăn
của mình. Chúng tôi từ thành phố đến đây để tạo nên một cuộc sống mới với tài
năng và công cụ, cùng niềm tin vào một tương lai rộng mở. Jonathan và Clare
thường nhìn ngắm ngôi nhà và ngẫm nghĩ xem liệu nó có thể trở thành cái gì. Họ
nói về những đồ vật cố định cổ xưa, những khung cửa sổ trượt loại “tám-tám”[64], một bệ lò sưởi bằng đá vôi được lấy
từ một ngôi nhà ở Hudson và được chở về đây. Dù không phản đối sự cải tiến,
nhưng tôi vẫn thích ngôi nhà như nó vốn có, với sàn nhà thủng lỗ chỗ và những
tấm ván hóa học vân gỗ, như thể nỗi buồn và sự lười biếng đã trở thành một vật
cố định trong nhà. Nằm trên một khoảnh đất um tùm rộng tới bốn mẫu, ngôi nhà
trông thật xứng với dãy núi già. Nó cũng hiền hòa và không còn nguyên vẹn. Nó
cũng đã bị khuất phục bởi thời gian.

[64] Loại cửa sổ đôi khung trượt, với mỗi khung được
chia thành tám ô.

“Em vẫn đang nghĩ,”Clare
nói. “Nếu chúng ta sơn những ô kính cửa sổ thành màu xanh thì sao? Màu xanh cô
ban chẳng hạn, anh biết không? Anh có nghĩ trông nó sẽ quá nhí nhảnh không?”

“Hãy hỏi Jonathan ấy,”
tôi đáp. “Cậu ấy là người hiểu rõ về những thứ như thế.”

Nàng gật đầu. “Bobby
này?” Nàng nói.

“Ừ?”

“Ôi, em không biết nữa...
Em đi vòng quanh nơi này và cảm thấy mình như đang đứng trên cánh của một chiếc
máy bay ở độ cao chín nghìn mét vậy. Em cho là em muốn anh và Jonathan cũng
nghĩ giống em rằng chuyện này quả thật là lạ.”

Từ trong nhà, đứa bé bắt
đầu khóc. “Chính vì nó đấy,” Clare nói. “Em luôn tự gây ra sai lầm, trước kia
em chưa bao giờ phải lo lắng cho ai như thế này.”

“Không sao đâu,” tôi bảo
nàng. “Mọi chuyện đều ổn và hoàn hảo mà. Hãy tin anh đi. Được không?”

Nàng do dự gật đầu. Nàng
vẫn cứ lo lắng dù trong lòng cũng muốn tin. Lo lắng là một trong những yếu tố
khiến nàng hay cáu kỉnh, nàng đang cố bộc lộ một tính cách hợp với những mong
đợi tệ nhất của nàng.

“Hãy đến xem Jonathan làm
ăn ra sao với con bé nào,” nàng nói.

“Ừ. Đi thôi.”

Chúng tôi cùng nhau đi
vào nhà. Cánh cửa ra vào mở thẳng vào phòng khách, một căn phòng lớn hình chữ
nhật tồi tàn vẫn còn dán giấy có họa tiết những con chim đại bàng đỏ dữ tợn và
những cái trống màu xanh. Vào thời điểm này trong ngày, ánh nắng chênh chếch
xiên vào từ ba phía đang ngập tràn căn phòng. Jonathan đang đi một vòng với
Rebecca ngồi trên vai. Nó khóc i i, một chuỗi tiếng ngằn ngặt như những tiếng
nấc đáng xấu hổ.

“Những cơn khóc hờn vô
cớ,” cậu nói. “Tã lót của nó không hề hấn gì, và nó mới ăn nửa tiếng trước.”

“Để tôi thử xem nào,”
Clare nói.

Jonathan không giấu nổi
sự miễn cưỡng. Cậu không muốn bỏ cuộc với con bé, ngay cả với những giấc mơ của
nó. Nhưng khi Clare chìa tay ra, cậu vẫn trao nó cho nàng.

Clare ôm nó vào lòng, thì
thầm với nó: “Này, con yêu,” nàng nói. “Sao thế? Có gì không hài lòng à?”

Rebecca nặng chín cân,
với mái tóc tơ và đôi mắt sẫm dữ dằn. Mới được mười một tháng mà nó đã có tính
nết riêng. Nó hay trầm ngâm. Nó cưỡng lại cả nỗi buồn và tiếng cười cho đến khi
chúng lấn át nó, buộc nó hoàn toàn bỏ cuộc.

Clare bế nó đi quanh
phòng khách, thủ thỉ với nó. Nàng nói chuyện với con bé hệt như cách nàng nói
chuyện với Jonathan hay với tôi, trong những câu đầy đủ, nhưng khi nói với con
bé, giọng nàng không ẩn chứa một cơn thịnh nộ nào.

“Này, tiểu thư Rebecca,”
nàng nói. “Nàng chẳng biết điều gì cả. Nhưng, này, nàng cần gì phải thế nhỉ?
Chúa ơi, nếu tôi bắt đầu cằn nhằn để nàng biết điều hơn, nàng sẽ bắn tôi chứ
hả?”

Jonathan ngắm họ với vẻ
say sưa trìu mến. Thiên chức làm cha mẹ đã mang lại vài điều ngạc nhiên – điều
lớn nhất chính là sự tận tụy ghê gớm của cậu. Clare và tôi điềm tĩnh hơn trước
vẻ yếu ớt và những nhu cầu bất tận của Rebecca. Jonathan chưa hề nghỉ ngơi từ
khi con bé bước vào cõi đời này. Cậu là một bằng chứng sống cho việc sức mạnh
của tình yêu có thể làm thay đổi suy nghĩ của con người.

Giờ đây cậu đã có một thứ
cần thiết để gìn giữ. Giờ đây trong mọi câu chuyện bi kịch mà cậu tự kể đã có
một nạn nhân nhỏ bé.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.