Giang Hồ Sài Gòn - Chương 4

Chương IV

Chuồng cọp trại 7 Côn Đảo thuộc
dạng “chuồng cọp kiểu Mỹ”, mới xây sau năm Mậu Thân (cùng với trại 6).

“Chuồng cọp kiểu Mỹ” được xây
quãng cuối những năm 1960 bằng bê-tông cốt thép, lợp mái tôn - để phân biệt với
chuồng cọp kiểu Pháp ở các trại 2, 3, 4 với vách đá dày, âm u.

Thời gian ấy, Mỹ xây hai trại
giam ở Côn Đảo: trại 6 dành cho tù nhân nữ, và trại 7 dành cho tù nhân nam.

Trại 7 gồm có tám khu, được đặt
tên theo các chữ cái A-B, C-D, E-F và G-H. Cứ hai khu nằm kề nhau, có tường bao
quanh, cửa qua lại thường xuyên bị khóa. Tất cả các khu tuy nằm chung trong một
khuôn viên lớn, thực ra mỗi khu đều biệt lập: Có giám thị riêng, ban trật tự
riêng, sân tắm nắng riêng, giếng nước riêng...

Mỗi khu gồm khoảng bốn mươi
phòng, mỗi phòng diện tích đều bằng nhau, dài rộng cỡ 2,5 x 2 m, bình thường
nhốt hai người, nhưng cũng có lúc nhồi nhét ba, bốn, thậm chí năm người.

Trại 7 dùng để nhốt số can phạm
chính trị, chống chào cờ, chống kỷ luật.

Riêng khu C chủ yếu dùng nhốt tội
phạm hình sự từng có nhiều thành tích.

Khu kỷ luật của Chuồng cọp

Nói chủ yếu vì tại khu này trên
90% là tù thường phạm du đãng nổi tiếng đâm thuê chém mướn từng thành danh
trong xã hội đen và khi vô tù lại tiếp tục đánh lộn, gây rối, thậm chí giết
người, mà theo “dân chơi” là toán “thú dữ” và “có vằn có vện”. Thêm vào đó là
số ít tù thường phạm được làm an ninh, trật tự... tại đảo nếu vi phạm nội quy,
kỉ luật cũng bị nhốt vào khu C, thường chỉ trong một thời gian ngắn, gọi là để
trừng trị.

Ngoài ra, còn có nhiều tù chính
trị mới từ đất liền ra đảo chống chào cờ bị đưa vào khu C coi như một hình thức
“dằn mặt” cho sợ. Ai chịu nổi sẽ được chuyển qua các khu khác, ai chịu không
nổi sẽ phân phối về các trại khổ sai - thường anh em tù chính trị bị tạm nhốt
tại khu C chỉ trong thời gian trên dưới một tháng sẽ được phân loại để dời khỏi
nơi đây.

Riêng tôi và anh bạn cùng bị bắt
chung một vụ, anh Lê Văn Châu, được “chiếu cố” nhốt luôn tại khu C từ khi mới
bước chân ra Côn Đảo từ giữa năm 1973 cho đến ngày được giải phóng (Có lẽ vì
anh Châu khi trước là sĩ quan quân đội nguỵ đóng tại Côn Đảo sau lại theo cách
mạng, còn tôi do lần ở tù trước bị giam tại đảo khi được thả về viết nhiều bài
đăng trên báo Tin Sáng lên án chuyện nhà tù Côn Đảo; hơn nữa vụ án của chúng
tôi cũng khá đặc biệt).

Cần nói thêm, mãi về sau, đâu
khoảng đầu năm 1975, có thêm hai người tù chính trị nữa cũng “thường trú” luôn
tại khu C.

Người thứ nhất là ông Trịnh Văn
Cẩn tức Tư Cẩn (sau 30-4-75 làm Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Cửu Long), khi ở tù lấy bí
danh Tám Lô. Khi đó ông làm Bí thư của số tù nhân ngoài Côn Đảo, được anh em
lén lắp ráp cho một radio để nắm tình hình, chẳng may bị lộ, bọn giám thị tống
ông vô khu C.

Người thứ nhì là anh Võ Văn Giáo.
Anh làm y tá chăm sóc tù nhân tại các khu chuồng cọp - thực ra anh được phân
công làm nhiệm vụ này để nắm tình hình, trao đổi liên lạc giữa anh em tù nhân.
Nhưng anh bị bọn cai tù phát hiện, và cũng bị đưa luôn vào khu C trại 7.

Đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ
rất rành những tù hình sự vốn nổi tiếng bị nhốt tại khu C cùng với tôi.

Trước hết phải kể đến Biện Thành
Huệ tức Huệ Râu, vốn là trung sĩ quân cảnh (ngụy), bảo kê cho các bar và vũ
trường quanh khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, đã bắn chết một lính Mỹ say rượu.
Huệ lớn tuổi nhất trong đám, lại nhờ “thành tích” bắn chết Mỹ nên được cả đám
nể vì. Rồi Tuấn Đả, tay anh chị nổi đình đám nhất tại các tỉnh Nam Trung Phần
(từ Quy Nhơn đến Phan Thiết) dám đâm lòi ruột Sơn trắng ở quân lao Nha Trang để
giành chức “đại ca”; Lâm Chín ngón với hai án tù chung thân (do giết hai “đại
ca” trong tù là võ sĩ quyền anh Vũ Đình Cường và Hoàng Đầu lâu), Khương Đại,
Hải Méo, Hùng Be... Cư ngụ ngắn ngày tại khu C có “tướng cướp cô độc” Điền Khắc
Kim, và Nam Lương vốn thuộc đảng cướp “Con Cua Vàng” miền Tây Nam Bộ, sau làm
“quân sư” cho Đại Cathay (Điền Khắc Kim trở về đất liền để ra tòa xử án, còn
Nam Lương hình như được thả).

Có điều lạ là trong khi những tù
hình sự “thường thường bậc trung” hay gây sự, chửi bới tù chính trị thì số “đại
ca” lại có phần vị nể chúng tôi, giao hảo khá thân mật, đối xử rất phải đạo, tư
cách đàng hoàng.

Coi khu đặc biệt này tất nhiên
cũng phải là những nhân vật đặc biệt. Ngoài giám thị (thường chỉ loáng thoáng
có mặt trong giờ hành chính), người trực tiếp chỉ huy khu C từ việc nhỏ tới
việc lớn (như mở cửa đóng cửa các phòng để tù nhân luân phiên ra tắm nắng và đổ
thùng cầu, chửi mắng và đánh đập tù nhân, đi tuần trên các song sắt vốn là trần
cúa chuồng cọp...) là một tù hình sự quân phạm (quân đội ngụy phạm tội hình sự)
tên Kim Sang. Ai cũng gọi hắn là Sang lai, bởi hắn lai Miên, da như đồng hun,
cao lớn, vạm vỡ. Đặc biệt Sang lai có đôi mắt vàng ệch, mà hắn thường khoe nhờ
ăn nhiều gan “Việt Cộng” mắt mới ngả màu như vậy(!). Sang lai hễ mở miệng là
chửi bới văng tục, kể cả với tù hình sự. Riêng đối với các “đại ca” cỡ Huế Râu,
Lâm Chín ngón, Tuấn Đả hắn tuy có đôi chút nể nang nhưng khi nổi nóng lên cũng
chửi thề tuốt luốt.

Các phòng trong khu chuồng cọp
được bố trí thành hai dãy đối diện nhau, cửa bằng sắt, chỉ có lỗ thông gió nhỏ
bỏ vừa chiếc dĩa để đưa cơm và thức ăn ra vào mỗi bữa. Phía sau phòng, trên
cao, có một khoảng trống song sắt hết sức kiên cố để phòng bớt ngột ngạt. Trên
phòng không xây kín mà là song sắt chạy dài, có lối đi: Khi nào cần đàn áp, giám
thị và an ninh trật tự chỉ việc từ phía trên rải vôi bột xuống, đố tù nhân
tránh thoát. Cách lớp song sắt phía trên này khoảng 1,5-2 mét là mái tôn.

Tù nhân ở trong phòng bị đóng cửa
suốt ngày đêm, chỉ được mở khóa ra sân mỗi ngày khoảng một giờ để “tắm nắng”
theo từng nhóm phòng.

Điều cần tranh thủ làm chính
trong khoảng thời gian “tắm nắng” này là rửa thùng cầu - mỗi phòng đều có một
thùng cầu đóng bằng gỗ, trét nhựa đường; tù nhân đi cầu, đi tiêu trong đó để
giờ tắm nắng mang ra đổ, rửa, úp phơi khô - và tắm, giặt. Với các “đại ca”, có
khi được bọn trật tự khu cho ưu tiên, tắm nắng khoảng 1 giờ 30 - 2 giờ, đi qua
đi lại, vung tay vung chân cho dãn gân cốt.

Cũng như những khu khác trong
trại 7, mỗi “chuồng cọp” tại đây gồm một bể xi-măng chiếm phân nửa diện tích.
Mỗi phòng thường nhốt hai người, một nằm trên bể, một nằm dưới sàn. Các phòng
thường uyên bị xáo trộn, đổi người qua lại (có lẽ để tránh bàn chuyện vượt
ngục), cho nên trong suốt khoảng hai năm nằm tại khu C, tôi gần như ở chung với
tất cả số tội phạm hình sự. Cũng nhờ đó, tôi nắm được khá nhiều tư liệu về anh
em giang hồ hồi trước 1975 để sau này có nhiều dịp thể hiện trên mặt báo.

Với khoảng bốn mươi phòng, khu C
thường giam giữ trên dưới tám mươi tù nhân. Như trên đã nói, trần các phòng,
ngay phía dưới mái tôn là hàng song sắt để bọn trật tự coi khu có thể đi lại
trên đó. Cũng vì vậy, người ở trong phòng nếu nói lớn tiếng, các phòng chung
quanh và đối diện (tổng cộng khoảng mười hai đến mười lăm phòng) đều có thể
nghe được.

Không rõ tại các chuồng cọp khác,
anh em tù học và dạy học những gì, riêng tại khu C, thời gian tôi ở chung với
anh Giáo, anh dạy tôi chữ Hán (anh vốn làm nghề thầy thuốc Bắc, viết chữ Hán
rất đẹp, biết cả kiểu chữ thảo) và châm cứu. Còn tôi dạy anh tiếng Pháp và toán
trung học đệ nhị cấp. Tôi tự học tiếng Anh và tiếng Pháp, thời gian này học từ
vựng trong tự điển là chính. Chúng tôi cũng dạy nhau những bài thơ, bài hát về
cách mạng hoặc những bài thơ hay mà mới chỉ một trong hai người thuộc.

Còn khi bị nhốt chung phòng với
anh em tù thường phạm, anh em dạy tôi... đánh lộn. Đúng là đánh lộn chớ không
phải võ, vì hầu hết anh em không phải võ sư hay võ sĩ gì cả, mà chỉ chuyên đánh
lộn với các thế võ “sát thủ” theo kiểu học mót, miễn sao thắng được đối thủ.
Thôi thì đủ cả: bẻ tay, bẻ chân, khóa cổ, giật cùi chỏ, lên đầu gối, móc mắt,
vặn tóc... Và lại muốn học bài bản cũng không thể vì không gian chuồng cọp quá
hẹp không thể đi quyền hoặc tung những đòn cước liên hoàn. Thực ra tôi học đánh
lộn cho qua thời gian, vận động thân thể và để “ông thấy vui” là chính.

Phần tôi, tôi cũng dạy anh em học
văn hóa: tiếng Pháp, tiếng Anh tùy người muốn học; nếu không, tôi đọc truyện
Kiều, kể chuyện võ hiệp, qua đó phân tích cho anh em nghe cái hay cái đẹp của
văn chương; những hành động trọng nghĩa khinh tài, đối xử phải đạo của giới võ
lâm. Được cái trí nhớ tôi cũng khá tốt, tôi kể tương đối hấp dẫn nên anh em rất
thích nghe. Vả lại trong tù vốn chẳng có gì để giải trí nên kể chuyện dài nhiều
tập được coi là một thú tiêu khiển “giết thời gian” mà ai nấy đều thích và gọi
là “quay phim”.

Tôi còn nhớ những bộ truyện dài
như Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thủy Hử, nhất là các tập võ hiệp của Kim Dung như Cô
gái Đồ Long, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu đại hiệp, Tiếu ngạo giang hồ, Lục mạch
thần kiếm, Lộc đỉnh ký... tôi đều phải kể trên dưới một tháng mới xong. Mà thời
gian kể mỗi ngày hầu như cố định: Sau khi đóng của phòng biệt giam buổi tối túc
6 giờ, đến khi giới nghiêm túc 9 giờ.

Cứ sau khi ăn cơm chiều xong được
một lát, các phòng biệt giam bị khóa hết, tôi nằm ngửa, vận “nội công” vào
ngực, bắt đầu “quay phim” - nếu không, các phòng gần đó thế nào cũng nhắc nhở,
thúc giục cho bằng được.

Thực ra, không cần nhớ nguyên văn
100% câu chuyện, chỉ cần trên 50% là được rồi. Tả tình, tả cảnh, tả người tôi
tha hồ thêm thắt, dậm mắm dậm muối, thậm chí... bịa đại. Các thế võ cũng vậy:
Đố ai phân biệt được Võ Tòng đã “Ngọc hoàn bộ uyên ương cước”, “liên hoàn tam
cước” hay “kim kê độc lập cước” khi nghe kể “Võ Tòng nhảy vọt lên, vung hai
chân liên tục vun vút tung đòn chân nọ chưa kịp thu về chân kia đã đá ra, chỉ
nghe tiếng gió rít lên cũng đủ biết công lực mạnh biết chừng nào, tốc độ đá
nhanh biết chừng nào và trước khi Võ Tòng hạ thân mình xuống đất trở lại đã đá
tổng cộng chân phải bảy cước còn chân trái sáu cước”. Và họa có trời mới kiểm
chứng nổi có đúng là Trương Vô Kỵ sử dụng thế võ phi thân đẹp mắt chân truyền
của phái Võ Đang “thế vân tung” hay đã biến thành “vân long tam hiện” khi nghe
lời kể “Vô Kỵ lập tức giậm chân, thân hình bay bổng, lộn ba vòng trên không
trông không khác nào con rồng bay trong đám mây ẩn ẩn hiện hiện, thân pháp
khinh linh khiến ai nấy đều lắc đầu lè lưỡi khâm phục, đến nỗi có người lè lưỡi
quá dài hai ngày sau mới rụt vô lại được.”

Có khi nghe bịa đại vậy rồi tưởng
tượng ra còn sướng hơn cả đọc sách, nhất là khi ngồi một mình giữa bốn bức
tường trong biệt giam chuồng cọp.

Giữa giờ, tôi tự cho mình được
quyền “nghỉ giải lao” tùy ý, khi nào cảm thấy mệt, thường là lúc câu chuyện
đang hấp dẫn. Thế là anh em tù nhân nào có quà do người nhà gởi thăm nuôi đều
nhờ số tù trật tự (không bị giam vô biệt giam mà tự do đi lại phía bên trong
trại) mang qua “bồi dưỡng” cho tôi. Số tù trật tự này cũng rất khoái nghe tôi
kể chuyện.

Tôi còn nhớ, sau khi kể xong Lộc
đỉnh ký, tôi bỏ ra nguyên một buổi tối phân tích nhân vật chính Vi Tiểu Bảo. Vì
thính giả hầu hết là dân chơi, tôi nhấn mạnh đến khía cạnh nghĩa khí giang hồ
của gã họ Vi: Làm gì thì làm, lừa đảo ai thì lừa đảo, nhưng một khi đã kết
nghĩa anh em (chớ chưa nói đến đã nhận làm sư phụ như Trần Cận Nam; Cửu Nạn sư
thái hay vua Khang Hy) thì không bao giờ tráo trở; lại hết lòng cứu giúp chẳng
hạn đối với Tang Kết (dù chỉ là kết nghĩa bất đắc dĩ) hay Dương Dật Chi; và hễ
đã hứa là lấy chữ tín làm đầu, không hề lật lọng bao giờ. Thêm làm gì thì làm, gã
họ Vi luôn “chơi đẹp” với bất cứ ai.

Chính nhờ kể chuyện, học và tự
học, anh em giang hồ trở nên thân quen, có cảm tình với tôi. Tôi nhớ khi tôi
chẳng may bị liệt chân, một tay du đãng tại khu C là Hùng Be chuyên cõng tôi ra
tắm nắng.

Cũng chính nhờ vậy, thời gian
dường như trôi qua nhanh hơn đối với anh em tù nói chung, với anh em bị nhốt
trong chuồng cọp nói riêng.

Do khu C chủ yếu nhốt tù hình sự,
nên mọi tin tức về tình hình chính trị bên ngoài, nếu anh em tù chính trị ở các
khu khác có nắm được, cũng ít khi thông báo tới đây. Và lại, đường dây liên lạc
của anh em tù chính trị cũng rất khó thâm nhập khu C.

Đêm 30 - 4 tại khu C

Những ngày cuối tháng 4-1975, nằm
trong khu C, chúng tôi (lúc ấy tôi đang nhốt chung phòng với anh Võ Văn Giáo)
vẫn chưa hay biết một chút nào về tình hình chiến sự bên ngoài.

Chúng tôi chỉ ghi nhận hai điều
là: Thứ nhất là cả bọn trật tự khu, kể luôn Sang lai, cũng đều bị cấm ra khỏi
khu C (trước giờ chúng thường được đặc cách cho ra khỏi khu, khỏi trại - trừ
ban đêm - để dạo phố Côn Đảo, mua đồ ăn thức uống, thăm bạn bè...). Sau này tôi
mới đoán chừng có lẽ bọn giám thị sợ số trật tự nắm được tình hình bất lợi cho
bọn chúng sẽ nói lại với anh em tù chính trị. Thứ hai, tuy nằm trong trại biệt
giam nhưng vẫn nghe tiếng máy bay gầm rú, hình như lên xuống liên tục tại sân
bay Côn Đảo. Mãi đến sau ngày giải phóng, tôi mới nghe kể lại, vào ngày 28 hoặc
29 - 4 gì đó, trong số máy bay lên xuống có một trực thăng từ đất liền bay ra,
thả xuống ngay giữa thị trấn Côn Đảo mảnh vải lớn có hàng chữ ghi nội dung vắn
tắt Sài gòn đã thất thủ, mạnh ai nên tự tìm đường nấy trốn.

Khoảng tám giờ tối 30 - 4, chúng
tôi nghe văng vẳng hình như bên phía mấy khu khác của trại 7 có tiếng thông
báo, nhưng tiếng được tiếng mất. Lúc ấy chân phải tôi bị liệt, đi lại rất khó
khăn, nên anh Giáo bàn với tôi, tôi ráng đứng trụ để anh leo lên vai tôi, hóng
tai ra ngoài nghe thử (như đã mô tả, phía sau mỗi chuồng cọp đều có khoảng
trống nhỏ thông hơi với nhiều song sắt. Tù nhân thường đòng đòng nhau cố đưa
miệng qua khoảng trống này để thông báo tình hình cho nhau). Tuy nhiên anh Giáo
dù dỏng tai cố nghe, vẫn tiếng được tiếng mất không rõ anh em nói những gì.

Bọn tù thường phạm bị những tiếng
nói vang vang kia quấy phá, cộng thêm nỗi bực tức vì bị nhốt cả tuần nay khiến
chúng lớn tiếng chửi thề và hăm dọa. Tôi không tiện ghi hết những lời thô tục
của bọn chúng, chỉ xin nói đại khái “Câm họng cho ông ngủ”, “Ngày mai ông sẽ
cho biết tay”, “Bộ chúng mày hết muốn sống rồi hay sao”, v.v... Những tiếng
chửi thề và lời lẽ hung hăng của chúng chứng tỏ quả thật chúng không hay biết
gì về những diễn biến của thời cuộc bên ngoài. Tất cả những sự ồn ào, nhộn nhạo
này khiến chúng tôi không thể nào nhắm mắt nổi. Anh Giáo và tôi suy đoán đủ
thứ, nhưng không hề nghĩ rằng miền Nam đã hoàn toàn được giải phóng vào lúc ấy.

Đến khoảng quá nửa đêm, những
tiếng ồn ào ngày càng vang lên từ xa xa, mơ hồ hình như có tiếng la “Giải phóng
rồi! Giải phóng rồi!” Anh Giáo và tôi còn đang bán tín bán nghi thì tiếng ồn ào
càng lúc càng lại gần, càng rõ hơn. Rồi, chúng tôi không dám tin ở tai mình, và
ngay cả mắt mình nữa: Tiếng loảng xoảng mở cửa khu C, rất nhiều người ùa vào.
Có tiếng ai đó hỏi “Anh em tù chính trị ở phòng nào?”. Chúng tôi vừa lên tiếng
đã thấy khóa phòng mở toang...

Từ đó cho đến tận mấy ngày sau,
tôi như sống trong giấc mơ. Mọi diễn biến quá nhanh khiến tôi không kịp suy
nghĩ, trí óc cứ bồng bềnh, phiêu lãng tận đâu đâu. Tôi chỉ còn nhớ lập tức tôi
được dìu ra bệnh xá, thuốc men, ăn uống chăm sóc tối đa. Trong khi những anh em
tù chính trị mới được thả ra tung tăng đi lại khắp Côn Đảo, dự mít-tinh, giữ
trật tự, bắt bọn giám thị tống vô trại giam... thì tôi nằm bẹp một chỗ, những
anh em quen biết tới thăm hỏi, quà cáp liên tục.

Tôi còn nhớ rõ, vừa khi ấy Côn
Đảo hình như bắt được một tàu đánh cá hay sao đó, đem lên không biết bao nhiêu
cá ngừ và cá thu mang nướng, rồi bắt được vích (rùa biển) nấu cà-ri, giết heo,
mổ bò, thức ăn dồi dào không cách nào ăn hết, ăn cho bỏ những ngày chỉ toàn cá
khô mục đắng nghét hoặc mắm kho lõng bõng nước. Đã thế, số anh em nằm bệnh xá
còn được chăm sóc đặc biệt bằng cách làm thịt một chú cẩu gọi là để “bồi
dưỡng”.

Nằm chữa và dưỡng bệnh, tôi nghe
kể vô số chuyện thú vị về Côn Đảo những ngày đầu giải phóng. Nào giám thị
trưởng Nguyễn Văn Thà tức Ba Thà bắn súng vào đầu tự sát ngay tại nhà riêng.
Nào Chín Khương, trưởng ban chuyên môn tại Côn Đảo (ban giám thị chuyên theo
dõi, đàn áp và đánh đập tù chính trị), dùng thuyền nhỏ chạy tuốt ra hòn Bãi
Cạnh nhưng bị anh em đuổi theo bắt được, nhốt vô chuồng cọp (đúng là ác giả ác
báo!)... Rồi chuyện bọn địch có chỉ thị ném vô mỗi chuồng cọp một trái lựu đạn
để tiêu diệt hết anh em, nhưng nhờ cha xứ nhà thờ Côn Đảo, một đại úy địa
phương quân (ngụy), và một giám thị tốt bụng nên âm mưu độc ác này đã không thể
thực hiện...

Riêng số tù hình sự ở chung khu C
trại 7 với tôi, tôi bẵng đi quên không hỏi đến và cũng không nghe ai nói đến.
Thực ra, vào thời điểm lịch sử như vậy, nào ai để ý tới chuyện lặt vặt của mấy
anh chàng du đãng đang bị nhốt?

Bản thân tôi, như đã nói, như
sống trong giấc mơ cho đến ngày có hai chiếc tàu của hải quân Trung Quốc cập
bến Côn Đảo để chở tù chính trị về đất liền. Sức chứa mỗi tàu chỉ khoảng một
trăm năm mươi người, mà tù chính trị tại Côn Đảo lên tới hơn năm ngàn người thì
làm sao chở hết. Cho nên, trên hai chuyến tàu đầu tiên rời đảo chỉ ưu tiên cho
những anh chị em bệnh tật, già yếu, trong đó có tôi.

Tàu thả neo tại Vũng Tàu, ngay
bên cảng Rạch Dừa, xe hơi đón anh chị em về Sài Gòn. Nhưng khi mới giải phóng,
cầu Cỏ May bị đánh sập chưa sửa kịp nên phải “tăng-bo” qua khúc sông này. Vì
vậy, số ít anh chị em do bệnh quá nặng hoặc đi lại khó khăn được đưa vô bệnh
viện Vũng Tàu điều trị, chờ thuyên giảm mới về Sài gòn sau. Số này chỉ đâu
khoảng hơn hai mươi người, và do đó tôi tiếp tục vô nằm bệnh viện Vũng Tàu...

Số phận của tù nhân du đãng trong Chuồng cọp

Mãi sau này, gặp lại Huế Râu,
Hùng Be tại thành phố Hồ Chí Minh, tôi mới nghe kể lại tình hình của khu C ngay
sau ngày giải phóng.

Tù chính trị trong khu C được thả
ra, còn số tù hình sự đương nhiên vẫn bị nhốt trong Chuồng cọp. Mọi sinh hoạt
của số tù nhân này vẫn diễn ra bình thường, có điều ngay qua ngày hôm sau, anh
em tù hình sự mà cầm đầu là các “đại ca” bắt Sang lai trả món nợ máu. Họ hòa
một chén gồm phân và nước tiểu, bắt Sang lai quỳ xuống, ra điều kiện: Hoặc hắn
phải uống hết chén nước rất mất vệ sinh đó, hoặc chịu bề hội đồng (nghĩa là xúm
nhau đánh cho thừa sống thiếu chết). Sang lai hết khóc lóc lại lạy như tế sao
van xin tha tội, nhưng cuối cùng không còn cách nào khác đánh ục một hơi hỗn
hợp trong chén!

Rồi có lẽ do anh em tù chính trị
quá lo “đại sự”, chỉ đối phó với bọn giám thị trại giam và vô số công việc hành
chánh khác mà quên phắt số tù hình sự này và mặc kệ bọn họ muốn làm gì thì làm.
Vậy là bọn họ chia thành hai “trường phái”: Một cứ mặc kệ, sống tà tà chờ mọi
chuyện tới đâu thì tới. Huế Râu, Lâm Chín ngón thuộc nhóm này. Một nhân cơ hội
tranh tối tranh sáng rủ nhau phá kho tang vật, cướp bóc đồ đạc, lên núi tìm
cách kết bè trốn về đất liền. Tuấn Đả, Khương Đại, Hải Méo cầm đầu nhóm này.

Kết quả nhóm thứ hai phá được kho
tang vật, lấy đi khá nhiều tiền bạc, đồng hồ, nữ trang... mà tù nhân buộc phải
ký gởi tại kho một khi vừa bước chân lên Côn Đảo. Cướp được đồ, bọn chúng hí
hửng trốn vào rừng núi Côn Đảo. Nhưng Côn Đảo vốn hẹp, chỗ đâu mà trốn? Lại nữa
vô núi đào đâu ra thực phẩm, nước uống? Đóng thuyền kết bè nào phải ngày một
ngày hai? Chẳng mấy lúc, bọn chúng lần lượt bị bắt sạch không còn một mống. Và
theo chế độ quân quản khi ấy, tất cả bọn chúng đều bị mang ra xử bắn.

Nhóm thứ nhất gần như sau đó đều
được xét thả tự do, trừ Lâm Chín ngón do mang hai án tù chung thân nên tiếp tục
bị ở tù, bị đưa ra ngoài Bắc nhốt chung với mười viên tướng chế độ cũ để học
tập cải tạo.

Mãi hơn mười năm sau, Lâm Chín
ngón mới được thả về. Nhưng đó lại là một câu chuyện khác mà tôi sẽ kể sau...

Mãi tới bây giờ, thỉnh thoảng
trong những giấc mơ tôi vẫn thấy mình bồng bềnh nằm trong chuồng cọp khu C trại
7 Côn Đảo cùng sống chung với số tù hình sự, có lẽ do những hình ảnh này đã ăn
sâu vào tiềm thức, chiếm một vị trí nhất định nào đó trong bộ nhớ của tôi,
không có cách nào xóa sạch.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.