Việt Sử Giai Thoại (Tập 2) - Chương 06 - 07 - 08

06 - LÊ PHỤNG HIỂU VÀ SỰ TÍCH THÁC
ĐAO ĐIỀN

Lê Phụng Hiểu người đất Băng
Sơn, Châu Ái, nay là xã Dương Sơn, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, không rõ
sinh và mất năm nào. Thuở hàn vi, ông nổi tiếng là người khỏe mạnh và võ nghệ
hơn người. SáchĐại Việt sử kí toàn thư(bản kỉ, quyển 2 tờ
12b) có đoạn chép về ông như sau:

“Hai thôn Cổ Bi và Ðàm Xá
tranh nhau địa giới, toan đánh nhau. Phụng Hiểu bảo người Cổ Bi rằng:

- Một mình tôi có thể đánh được bọn họ.

Các vị bô lão mừng lắm, bèn
làm cơm rượu để thết đãi. Phụng Hiểu ăn một bữa mấy đấu gạo liền, uống cũng quá
mức, rồi đến khiêu chiến với thôn Ðàm Xá. Phụng Hiểu cứ đứng thẳng lưng mà nhổ
cây đánh tới tấp, nhiều người bị thương. Thôn Ðàm Xá sợ, phải trả lại ruộng cho
thôn Cổ Bi.”

Nhờ danh tiếng ấy mà ông
được Lý Thái Tổ dùng, cho làm tướng, thăng dần đến chức Vũ vệ tướng quân. Năm
Mậu Thìn (1028), vua Lý Thái Tổ mất, tam vương là Đông Chinh, Dực Thánh, Vũ Đức
mưu giết Thái tử Phật Mã để giành ngôi. Lê Phụng Hiểu cùng các tướng như Dương
Bình, Quách Thịnh và Lý Huyền Sư có công lớn trong việc dẹp loạn. Chính Lê
Phụng Hiểu là người đã chém Vũ Đức Vương chết ngay trong cung thành. Cũng sách
trên đã chép:

“Bọn Phụng Hiểu trở về, mặc
áo trận đi vào báo tin thắng trận trước linh cữu Thái Tổ, rồi đến điện Càn
Nguyên báo cho Thái tử biết. Thái tử úy lại rằng:

- Ta sở dĩ được gánh vác cơ nghiệp to lớn của
tiên đế, toàn vẹn được thân thể do cha mẹ sinh ra, đều là nhờ sức của các khanh
cả. Ta thường xem sử nhà Ðường thấy Uất Trì Kính Đức cứu nạn cho vua, tự nghĩ
là bề tôi đời sau không ai sánh được. Ngày nay gặp biến mới biết Phụng Hiểu còn
trung dũng hơn Kính Đức nhiều.

Phụng Hiểu lạy tạ hai lạy
rồi nói:

- Đức của Điện hạ cảm động cả trời đất, kẻ nào
manh tâm mưu đồ gì khác thì trời đất thần linh đều vì chức phận mà giết đi, bọn
thần có công sức gì?”

Khi Thái Tông lên ngôi, Lê
Phụng Hiểu được phong chức Đô thống thượng tướng quân, tước hầu. Sau, Lê Phụng
Hiểu lại lập công lớn, danh tiếng vang khắp cả nước. Vua Lý Thái Tông định công
ban thưởng, Lê Phụng Hiểu thưa rằng:

- Thần không muốn thưởng tước, chỉ xin cho về
ở núi Băng Sơn, ném dao lớn đi xa, dao rơi đến chỗ nào trong đất công thì xin ban
cho làm sản nghiệp. Vua nghe theo Phụng Hiểu lên núi, ném dao xa đến hơn mười
dặm, rơi xuống thôn Đa Mi. Vua lấy số ruộng ấy ban cho, tha thóc thuế cho ruộng
ném dao ấy. Vì vậy, người Châu Ái gọi ruộng thưởng công là ruộng ném dao.”

Lời bàn:Có tài mà đem tài một
lòng giúp vua, ấy là đấng lương đống của nước nhà. Vua biết thành tâm trọng
dụng người tài, ấy là đấng minh quân. Lê Phụng Hiểu và hai vua đầu triều Lý gặp
nhau ở chỗ cùng lòng vì xã tắc.

Phụng Hiểu dẫu khoẻ mạnh bao
nhiêu cũng chẳng thể ném dao lớn đi xa hơn mười dặm. Con dao ấy đã bay xa khác
thường bởi nó có thêm sức đẩy của nhà vua và những triều thần ngưỡng mộ ông.
Vua nhân chuyện ném dao mà đặt lệthác đaođiền (ruộng ném
dao) cho cả một triều đại, bảo văn thần võ tướng sao không một lòng vì vua mà
cống hiến được?

Thế mới biết chỉ có người
tài mới dùng được người tài, người khoáng đạt mới dùng được người có chí lớn
vậy.

07 - ĐỀN THỜ THẦN NÚI ĐỒNG CỔ Ở THĂNG
LONG

Núi Đồng Cổ tức là núi Khả
Phong ở Thanh Hóa. Dân gian cho rằng trên núi ấy có vị thần rất thiêng, từng
giúp vua Lý Thái Tổ đánh tan quân Chiêm Thành nên được triều Lý ban sắc phong
rất trọng hậu. Năm Mậu Thìn (1028), vua Lý Thái Tông đã ban cho thần núi Đồng
Cổ tước vương và cho dựng đền thờ ở ngay trong kinh thành Thăng Long, hàng năm
cúng tế rất tươm tất. SáchĐại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ quyển 2,
tờ 15 - a) chép rằng:

“Trước đó, cách một ngày
trước khi tam vương làm phản, Vua mơ thấy một người tự xưng là thần núi Đồng
Cổ, nói với Vua về việc tam vương là Vũ Đức, Đông Chinh và Dực Thánh làm loạn,
phải mau đem quân dẹp ngay. Tỉnh dậy, Vua liền sai phòng bị, quả nhiên ứng
nghiệm. Đến đây (ngày 15 tháng 3 năm Mậu Thìn, 1028) xuống chiếu giao cho hữu
ti dựng miếu ở bên hữu thành Đại La, phía sau chùa Thánh Thọ, lấy ngày 25 tháng
ấy (tháng 3) đắp đàn trong miếu, cắm cờ xí, chỉnh đốn đội ngũ, treo gươm giáo ở
trước thần vị, đọc lời thề rằng: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần
minh giết chết.” Các quan từ cửa đông đi vào, đến trước thần vị, cùng uống máu
ăn thề, hàng năm lấy làm lệ thường. Sau vì tháng ba có ngày quốc kị, chuyển
sang ngày mồng 4 tháng 4.”

Lời bàn:Lý Thái
Tổ mượn uy thần linh sông núi để cổ vũ binh sĩ Nam chinh, Lý Thái Tông mượn uy
thần linh sông núi để cố kết lòng người, trong chỗ tin dị đoan chung của cả hai
vị hoàng đế này, xem ra cũng có chút giá trị thực tế ở mục đích cuối cùng của
nó. Nhưng, uy danh thần linh lại do con người tạo ra, cho lúc này để mượn lại
lúc khác, lạ thay!

Người xưa thờ thần đôi khi
chẳng phải vì tin là thật sự có thần linh mà lắm lúc chỉ vì muốn tạo thêm thế
lực cho người có thế lực vậy. Lễ thề ở đền thờ núi Đồng Cổ có lẽ cũng được tổ
chức vì mục đích ấy chăng? Lễ này càng về sau càng được quy định thêm những
nghi thức rất chặt chẽ, danh nghĩa là kính thần mà thực là kính lo sự an bình
của xã tắc và của triều chính đó thôi.

08 - CHUYỆN SƯ HƯU VÀ HÒM XÁ LỊ

Cómột câu chuyện ngồ
ngộ xẩy ra vào năm Giáp Tuất (1034) đã được sáchĐại Việt sử kí toàn
thư
(bản kỉ, quyển 2, tờ 22 - b và tờ 23 - a) chép như sau:

“Năm ấy, sư Hưu ở chùa Pháp
Vân, châu Cổ Pháp (Bắc Ninh) tâu rằng: Trong chùa ấy phát ra mấy luồng ánh
sáng. Theo chỗ ánh sáng (phát ra) ấy mà đào xuống thì được một cái hòm bằng đá.
Trong hòm đá, có cái hòm bằng bạc. Trong hòm bạc lại có cái hòm bằng vàng.
Trong hòm vàng, có cái bình lưu li (lưu li là tên một loại ngọc, bình lưu li là
bình ngọc lưu li). Trong bình (lưu li) đựng xá lị. Vua sai rước vào cấm điện,
xem xong thì trả lại.”

(Thuyết nhà Phật gọi xá lị
là tinh túy do tinh khí tụ lại khi đốt xác, lửa không đốt cháy được nên gọi là bảo.
Tương truyền người nào học phật thành thì thân hóa như thế).

Lời bàn:Thời Lý, Phật giáo rất
thịnh, thậm chí, cũng có thể coi là quốc giáo. Bởi Phật thịnh nên địa vị của
các nhà sư trong xã hội rất cao. Ngay cả hoàng đế cũng có người bỏ cả ngai vàng
mà đi tu.

Song, nhân thời Phật thịnh
mà bày đặt chuyện hoang đường để mê hoặc người đương thời và làm cho hậu thế
phải chê trách. Ấy là hành vi rất xa lạ với nhà Phật. Thời Lý, nước nhà có
không ít bậc cao tăng uyên thâm giáo lí, thấu đáo Phật sử, đạo hạnh cũng hơn
người, một lòng một dạ lo tìm cách cứu nhân độ thế. Còn sư Hưu…!

Báo cáo nội dung xấu