Việt Sử Giai Thoại (Tập 2) - Chương 03 - 04 - 05
03 - CÁI CHẾT CỦA ĐÀO KHÁNH VĂN
Đào Khánh Văn sinh năm nào
không rõ, chỉ biết ông từng làm quan dưới thời Lý Thái Tổ và tháng 4 năm Tân
Hợi (1011), ông được cùng với Lý Nhân Nghĩa cầm đầu phái bộ sứ giả sang nhà
Tống. Năm trước (1010), Lý Thái Tổ được vua Tống tấn phong là Giao chỉ Quận
vương, Tĩnh hải Tiết độ sứ, cho nên năm này, Lý Thái Tổ sai hai người sang nhà
Tống đáp lễ. Đến nơi, Đào Khánh Văn bỏ trốn sứ bộ và xin thiên triều cho ở lại
Trung Quốc, nhưng nhà Tống lại bắt Đào Khánh Văn giao trả cho ta. SáchĐại
Việt sử kí toàn thư(bản kỉ quyển 2, tờ 5 - a) cho biết là bởi tội này
mà Đào Khánh Văn bị triều Lý xử tội, lấy gậy đánh cho đến chết.
Khác với Đào Khánh Văn, Lý
Nhân Nghĩa là bậc trung thần, sau, ông từng có công lớn trong việc dẹp loạn Tam
vương, làm quan trải hai triều là Thái Tổ và Thái Tông, danh thơm còn lưu mãi
trong sử sách.
Lời bàn:Ngay khi mới lên ngôi.
Lý Thái Tổ đã tỏ rõ khả năng và bàn lĩnh của mình. Một giai đoạn phát triển
mạnh mẽ của đất nước đã được chính vua Lý Thái Tổ mở ra. Sử cũ đã phải viết:
“Vua ứng mệnh trời, thuận lòng người, nhân thời mở vận, là người khoan thứ nhân
từ, tinh tế hòa nhã, có lượng đế vương.” Vua tin cậy mà trao trọng trách đi sứ
thiên triều cho Đào Khánh Văn Tiếc thay, đáp lại lòng tin đó, Đào Khánh Văn đã
quẫn trí mà bỏ trốn, làm nhục quốc thể để rồi phải chết trong đớn đau và nhục
nhã. Danh giá chết trước, thể xác lại chết sau, đường Khánh Văn đi là đường
ngược đạo lí. Kẻ nào đang định lợi dụng xuất dương công cán để bỏ xứ mà đi, xin
hãy trông gương Đào Khánh Văn.
04 – ĐIỀM BÁO TRƯỚC VIỆC VUA LÝ THÁI
TÔNG RA ĐỜI
Vua Lý Thái Tông (1028 - 1054)
tên húy là Phật Mã, lại có tên húy khác là Đức Chính, con trưởng của vua Lý
Thái Tổ. Mẫu thân của Thái Tông là hoàng hậu họ Lê, sinh ra Vua vào ngày 26
tháng 6 năm Canh Tí (1000), khi Thái Tổ còn là đại thần của triều Tiền Lê (980
- 1009). Vua Lý Thái Tông mất năm Giáp Ngọ (1054), thọ năm mươi tư tuổi.
Lí lịch tóm lược của vua Lý
Thái Tông có lẽ chỉ thế cũng đã tạm đủ, thế nhưng, chừng như để cho thêm phần
li kì, người ta đã tặng thêm cho ông một đoạn không lấy gì làm vẻ vang. Đoạn ấy
đã được sáchĐại Việt sử kí toàn thư(bản kỉ, quyển 3, tờ 17b)
ghi lại như sau:
“Lúc Vua mới sinh ở phủ Trường
Yên (Ninh Bình ngày nay) có con trâu của nhà dân tự nhiên thay sừng. Người ấy
cho là điềm gở, lòng lấy làm lo lắng lắm. Có người giỏi chiêm nghiệm đi qua nhà
ấy, cười mà nói rằng, đó là điềm đổi mới, có can dự gì đến nhà anh. Nghe vậy,
người ấy mới hết lo.”
Lời bàn:Đời
cha thì được báo trước bởi con chó lông trắng có đốm đen ở châu Cổ Pháp, nay
đến đời con thì được báo trước bởi con trâu thay sừng ở phủ Trường Yên. Coi hai
việc ngẫu nhiên ấy làm điềm báo trước cho sự ra đời của hai vị vua, sự ấy mới
lạ lùng làm sao!
05 - LOẠN TAM VƯƠNG
Có một sự kiện rất đáng tiếc
đã xảy ra trong cung đình nhà Lý ngay sau khi vua Lý Thái Tổ mất (năm Mậu Thìn
- 1028) đã được sáchĐại Việt sử kí toàn thư(bản kỉ, quyển 2,
tờ 11a - b và tờ 12 - a) ghi lại như sau:
“Mùa xuân, tháng 2 Vua không
khoẻ. Tháng ba, ngày mồng một là ngày Bính Thân, có nhật thực. Đến ngày Mậu
Tuất (tức 3 - 3), Vua băng ở điện Long An. Bầy tôi đều đến cung Long Đức xin
Thái tử (Phật Mã) vâng di chiếu lên ngôi. Tam vương là Đông Chinh, Dực Thánh và
Vũ Đức nghe tin, đều đem quân ở phủ mình vào phục sẵn trong cấm thành. Đông
Chinh Vương phục ở trong Long Thành, hai vương Dực Thánh và Vũ Đức phục trong
cửa Quảng Phúc, cùng đợi Thái tử đến thì đánh úp. Một lúc sau, Thái tử đi từ
cửa Tường Phù vào, đến điện Càn Nguyên thì biết có biến, bèn sai người hầu đóng
hết các cửa điện và sai vệ sĩ ở trong cung phòng giữ. Thái tử nhân đó bảo tả
hữu rằng:
- Ta đối với anh em không phụ bạc chút nào.
Nay tam vương làm việc bất nghĩa, quên di mệnh của tiên đế, muốn mưu chiếm ngôi
báu, các khanh nghĩ thế nào?
Nội thị là Lý Nhân Nghĩa nói:
- Anh em với nhau, bên trong có thể hiệp sức
bàn mưu, bên ngoài có thể cùng nhau chống giặc. Nay tam vương làm phản, thì là
anh em hay là kẻ thù? Xin cho chúng thần được đánh một trận để quyết được thua.
Thái tử nói:
- Ta lấy làm xấu hổ là tiên đế mới mất, thi
thể chưa quàn mà cốt nhục đã đánh nhau, há chẳng để cho muôn đời chê cười sao?
Nhân Nghĩa nói:
- Thần nghe rằng, muốn mưu xa thì phải quên ơn
gần, giữ đạo công thì phải dứt tình riêng, đó là việc Ðường Thái Tông và Chu
Công Đán bất đắc dĩ phải làm. (Ý muốn chỉ việc Ðường Thái Tông giết hai anh,
Chu Công Đán giết em là Quản Thúc để giữ ngôi vua cho Ðường Thái Tông và cho
Chu Thành Vương). Nay, điện hạ có cho Ðường Thái Tông và Chu Công là chăm mưu
xa và giữ đạo công chăng? Hay (hai người ấy) chỉ tham công gần và đắm tình
riêng chăng? Điện hạ biết theo dấu cũ của Đường Thái Tông và Chu Công thì đời
sau ca tụng công đức còn chưa hết, còn đâu mà chê cười?
Nhân Nghĩa lại nói:
- Tiên đế cho điện hạ là người hiền, đủ để nối
được chí, có tài để làm nổi việc, nên đem thiên hạ phó thác cho điện hạ. Nay
giặc đến vây bức cửa cung mà ẩn nhẫn như thế, thì đối với sự phó thác của tiên
đế ra sao?
Thái tử im lặng hồi lâu rồi
bảo Nhân Nghĩa và bề tôi trong cung là bọn Dương Bình, Quách Thịnh, Lý Huyền
Sư, Lê Phụng Hiểu rằng:
- Ta há lại không biết việc làm của Ðường
Thái, Chu Công hay sao? Chỉ vì ta muốn che giấu tội ác của tam vương, khiến họ
tự ý rút quân chịu tội để được vẹn toàn tình cốt nhục là hơn.
Khi ấy, phủ binh của tam
vương vây bức càng gấp, Thái tử liệu không thể ngăn được, liền nói:
- Thế đã như vậy, ta còn mặt mũi nào trông
thấy tam vương nữa. Ta chỉ biết làm lễ thành phục (lễ mặc đồ tang) đến hầu tiên
đế, ngoài ra đều ủy thác cho các khanh cả.
Bọn Nhân Nghĩa đều lạy hai
lạy, nói:
- Chết vì vua gặp nạn là chức phận của chúng
thần. Nay đã được chỗ đáng chết, còn từ chối gì nữa.
Nói xong, bèn ra lệnh cho vệ
sĩ trong cung mở cửa ra đánh, ai cũng vui lòng xông phá, có sức một người chọi
với cả trăm người. Khi quân đánh nhau chưa phân được thua, Phụng Hiểu tức giận
rút gươm chạy thẳng đến cửa Quảng Phúc, hô to rằng:
- Bọn Vũ Đức Vương ngấp nghé ngôi báu, không
coi vua nối dõi vào đâu, trên quên ơn tiên đế, dưới trái nghĩa tôi con, vì thế
thần là Phụng Hiểu xin đem thanh gươm này để dâng.
Nói rồi, xông thẳng đến chỗ
ngựa của Vũ Đức Vương. Vương quay ngựa tránh, ngựa qụy xuống, bị Phụng Hiểu bắt
giết. Phủ binh của tam vương thua chạy, quan quân đuổi theo chém chết không sót
một tên nào, chỉ có hai vương là Đông Chinh và Dực Thánh chạy thoát được.
Lời bàn:Dẫu là người dưng mà
chém giết nhau để giành quyền cao chức trọng, cũng đã đủ để tiếng xấu đến muôn
đời, huống chi là anh em ruột thịt, nồi da nấu thịt. Đông Chinh, Dực Thánh và
Vũ Đức làm sao có thể gọi là hợp mưu để giết Phật Mã được? Ngôi vua thì chỉ có
một, dẫu có giết được Phật Mã đi chăng nữa, chẳng lẽ sau đó, cả ba lại cùng
nhau làm vua? Cả ba chỉ lừa nhau, liên minh giả dối với nhau để rồi kẻ thắng
thế duy nhất cũng chính là kẻ nham hiểm cao tay nhất.
Đông Chinh và Dực Thánh chạy
thoát lưỡi gươm đương thời, nhưng làm sao thoát được lời búa rìu khinh ghét của
muôn đời!

