Việt Sử Giai Thoại (Tập 1) - Chương 21 - 22
21- BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG
PHÙNG HƯNG
Phùng
Hưng quê ở Đường Lâm. Đất quê ông nay thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Phùng
Hưng sinh năm nào chưa rõ, chỉ biết ông mất vì bệnh vào năm Kỷ Tỵ (789). Sinh
thời, Phùng Hưng là người khỏe mạnh và dũng lược. Chính ông đã phát động và
lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa rất lớn, đập tan chính quyền đô hộ của nhà Đường,
xây dựng nền độc lập tự chủ trong một thời gian khá dài. TrongViệt
điện u linh tập, Lý Tế Xuyên đã dựa vào ghi chép củaTriệu Vương
Giao Châu kímà chép chuyện về Phùng Hưng như sau:
“Vương
họ Phùng, huý là Hưng, ông và cha của Vương đều nối đời làm tù trưởng của đất
Đường Lâm. Chức tù trưởng bấy giờ gọi là Quan Lang. Tục gọi như thế, hiện nay ở
mạn ngược vẫn còn. Vương con nhà giàu nhưng hay giúp đỡ kẻ nghèo, đã thế, Vương
lại khỏe mạnh, có thể đánh được hổ, vật được trâu. Em Vương là (Phùng) Hãi cũng
có sức mang nổi ngàn cân, cõng được thuyền chứa ngàn hộc mà đi luôn mười dặm.
Gần xa nghe tiếng đều lấy làm sợ. Thời niên hiệu Đại Lịch của nhà Đường, nước
ta rối loạn, Vương cùng em đem binh đi chinh phục khắp các vùng ở lân cận.
Vương đổi tên là Cự Lão và xưng là Đô quân, còn em Vương thì đổi tên là Cự Lực
và xưng là Đô bảo, anh em cùng nhau làm theo kế sách của một người cùng làng,
tên là Đỗ Anh Luân, đem đại binh đi tuần thú khắp các châu Đường Lâm và Trường
Phong, uy danh lừng lẫy, khiến ai cũng phải theo phục. Vương cho phao tin rằng
sẽ đánh phủ đô hộ. Quan đô hộ của nhà Đường là Cao Chính Bình đem quân đi đánh,
bị thua, sợ quá phát bệnh mà chết. Vương vào phủ đô hộ, nắm quyền trị dân được
bảy năm thì mất.
Bấy
giờ, nhiều người muốn lập em của Vương là Phùng Hãi lên thay, nhưng quan Đầu
Mục có sức khỏe lạ thường là Bồ Phá Cần lại quyết chí không cho, bắt phải lập
con Vương là Phùng An. Phùng An lên nối ngôi, bèn đem quân đánh Phùng Hãi.
Phùng Hãi sợ Bồ Phá Cần nên lánh vào động Chu Nham, sau không biết là đi về
đâu.
Phùng
An tôn Vương làm Bố Cái Đại Vương. Nước ta gọi cha là bố, gọi mẹ là cái nên
Phùng An mới tôn Vương làm Bố Cái Đại Vương như vậy. Hai năm sau đó, vua Đường
Đức Tông sai Triệu Xương sang làm đô hộ nước ta. Triệu Xương tới nơi, trước
hết, cho sứ giả mang lễ vật đến dụ dỗ Phùng An. Phùng An xin hàng phục. Từ đó,
họ Phùng tản mác mỗi người một nơi.
Sau
khi mất, Bố Cái Đại Vương rất hiển linh. Dân các làng thường nghe có tiếng ngựa
xe đi lại ầm ầm trên nóc nhà hoặc trên ngọn cây cao, ngẩng trông thì thấy ẩn
hiện trong những đám mây là cờ ngũ sắc và kiệu vàng rực rỡ, lại có cả tiếng
nhạc văng vẳng nữa.
Bấy
giờ, nếu có việc lành hay dữ sắp xảy ra thì thế nào đêm đến cũng sẽ có dị nhân
báo cho các vị hào trưởng biết để thông tin cho cả làng hay, cho nên, ai cũng
lấy làm lạ, bèn cùng nhau lập đền thờ Vương ở phía tây của phủ đô hộ. Đền thờ Vương
rất linh thiêng, mọi việc cầu mưa, cầu tạnh đều được linh ứng. Ai gặp việc khó
khăn như bị kẻ xấu lấy trộm hoặc giả là muốn cầu tài, đến lễ thần đều được như
ý. Bởi vậy, người đến lễ rất đông, khói hương chẳng lúc nào dứt.
Khi
Ngô Tiên Chủ (chỉ Ngô Quyền) dựng nước, bọn giặc Nam Hán sang cướp nước ta. Ngô
Tiên Chủ ngày đêm lo nghĩ tìm cách chống đánh. Thế rồi một đêm, Ngô Tiên Chủ
nằm mơ, thấy có một cụ già áo mũ chỉnh tề, đến nói rõ họ tên của mình và bảo
rằng:
-
Tôi đã trù tính, sắp sẵn các đội thần binh để giúp sức nhà vua, xin nhà vua hãy
gấp tiến binh, đừng lo nghĩ gì cả.
Đến
khi Ngô Tiên Chủ ra đánh giặc ở sông Bạch Đằng, nghe trên không có tiếng binh
mã ầm ầm, và quả nhiên trận ấy được đại thắng. Ngô Tiên Chủ lấy làm lạ, liền
sai sửa sang ngôi đền, khiến cho đền rộng rãi và lịch sự hơn xưa. Xong, Ngô
Tiên Chủ thân đem các thứ lễ vật cùng cờ quạt chiêng trống đến để tế lễ. Sau,
các triều quen dần thành lệ. Thời Trần, vào năm Trùng Hưng thứ nhất (1285), nhà
vua sắc phong là Phù Hựu Đại vương. Năm Trùng Hưng thứ tư lại gia phong thêm
hai chữ Chương Tín. Năm Hưng Long thứ 20 (tức năm 1312) vua (Trần Anh Tông) gia
phong thêm hai chữ Sùng Nghĩa nữa. Đến nay, sự linh thiêng vẫn được sùng phụng
như xưa”.
Lời bàn:Một
nhà, anh em, cha con cùng dốc chí dựng nền tự chủ nhưng rốt cuộc, người có tên
tuổi bất diệt với ngàn đời thì chỉ là Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng mà thôi.
Phùng Hãi có gan đi theo kẻ mạnh để chống kẻ mạnh mà chưa có gan tự mình chống
lại kẻ mạnh. Bóng ông mờ nhạt trong sử sách, ấy cũng là lẽ tự nhiên.
Bồ
Phá Cần xử sự quả là xa lạ với lẽ thường. Gạt Phùng Hãi đã có chút từng trải để
đưa Phùng An còn non nớt lên thay, bản tâm của Bồ Phá Cần phải chăng là mong
mỏi kẻ ở ngôi cao phải yếu kém để mình dễ bề thao túng? Việc làm ấy, nếp nghĩ
ấy, lợi cho riêng mình một đời nhưng lại hại cho xã tắc một thuở, giận thay!
Phùng
An cùng Bồ Phá Cần đi đánh Phùng Hãi, cái thu được chẳng đủ bù cho cái mất đi,
mà cái mất đi nào phải chỉ có con người và của cải? Xót xa hơn cả vẫn là thế
nước mà cha đã dựng lên, là đạo lý mà tổ tiên để lại, mất hai thứ đó cũng có
nghĩa là mất tất cả đó thôi.
Hẳn
nhiên, không ai quyết rằng Ngô Quyền thắng trận Bạch Đằng là nhờ oai linh của
Bố Cái Đại Vương giúp sức, nhưng, Ngô Quyền cũng như bao vị dũng tướng ngàn xưa
ra trận, vẫn luôn tin rằng thần linh sông núi luôn luôn sát cánh với mình, và
ai dám bảo rằng, niềm tin ấy không phải là một phần rất quan trọng của sức
mạnh?
Phùng
Hưng,sinh vi tướng, tử vi thần, dẫu bạn hoàn toàn là người vô
thần,cũng xin bạn hãy thành kính thắp nén hương để tưởng nhớ, bởi vì chính nhờ
có những con người phi thường ấy, chính nhờ niềm tin vào linh khí của những con
người ấy, bạn mới có thể thanh thản mà nói một cách tự nhiên rằng: ta là người
vô thần.
22 - TÔ LỊCH ĐẠI VƯƠNG
Đất
Thăng Long xưa có con sông tên là Tô Lịch. Ven sông này lại có làng mang tên là
làng Tô Lịch. Sông Tô Lịch và cả tên làng Tô Lịch nay đều không còn nữa, nhưng
trong sử sách, con sông ấy, ngôi làng ấy lại được nhắc đến khá nhiều. Điều đáng
nói là tên sông và tên làng này lại có nguồn gốc từ tên của một con người: ông
Tô Lịch, người sống vào khoảng cuối thế kỷ thứ III đầu thế kỷ thứ IV, sau được
tôn làm thần và được phong tới hàm Quốc đô Thăng Long Thành hoàng Đại vương (vị
Đại Vương là Thành hoàng của kinh đô nước nhà là Thăng Long). SáchViệt
Điện u linh tậpchép về Tô Lịch Đại vương như sau:
“Vương
họ Tô, huý là Lịch, sinh thời từng làm quan ở Long Đỗ, tiên tổ cư ngụ ở đó đã
lâu đời, dựng làng bên bờ một con sông nhỏ. Gia đình của Vương lấy sự thanh
bạch và hòa thuận, hiếu thảo làm trọng, ba đời cùng nhân nhượng mà ở chung với
nhau, không chút riêng biệt.
Thời
nhà Tấn (đô hộ), triều đình xét những nhà có hiếu, gia đình Vương được khen.
Gặp năm mất mùa đói kém, nhà Vương sẵn lòng cho dân vay thóc, triều đình lại
ban khen, nhân đó, cho lấy hai chữ Tô Lịch làm tên làng.
Đời
vua Đường Mục Tông, niên hiệu Trường Khánh năm thứ ba (tức là năm 823), Lý
Nguyên Gia được sai sang làm quan đô hộ nước ta. Lý Nguyên Gia thấy phía Bắc
thành Thăng Long có dòng nước chạy ngược, địa thế rất xinh đẹp, bèn cắm đất xây
thành, dời phủ trị đến đó. Thành có nhiều cửa, phía trong có nhiều dinh thự.
Phủ trị này dựng trên nền nhà cũ của Vương. Lý Nguyên Gia sai giết trâu bò, mở
tiệc mời các bậc kì lão trong làng tới dự, nhân đó, hỏi chuyện về Vương, có ý
muốn thờ Vương làm Thành hoàng. Mọi người thuận theo, cùng nhau xây dựng một
ngôi đền rất tráng lệ. Lễ khánh thành được tổ chức nhộn nhịp khác thường. Đêm
hôm đó, Lý Nguyên Gia nằm nghỉ, chợt thấy có trận gió mát thổi vào, bức mành
lay động, có một người cưỡi con hươu trắng từ trên không xuống, râu tóc bạc
phơ, áo quần lịch sự, bước đến nói với Lý Nguyên Gia rằng:
-
Cám ơn sứ quân đã tôn tôi làm Thành hoàng đất này. Nhân đây, tôi xin khuyên sứ
quân rằng: nếu ngài hết lòng dạy dỗ cho dân cư trong thành thì mới là người
xứng chức và có lòng nhân chính.
Lý
Nguyên Gia chắp tay vái tạ và xin vâng rồi dò hỏi họ tên nhưng cụ già không
đáp. Lý Nguyên Gia giật mình thức giấc và mới biết đó là mộng.
Sau,
đến thời Cao Biền đắp thành Đại La, cũng nghe tiếng anh linh của Vương, bèn sắm
sửa lễ vật tới tế, tôn vương làm Đô phủ Thành hoàng Thần quân.
Vua
Lý Thái Tổ dời kinh đô ra thành Đại La, đổi gọi Đại La là Thăng Long. Nhà vua
thường nằm mơ thấy một cụ già đầu bạc, đứng trước bệ rồng mà tung hô vạn tuế.
Nhà vua gạn hỏi họ tên, Vương mới thực lòng tâu lên. Nhà vua cười nói:
-
Tôn thần muốn giữ hương khói mãi mãi hay sao?
Vương
đáp:
-
Chỉ mong thánh thọ bền lâu, cơ đồ vững chắc, trong ngoài yên vui. Đó chính là
hương khói đời đời rồi vậy.
Vua
tỉnh dậy, sai quan đến tế, phong Vương làm Quốc đô Thăng Long Thành hoàng Đại
vương. Từ đó, dân cư trong vùng đến cầu đảo hoặc thề nguyền, hết thảy đều linh
ứng. Năm Trùng Hưng thứ nhất (tức năm 1285), nhà vua (Trần Nhân Tông) gia phong
hai chữ Bảo Quốc, đến năm Trùng Hưng thứ tư (tức là năm 1288), gia phong hai
chữ Hiển Linh và sau, đến năm Hưng Long thứ hai mươi mốt (tức năm 1313), vua
(Trần Anh Tông) lại gia phong thêm hai chữ Định Bang nữa”.
Lời bàn:Trong trường hợp đại
loại như thế này, hiểu được lai lịch tên làng và tên sông, không phải chỉ đơn
giản là hiểu thêm được một tên gọi thân thương nào đó. Tên sông và tên làng ấy
là biểu tượng của lòng nhân ái và nghĩa khí ở đời, kính cẩn tôn thờ là chí
phải.
Tiếng
nói nửa như nhắc nhở, nửa như cảnh cáo của cụ già trong giấc mơ của Lý Nguyên
Gia, nào có khác gì tiếng nói của trăm họ bị trị đương thời? Sau Lý Nguyên Gia,
đến cả những quan đô hộ khét tiếng như Cao Biền cũng phải sắm sửa lễ vật và
thân hành tới tế. Hư thực ra sao khoan bàn, chỉ biết dân mong như vậy và... bắt
chuyện này phải kể như vậy.
Các
vị đế vương của nước nhà thời độc lập và tự chủ, nối nhau tôn vinh và gia phong
cho thần Tô Lịch, ấy cũng là sự thường.